Phần I : Mở đầu.
ổn định tiền tệ, tăng trởng kinh tế, tạo công ăn việc làm . luôn là mục
tiêu của bất kỳ quốc gia nào (dù là nớc đã đang hay kếm phát triển). Để đạt
đợc mục tiêu đó, mỗi quốc gia phải thực hiện các chính sách kinh tế Vĩ mô
phù hợp với hoàn cảnh của mình- đặc biệt là chính sách tiền tệ.
Việt Nam cũng vậy, sau hơn 10 năm chuyển từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết
của nhà nớc, cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa hợp tác quốc tế và
chính sách tiền tệ một cách đúng đắn đã đạt đợc những kết quả đáng khích lệ
(nh giải quyết đợc nhiều công ăn việc làm , giữ cho đồng tiền ổn định, kiềm
chế đợc lạm phát, nền kinh tế luôn tăng trởng ở mức cao). Đồng thời với sự
chuyển đổi từ hệ thống Ngân hàng một cấp sang hệ thống Ngân hàng hai cấp
(23/5/1990) Ngân hàng trung ơng cũng có sự thay đổi về cách thức tổ chức
và phơng thức hoạt động để phát huy tốt chức năng, vai trò của mình nhằm
đạt đợc các mục tiêu, đa nền kinh tể phát triển đúng hớng trong điều kiện
mới.
Để điều hành tốt chính sách tiền tệ thì việc lựa chọn và sử dụng các
công cụ của chính sách tiền tệ là rất quan trọng. Đó là quá trình diên ra trong
nhiều năm và tuỳ vào điều kiện của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ mà phải sửa
đổi, thay đổi hay loại bỏ. ở nớc ta những năm đầu thập niên 90 Ngân hàng
trung ơng đã sử dụng những công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ và đạt đ-
ợc một số kết quả khả quan. Nhng vào cuối những năm 90 đầu năm 2000 khi
mà tốc độ hội nhập quốc tế khu vực và quốc tế nhanh hơn , những cuộc
khủng hoảng tài chính kinh tế diễn ra liên tiếp, cạnh tranh giữa các nớc tăng
thì các công cụ này đã bộc lộ những hạn chế. Vì vậy, Ngân hàng nhà nớc đã
chuyển sang sử dụng công cụ gián tiếp, một hớng đi đúng đắn phù hợp với
điều kiện khách quan và quy luật phát triển. Tuy hạn chế đựoc những nhợc
điểm của công cụ trợc tiếp và bớc đầu đạt đợc kết quả nhng bên cạnh đó còn
1
có những bất cập cần phải điều chỉnh để sử dụng linh hoạt hơn. Từ việc nhận
sử dụng các công cụ của mình, để điều tiết và kiểm soát khối lợng tiền
trong lu thông, nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy
sự tăng trởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm.
Ngân hàng trung ơng (NHTW) thực hiên chính sách tiền tệ (CSTT),
là quá trình NHTW kiểm soát tiền tệ, sao cho khối lợng tiền tệ cân đối với
mức tăng trởng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa, cân đói giữa tổng
cung và cầu về tiền tệ. Một CSTT đúng đắn phải hớng vào việc kiểm soát
nguồn gốc, làm tăng hoặc giảm lợng tiền cung ứng trong nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hoạt động, của
bất cứ NHTW của nớc nào. Một CSTT phù hợp với tình hình kinh tế, chính
trị, xã hội của mỗi nớc sẽ giúp quốc gia đó nhanh chóng đi vào ổn định và
tạo đà đi lên, trên con đờng phát triển. Khi nền kinh tế có dấu hiệu suy
thoái NHTW sẽ quyết định CSTT theo hớng mở rộng cung ứng tiền tệ, để
tạo điều kiện khuyến khích đầu t, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm,
khi nền kinh tế co dấu hiệu lạm phát cao, NHTW phải vận dụng CSTT,
theo hớng thu hẹp lợng tiền cung ứng, hạn chế đầu t, hạn chế sự phát triển
quá đà của nền kinh tế.
1.1.2 Mục tiêu của CSTT
CSTT một mặt cung cấp phơng tiện thanh toán cho nền kinh tế, mặt
khác phải giữ ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần thúc đẩy tăng trởng
3
kinh tế, vì thế mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ luôn nhất quán với
các chính sách kinh tế vĩ mô.
1.1.2.1 ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát.
Trong điều kiện lu thông tiền giáy không tự do chuyển đổi ra vàng,
lạm phát luôn là khả năng tiềm ẩn, thậm trí khó tránh khỏi ở các nớc. Vi
vậy việc ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của CSTT và là mục tiêu dài
hạn..
Thông qua CSTT, NHTW có thể góp phần quan trọng kiểm soát lạm
quả lớn đến nền kinh tế, phân phối lại không dân chủ các nguồn lực kinh
tế, xã hội trong nhóm dân c. Vì vậy NHTW phải góp phần thúc đảy nền
kinh tế tăng trởng liên tục và ổn định, triệt tiêu những nhân tố làm tăng cầu
giả tạo hoặc đẩy chi phí lên cao. Trong cuộc đấu tranh này lãi suất và cung
ứng tiền tệ là hai vũ khí lợi hại nhất.
Tuy nhiên kinh nghiệm một số nớc cho thấy một tỉ lệ lạm phát vừa đủ
thờng là một con số, là cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội song phải
chống lại lạm phát phi mã.
1.1.2.2 Tạo việc làm.
Việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân nói riêng và các
nớc nói chung. Có việc làm, có thu nhập sẽ làm tăng mức sống của mỗi
ngời, mỗi quốc gia sẽ giàu mạnh. Nhng nếu tỉ lệ thất nghiệp cao, nó không
những ảnh hởng đến nền kinh tế mà còn ảnh hởng đến xã hội do Nhàn c
vi bất thiện. Nhiều tội ác tăng lên, thất nghiệp làm tăng lãng phí các
nguồn lực: những ngời lao động ngồi không tăng, nhà máy không sản
xuất, tổng sản phẩm quốc dân giảm.
Nh vậy việc làm là điều ai cũng mong muốn. Thông qua CSTT,
NHTW có biện pháp tăng việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiêp. Nếu chính
CSTT của NHTW nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ, tạo điều kiện đầu t sản
xuất, các doanh nghiệp và nền kinh tế cần nhiều lao động hơn, vậy tỉ lệ
thất nghiệp thấp. Ngợc lại nếu CSTT nhằm giảm cung ứng tiền tệ, các
doanh nghiệp & nhà nớc cần ít lao động dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp tăng.
5
Tuy nhiên đảm bảo việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỉ lệ thất
nghiệp bằng không mà ở mức tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên.
Nhìn chung, việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm chủ yếu phụ thuộc
vào tình hình tăng trởng kinh tế. Tuy nhiên khi tăng trởng kinh tế đạt đợc
do kết quả của cải tiến kỹ thuật việc làm có xu hớng giảm, dẫn đến
thất nghiệp tăng. Do đó cần phải chấp nhận thực tế thất nghiệp là căn
rỗi trong nớc và vay nớc ngoài để đạt đợc mục tiêu tăng trởng kinh tế hàng
năm 9-10 %.
1.1.2.4. Mối quan hệ giữa các mục tiêu.
Trong dài hạn đờng cong Philíp trở lên thẳng đứng ngụ ý rằng các
mục tiêu của chính sách tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và
thúc đẩy nhau. Điều này cho thấy rằng trong quá trình thực thi chính sách
tiền tệ không thể tuyệt đối hoá mục tiêu nào, không thể giải quyết các mục
tiêu độc lập. Tuy nhiên trong ngắn hạn hình dạng của đờng cong Philíp thể
hiện sẽ mâu thuẫn giữa ổn định giá cả, tăng trởng và thất nghiệp:
Việc giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với việc thực hiện một chính
sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất tăng, làm giảm các nhân tố cấu thành tổng
cầu do đó ảnh hởng đến tổng cầu của nền kinh tế. Vì thế thất nghiệp có xu
hóng tăng lên. Mặt khác, việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp thờng kéo
theo chính sách tiền tệ mở rộng và sự tăng giá.
Bằng việc hạ giá đồng bản tệ các nghành công nghiệp xuất khẩu có
khả năng mở rộng. Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm kèm theo sự tăng lên của
mức giá chung. Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về
cách xử lí mâu thuẫn trên:
Có quan điểm cho rằng, cần chấp nhận một tỉ lệ lạm phát vừa phải, tức
là lạm phát ở mức một con số để đạt đợc mức độ tăng trởng vừa phải và
một tỉ lệ thất nghiệp có thể chấp nhận đợc. Trong khi đó một số nhà kinh
tế học cho rằng cần phải đa mục tiêu chống lạm phát lên hàng đầu.
Riêng đối với NHTW thì trong ngắn hạn NHTW không thể đạt đợc tất
cả mục tiêu trên. Phần lớn NHTW các nớcc có sự ổn định giá cả là mục
7
tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ. Nhng trong ngắn hạn, đôi
khi họ phải từ bỏ mục tiêu chủ yếu để khắc phục tình trạng thất nghiệp
cao, đột ngột hoặc các ảnh hởng của các cú sốc cung đối với sản lợng.
NHTW đợc coi là có quyền lực làm việc này vì nó nắm trong tay các công
thay đổi trong cơ số tiền tệ và là nguồn chính gây lên những biến động
trong cung ứng tiền tệ.
Có hai loại nghiệp vụ thị trờng mở, là nghiệp vụ thị trờng mở chủ
động, nhằm thay đổi mức dự trữ cơ số tiền và nghiệp vụ thị trờng mở thụ
động nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố khác, đã làm ảnh h-
ởng đến cở số tiền tệ. Nghiệp vụ thị trờng mở có u điểm là:
Nghiệp vụ thị trờng mở linh động, chính xác có thể sử dụng ở bất kỳ
mức độ nào.
NHTW dễ dàng đảo ngợc đợc tình thế của mình. Khi có một sai lầm
xảy ra khi tiến hành nghiệp vụ thị trờng mở, NHTW có thể lập tức đảo ng-
ợc việc sử dụng công cụ đó. Nếu NHTW thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng
quá nhanh do mua quá nhiều chứng khoán trên thị trờng mở, thì lập tức nó
có thể chữa ngay bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán.
Nghiệp vụ thị trờng mở có thể đợc hoàn thành nhanh chóng không gây
những chậm trễ về mặt hành chính. Khi NHTW muốn thay đổi cơ số tiền
tệ hoặc dự trữ, nó chỉ việc ra lệnh cho ngời kinh doanh chứng khoán và
việc mua bán đợc thực hiện ngay tức khắc .
NHTW có thể kiểm soát đợc hoàn toàn lợng nghiệp vụ thị trờng tự do.
Bên cạnh đó công cụ này có một số nhợc điểm là đòi hỏi quốc gia đó
phải có thị trờng chứng khoán phát triển và chỉ có thể áp dụng trong điều
kiện mà hầu hết tiền trong lu thông đều nằm ở tài khoản của ngân hàng.
1.1.3.2. Chính sách chiết khấu.
Là công cụ của NHTW trong việc thi hành chính sách tiền tệ bằng
cách cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh (NHKD). Khi
NHTW cho vay các NHKD làm tăng thêm tiền dự trữ cho hệ thống ngân
hàng, từ đó tăng thêm lợng tiền cung ứng.
9
Thông qua lãi suất chiết khấu, NHTW có thể khuyến khích giảm
hoặc tăng mức cung ứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế, đồng
Bản thân các NHTM đem thơng phiếu để tái chiết khấu phải là những
thơng phiếu tốt.
Ưu điểm của biện pháp này là các khoản cho vay của NHTM đợc
thực hiện trên cơ sở các giấy tờ có giá. Do đó, nó có khả năng thanh toán
cao.
Nhợc điểm của biện pháp này là NHTW bị thụ động trong việc điều
tiết lợng tiền cung ứng. Bơỉ vì NHTW chỉ có thể thay đổi lãi suất chiết
khấu nhng không thể bắt buộc các NHTM vay chiết khấu ở NHTW.
1.1.3.3. Dự trữ bắt buộc.
Ngân hàng TW đợc giao quyền bắt buộc các NHTM phải kí gửi tại
NHTW một phần trong tổng số tiền gửi mà NHTM nhận từ dân c và các
thành phần kinh tế theo tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ phần trăm mà NHTW
qui định nh trên gọi là tỉ lệ dự trữ bắt buộc. NHTW sử dụng dự trữ bắt
buộc tác động đến lợng tiền cung ứng trên hai phơng diện.
Tỉ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tạo tiền của NHTM.
Theo thuyết tao tiền, từ lợng tiền ban đầu NHTM có thể tạo ra lợng tiền
lớn gấp nhiều lần.
Ta có công thức:
Tiền gửi mới đợc tạo ra = Tiền dự trữ ban đầu*(1/ tỉ lệ dự trữ bắt buộc)
(1/ tỉ lệ dự trữ bắt buộc) : là hệ số nhân tiền tệ.
Với các giả thiết:
Các NHTM không có tiền dự trữ d thừa so với tỉ lệ dự trữ bắt buộc mà
NHTW yêu cầu.
Các khoản tiền gửi do các NHTM tạo ra đều đợc giữ lại trong hệ thống
ngân hàng.
11
Vậy việc tăng hoặc giảm lợng dự trữ bắt buộc có ảnh hởng rất lớn đến
lợng tiền đợc tạo ra. Ti lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của
mức dự trữ bắt buộc một cách uyển chuyển hơn bằng cách phân biệt mức
dự trữ bắt buộc. Chẳng hạn do tính chất thanh khoản của mỗi loại tiền gửi,
NHTW có thể qui định tỷ lệ dự trữ bắt buộc của tiền gửi không kỳ hạn cao
hơn tỉ lệ dự trữ bắt buộc của tiền gửi có kỳ hạn.
Điểm lợi chính của việc sử dụng dự trữ bắt buộc là nó có thể tác động
tới tất cả các ngân hàng nh nhau và có tác dụng đầy quyền lực đến cung
ứng tiền tệ. Nhng hạn chế của nó là sự thay đổi nhỏ tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ
tạo ra một sự thay đổi lớn của lợng tiền cung ứng và nó có thể tạo ra một
cú sốc với nền kinh tế.
Khi bị lỡ tay trong việc qui định tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì NHTW
không kịp bổ sung.
Đặc biệt với những nớc có lợng tiền mặt lớn trong lu thông nh ở Việt
Nam thì tỉ lệ dự trữ bắt buộc cha có tác động mạnh đến lợng tiền cung ứng.
Biện pháp thay đổi dự trữ bắt buộc cần phải thực hiên một cách thận
trọng và muốn có hiệu quả phải đi kèm với các biện pháp khác, cần phải
có nhà hoạch định chính sách có khả năng.
CHƯƠNG 2.
Thực trạng của việc sử dụng các công cụ chính
Sách tiền tệ của NHNN Việt nam,trong thập kỷ 90
và những năm đầu thế kỷ 21
2.1. Thực trạng của việc sử dụng các công cụ chính
sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nớc việt nam
Từ những năm 1976 đến 1985 hệ thống Ngân hàng Việt Nam
(NHVN) đã tập trung vào việc xây dựng một hệ thống ngân hàng XHCN
thống nhất trong cả nớc, củng cố tiền tệ, đẩy mạnh hoạt động tín dụng
phục vụ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Đồng thời hệ thống ngân hàng
Việt Nam đã mở rộng quan hệ với các ngân hàng trong khối XHCN và các
nớc khác.
13
14