Ảnh hưởng của việc bón phân hữu cơ lên năng suất và tính chất vật lý của đất trồng dưa hấu, dưa lê ở phường Long Tuyền- quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ - Pdf 20

TÓM LƯỢC
Rau mang lại giá trị dinh dưỡng cao trong đời sống của con người. Đồng thời
cung cấp nhiều khoáng chất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Nó là thức ăn không
thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con người. Tuy rau có thời gian sinh trưởng
ngắn nhưng nó đòi hỏi phải cung cấp lượng phân rất lớn. Do đó để tăng năng suất rau
thì con người đã sử dụng nhiều loại phân hoá học và phun thuốc bảo vệ thực vật làm
làm ảnh hưởng đến tính chất của đất về mặt lý hóa và sinh học đất. Điều này dẫn đến
hậu quả đất trở nên nén dẽ, mất cấu trúc, ẩm độ trong đất giảm, mật số vi sinh vật có hại
gia tăng, ảnh hưởng đến quá trình khoáng hóa chất hữu cơ, khoáng hoá đạm, làm cho
đất ngày trở nên bạc màu. Để giúp cải thiện tính chất của đất nêu trên ta dùng phân hữu
cơ bón cho rau là tốt nhất, chẳng những làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, tính đệm của
đất tăng, giàu chất hữu cơ mà còn tăng năng suất cho cây rau. Đề tài “Ảnh hưởng của
việc bón phân hữu cơ lên năng suất và tính chất vật lý của đất trồng dưa hấu, dưa lê ở
phường Long Tuyền- quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ” nhằm nghiên cứu ảnh
hưởng của phân hữu cơ lên tính chất vật lý của đất và nghiên cứu ảnh hưởng phân hữu
cơ lên năng suất rau.
Đề tài được thực hiện trên hai thí nghiệm dưa hấu và dưa lê trên hai vụ. Kết quả
cho thấy đất phù sa ở đây có chất hữu cơ thuộc loại nghèo 2%, pH đất trong khoảng 5,5
-5,6 đạt gần mức tối hảo. Các tính chất vật lý như dung trọng đất biến thiên trong
khoảng 0,89-1,13 g/cm
3
, dung trọng của đất bón hữu cơ thấp hơn so với dung trọng của
đất không bón hữu cơ. Độ xốp của đất khi bón hữu cơ khác biệt có ý nghĩa thống kê so
với nghiệm thức không bón hữu cơ. Đối với chỉ tiêu tính bền cho thấy bón hữu cơ đất
có cấu trúc hơn, bền hơn so với không bón hữu cơ. Khi bón phân hữu cơ cho dưa hấu và
dưa lê cũng cho thấy năng suất rau tăng lên rõ rệt như năng suất dưa hấu có bón hữu cơ
là 33,48 tấn/ha so với năng suất dưa hấu không bón hữu cơ là 27,18 tấn/ha. Năng suất
dưa lê nghiệm thức có bón hữu cơ là 26,70 tấn/ha so với năng suất nghiệm thức dưa lê
không bón hữu cơ đạt 24,29 tấn/ha. Vì vậy, nên tiếp tục sử dụng phân hữu cơ để bón
cho rau theo hướng lâu dài để khắc phục những đặc tính bất lợi của đất.
MỞ ĐẦU

Phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long.
Phía tây giáp huyện Phong Điền.
Phía nam giáp quận Ninh Kiều.
Phía bắc giáp quận ÔMôn.
Diện tích quận Bình Thuỷ thành phố Cần Thơ là khoảng 6877 ha.
Khí hậu và thời tiết
Khí hậu ở Bình Thuỷ là khí hậu nhiệt đới với 2 mùa rõ ràng: mùa mưa (tháng 5
đến tháng 11) và mùa khô(tháng 12 đến tháng 4 năm sau)
Khí hậu điều hoà, ít bão. Khí hậu quanh năm nóng ẩm không có mùa lạnh
Đất đai
Đất ở đây chủ yếu là đất phù sa do sông Hậu và sông Cần Thơ bồi đắp rất thuận
lợi cho nghề trồng rau phát triển.
Hình 1.1 Bản đồ hành chính Thành Phố Cần Thơ
I.1.2 Các yếu tố kinh xã hội
Nhìn chung đời sống của người dân nơi đây chủ yếu là dựa vào canh tác nông
nghiệp, đời sống còn nhiều khó khăn, công nghiệp chưa phát triển, về dịch vụ cũng
tương đối phát triển nhưng tập trung ở thị trấn.
I.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÂY RAU, ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÀ KỸ
THUẬT LÀM ĐẤT TRỒNG RAU
I.2.1 Tầm quan trọng của cây rau đối với nền kinh tế và xã hội
I.2.1.1 Giá trị dinh dưỡng
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết cho mọi ngưòi trong cuộc sống hằng ngày.
Cây rau cung cấp rất nhiều chất dinh dưõng quan trọng cho sự phát triển của cơ thể con
người: protein, lipit, vitamin, muối khoáng, và nhiều chất quan trọng khác. Về vai trò
của vitamin trong sự phát triển của cơ thể con người đã được Ch.Eijkman người Hà Lan
và S.F.G. Hopkins người Anh phát hiện từ năm 1929.
Vitamin có tác dụng to lớn trong quá trình phát triển của cơ thể, thiếu vitamin
chúng ta sẽ bị nhiễm nhiều bệnh tật. Thí dụ thiếu vitamin A làm cho cơ thể trẻ em chậm
lớn, giảm thị lực, mắt mờ và giảm khả năng miễn dịch. Vitamin A thường có trong rau
có màu đỏ và vàng da cam như: cà rốt, cà chua, ớt, cà chua, bí ngô.. Chất khoáng trong

I.2.1.4 Giá trị xã hội
Khi ngành sản xuất rau được phát triển một cách nhanh chóng và vững chắc sẽ
góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của
người tiêu dùng.
Khi sản xuất rau được coi là một nghề, những khu chuyên canh rau được mở
rộng sẽ có điều kiện để sắp xếp lao động một cách hợp, giải quyết việc làm cho nông
dân trong những lúc nông nhàn.
Phát triển ngành sản xuất rau còn có điều kiện để hỗ trợ đối với các ngành khác
trong nông nghiệp như cung cấp thức ăn và chất xanh cho chăn nuôi.
Thời kỳ 1991-1997 sản lượng rau tăng từ 3,2 triệu tấn lên 4,7 triệu tấn. Tuy vậy
vẫn chưa đáp được định mức tiêu dùng, hiện nay bình quân đầu người mới chỉ đạt 62-
65kg/năm (Tạ Thu Cúc, 2005).
I.2.2 Đặc điểm chung của ngành sản xuất rau:
Sản xuất rau là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nhưng nó
mang những đặc thù riêng.
Ngành sản xuất rau có những đặc điểm cần chú ý sau:
I.2.2.1 Thời kỳ vườn ươm
Đặc điểm nổi bật của nghề trồng rau là hầu hết hạt giống rau đều phải được gieo
ươm trước khi đưa ra ruộng sản xuất đại trà.
Ngoài kỹ thuật gieo truyền thống ̣̣̣̣̣̣gieo ngoài đồng̣, hiện nay còn nhiều cách gieo
ươm khác cũng mang lại hiệu quả cao như: gieo trong bầu, gieo trong khay, gieo trong
nhà lưới..ở thời kì này chúng ta phải chăm sóc cho cẩn thận, tỷ mỉ ( Đường Hồng Dật,
2000).
I.2.2.2 Yêu cầu thời vụ nghiêm ngặt, chặt chẽ
Rau là loại cây trồng rất mẫn cảm với điều kiện thời tiết như: nhiệt độ, độ ẩm,
ánh sáng, yêu cầu thời vụ rất nghiêm ngặt. Thời vụ không thích hợp làm giảm năng suất
và chất lượng. Về nguyên tắc cần bố trí sắp xếp thời vụ sao cho thời kỳ hình thành bộ
phận sử dụng gặp được nhiều thuận lợi nhất (Tạ Thu Cúc, 2005).
I.2.2.3 Nhiều sâu bệnh
Rau là loại cây trồng chứa nhiều chất dinh dưỡng phong phú, thân lá non mềm,

dại, tưới nước...
• Kỹ thuật chăm sóc đặc biệt: làm giàn, bấm ngọn, tỉa cành, tỉa hoa...
• Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cao: máy phun mưa, nhà lưới...
• Áp dụng công nghệ cao vào sản xuất rau như: trồng không đất và thủy
canh (Tạ Thu Cúc, 2005).
I.2.2.6 Rau là ngành sản xuất hàng hóa:
Đặc điểm của hầu hết các loại rau là có hàm lượng nước trong thân lá cao, non,
giòn, dễ bị giập gãy. Vì vậy từ các khâu: trồng tỉa, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển,
phân phối đến tận tay người tiêu dùng cần phải được thực hiện theo dây chuyền sản xuất
hàng hóa. Trong quá trình chăm sóc, thu hái phải hết sức cẩn thận, tỷ mỷ và nhẹ nhàng
(Tạ Thu Cúc, 2005).
I.2.3 Đất trồng rau
Rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, chứa rất nhiều chất dinh
dưỡng phong phú, có thể trồng nhiều vụ trong năm...Vì vậy cây rau yêu cầu đất rất
nghiêm khắc. Đất trồng rau phải giữ nước, giữ phân tốt, phải nhẹ, tơi xốp, giàu chất
dinh dưỡng, độ pH trung tính, không bị nhiễm chất độc hại (Tạ Thu Cúc,2005).
Tầng đất canh tác dày từ 20 – 40 cm, mặt đất bằng phẳng, hoặc hơi thoai thoải về
một phía.Các loại đất quan trọng cho sản xuất rau là: đất thịt pha cát, đất thịt nhẹ, đất
thịt mịn, đất thịt pha sét và đất phù sa ven sông. Đất trồng rau cần bảo đảm thành phần
cát khoảng 50 – 60 %, sét khoảng 25 – 40 % (Tạ Thu Cúc, 2005).
Theo Tạ Thu Cúc, 2005 khi quy hoạch vùng sản xuất rau cần quan tâm lý tính và
hóa tính của đất. Đất trồng rau cần bảo đảm tỷ lệ thích hợp giữa các chất rắn, lỏng, khí.
Mặt khác, khi quy hoạch vùng sản xuất rau cần phải nghiên cứu điều kiện thời tiết khí
hậu. Diện tích canh tác lớn hay nhỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: dân cư nhiều hay ít, thị
hiếu người tiêu dùng, điều kiện tự nhiên, tiêu chuẩn rau của mỗi người/ngày, trình độ
sản xuất rau, nhiều yếu tố ngoại cảnh.
Vùng sản xuất rau phải thuận tiện vận chuyển cho nội vùng, ngoại vùng hoặc
xuất khẩu. Canh tác rau cần nguồn nước lớn, 1 ha rau cần khoảng 4500 – 6000 m
3
nước.

lý, đất nén chặt, độ trương nở kém, kết cấu không vững chắc, không tơi xốp vì vi sinh
vật bị hoá chất tiêu diệt (Hồng Hưng, 2000).
I.3.3 Ảnh hưởng của thâm canh rau đến tính chất vật lý và hoá học đất
I.3.3.1 Vật lý đất
Sự nén dẽ của đất
Tình trạng canh tác liên tục, lâu năm có sự thay đổi theo hướng bất lợi về độ
phì nhiêu và vật lý đất, trong đó sự nén dẽ của đất trồng rau là yếu tố quan trọng tới độ
phì nhiêu về mặt hóa học và sinh học đất (Võ Thị Gương, 2004) . Đất bị nén dẽ làm
giảm khả năng thấm nước của đất và ảnh hưởng quan trọng đến sự tăng trưởng của bộ
rễ. Mặt khác, sự nén dẽ cũng làm mất cân đối về thành phần rắn, khí và nước trong các
khí khổng đất, hoạt động của vi sinh vật kém. Sự nén dẽ làm thay đổi một số đặc tính
vật lý đất như dung trọng đất, độ chặt, độ xốp, khả năng thấm của đất. Những thay đổi
này làm ảnh hưởng đến sự di chuyển của nước và không khí trong đất, làm tăng sự chảy
tràn nước trên bề mặt đất dẫn đến khả năng dự trữ nước trong đất giảm. Bên cạnh đó, sự
thiếu không khí trong đất nhất là oxi do đất bị nén dẽ đưa đến sự thay đổi về phản ứng
hóa học đất tạo ra những sản phẩm không hữu dụng cho cây trồng làm giảm pH đất , tạo
ra những acid hữu cơ và tạo ra một số hợp chất không hữu dụng cho cây trồng. Khi tế
khổng trong đất giảm do nén dẽ thì sự vận chuyển nước bị hạn chế. Nếu nước được
cung cấp nhanh hơn tốc độ thấm thì gây ra hiện tượng chảy tràn, dẫn đến xói mòn đất,
dinh dưỡng cho cây trồng cũng bị cuốn trôi (Hammel, 1994; Unger and Kaspar, 1994).
Dung trọng và độ xốp
Dung trọng khô và độ xốp là các thông số vật lý đất thường được áp dụng để
đánh giá sự nén dẽ của đất, khả năng giử nước và điều kiện phát triển của rễ cây trồng
(Lê Văn Khoa, 2003). Dung trọng phụ thuộc vào thành phần khoáng, thành phần cơ
giới, hàm lượng chất hữu cơ, cấu trúc, kỷ thuật làm đất. Khi dung trọng thấp sẽ có lợi
cho quá trình hấp thu dinh dưỡng chất của cây trồng (Nguyễn Thế Đặng, 1999). Tuy
nhiên, khi dung trọng của đất cao, tế khổng trong đất giảm sẽ hạn chế sự phát triển của
hệ rễ cây trồng, giới hạn khả năng hấp thu dinh dưỡng, hấp thu nước và cuối cùng là
năng suất cây trồng giảm (Võ Thị Gương, 2004). Mặt khác, đất có độ xốp thấp tạo ra sự
cản trở lớn cho sự phát triển của bộ rễ, khi đó sẽ làm giảm tiến trình hấp thu dưỡng chất

Là một tính chất quan trọng, ảnh hưởng đến các tính chất lý, hóa, sinh học đất.
Qua giá trị pH ta có thể biết được lượng vôi cần bón, khả năng dư thừa gây độc của các
ion, hoạt động của vi sinh vật và liên quan đến độ hữu hiệu của tất cả các dinh dưỡng
khoáng (Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2000). Theo Trần Thị Ba, 1999 pH thích hợp cho
rau phát triển từ 5,5-7, ở pH này thì cây hấp thu chất dinh dưỡng dễ dàng và các sinh vật
đất cũng hoạt động tốt. Khi pH thấp từ 4,5-5, muốn trồng rau thì phải bón thêm vôi. Ở
pH này sự khoáng hóa N kém, P hữu dụng, Ca và Mg thấp, các vi sinh vật gây hại hoạt
động tốt hơn. Các yếu tố này đưa đến khả năng chống chịu những điều kiện bất lợi của
đất kém, cây yếu, dễ bị sâu bệnh tấn công (Võ Thị Gương, 2004).
Bảng 3 Thang đánh giá độ chua hiện tại cho đất trồng màu (Washington
University – tree Fruit research & Extention center, 2001)
pH
H2O
Độ chua của đất
<5.0 Thấp (low)
16.0-7.5 Tối hảo (optimal)
>7.5 Cao (high)
I.4 PHÂN HỮU CƠ VÀ VAI TRÒ TÁC DỤNG CỦA PHÂN HỮU CƠ
I.4.1 Phân hữu cơ
I.4.2 Khái niệm chất hữu cơ và sự khoáng hoá chất hữu cơ
Chất hữu cơ là một thành phần cơ bản kết hợp với các sản phẩm phong phú từ đá
mẹ để tạo thành đất. Chất hữu cơ là một đặc trưng để phân biệt đất với đá mẹ và là
nguồn nguyên liệu để tạo nên độ phì của đất. Số lượng và tính chất của chất hữu cơ
quyết định đến nhiều tính chất hóa lý và sinh học của đất (Nguyễn Thế Đặng, 1999).
Chất hữu cơ là bộ phận của đất có thành phần phức tạp và có thể chia làm hai
phần: Chất hữu cơ chưa bị phân giải và những tàn tích hữu cơ như: thân, rễ, lá thực vật,
xác động vật, xác vi sinh vật. Phần thứ hai là những chất hữu cơ đã phân giải. Trong
phần chất hữu cơ đã phân giải này chia làm hai nhóm:
+ Nhóm những hợp chất hữu cơ ngoài mùn.
+ Nhóm những hợp chất mùn.

2
S…(Lê Huy Bá, 2000).
Xác hữu cơ
Mùn hoá khoáng hoá nhanh
Khoáng hóa từ từ
Các hợp chất mùn Các hợp chất khoáng
Hình 1.2 Sự chuyển hóa chất hữu cơ trong đất( Dương Minh Viễn, 2003)
I.4.2.1 Nguồn gốc chất hữu cơ
Nguồn gốc nguyên thủy của chất hữu cơ trong đất là mô thực vật: thân, rễ, lá cây
sau khi chết đi sẽ bị mục nát, hoa màu sau khi thu hoạch thì phần còn lại như: Lá hay rễ
cũng bị phân hủy để cung cấp chất hữu cơ cho đất. Ngoài ra động vật cũng là nguồn
cung cấp chất hữu cơ cho đất. Chất hữu cơ được bổ sung vào đất từ các nguồn sau đây:
Xác sinh vật (còn gọi là tàn tích sinh vật): Đây là nguồn hữu cơ chủ yếu. Sinh vật
đã lấy thức ăn từ đất để tạo nên cơ thể chúng và khi chết đi để lại những tàn tích hữu cơ
cho đất. Trong xác sinh vật có đến 4/5 là từ thực vật. Tính trung bình hàng năm đất
được bổ sung từ thực vật 5-18 tấn thân, rễ và lá trên ha (Nguyễn Thế Đặng, 1999).
Ngoài thực vật thì xác vi sinh vật và động vật đất đã cung cấp chất hữu cơ một phần hết
sức đáng kể, mặc dù khối lượng không lớn nhưng có chất lượng tốt.
Phân hữu cơ đối với đất đang canh tác thì lượng chất hữu cơ do con người bón
vào đất là nguồn hữu cơ đáng kể. Những nơi thâm canh cao người ta có thể bón tới 80
tấn hữu cơ trên ha. Nguồn phân hữu cơ bao gồm: phân chuồng, phân xanh, phân rơm
rác, bùn ao,… tùy thuộc vào loại phân hữu cơ khác nhau mà chất lượng khác nhau (Ngô
Ngọc Hưng, 2004).
Phân hữu cơ là loại phân bón được loài người sử dụng đầu tiên, từ gần 3000 năm
trước đây ở Trung Quốc (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2002).
I.4.2.2 Phân hữu cơ
Phân hữu cơ là tên gọi chung cho các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu
cơ như dư thừa thực vật, phân chuồng, phân xanh, chất thải thực vật, các phế phẩm
nông nghiệp vùi trực tiếp vào đất hay ủ thành phân. Sau khi phân giải có khả năng cung
cấp dinh dưỡng cho cây. Quan trọng hơn nữa là có khả năng tái tạo lớn. Đây là nguồn

chất hữu cơ và mùn trong đất mà phân hóa học không có được.
Bón phân hữu cơ đất ít bị rửa trôi thành đất bị bạc màu hoặc trơ cát sỏi. Chất hữu
cơ có tác dụng như keo giữ lại các hạt đất rất nhỏ. Đồng thời, nếu chất mùn trong đất
được tăng lên thì các chất dinh dưỡng do ta bón cho cây như: N, P, K,… cũng ít bị rửa
trôi hay bay hơi đi mất. Ngoài ra, đất có tính đệm nghĩa là khi bón các loại phân hóa học
hoặc vôi vào đất thì tính chất hóa học của đất như: chua, kiềm, mặn…ít tăng đột ngột
nên cây trồng ít bị thiệt hại. Bón phân hữu cơ vào các loại đất thịt nhẹ, đất xám, đất cát
làm cho đất không có cấu trúc rời rạc, nhờ đó hạn chế sự bốc hơi nước của đất và giúp
cây ít bị khô héo nhanh khi bị nắng hạn, nhưng khi gặp mưa dầm thì đất ít bị dính chặt,
dễ hút nước hơn…Ngược lại, đất thịt nặng hoặc đất sét nếu được bón nhiều phân hữu cơ
thì đất trở nên tơi xốp hơn do đó cây trồng sẽ phát triển mạnh để hút nhiều thức ăn cho
năng suất cao (Nguyễn Thanh Hùng, 1984).
Theo Vũ Hữu Yêm (1995) và Nguyễn Ngọc Nông (1999) cho rằng: Phân hữu cơ
khi bón vào đất sau khi phân giải sẽ cung cấp thêm các chất khoáng làm phong phú
thêm thành phần thức ăn cho cây và sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của
đất. Đặc biệt là các humic aicd trong phân có tác dụng khoáng hóa đạm rất tốt trong đất
(Nguyễn Bảo Vệ, 1996).
Bón phân hữu cơ sẽ cung cấp thêm các khoáng chất cho cây, phân hữu cơ làm
tăng khả năng hòa tan cho chất khoáng khó hòa tan.
Các chất hữu cơ sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi chất của đất. Đặc
tính này quan trọng đối với thành phần cơ giới nhẹ: khả năng trao đổi của mùn gấp 5 lần
khả năng trao đổi của đất sét.
Cây trồng lấy từ đất một lượng dinh dưỡng khá lớn, nhiều chất bị rửa trôi, bay
hơi (N) nên phải trả lại lượng dinh dưỡng cho đất để duy trì độ phì nhiêu của đất. Để
đáp ứng thức ăn cho cây trồng. Bón phân hữu cơ có tác dụng cung cấp cho đất gần đầy
đủ các loại dưỡng chất cần thiết: N, P, K, Ca, Mg… Và nhiều chất vi lượng khác mà
phân hóa học không có đặc điểm này ( Nguyễn Thanh Hùng, 1984).
Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004 phân hữu cơ còn cung cấp CO
2
cho sự quang

Ngoài ra, phân hữu cơ còn đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và nâng
cao độ phì nhiêu đất thoái hóa, khối lượng phân hữu cơ vùi vào đất càng lớn thì độ phì
nhiêu hồi phục càng nhanh (Lê Hồng Tịch, 1997).
Tác dụng đến đặc tính sinh học của đất
Trong quá trình phân giải, phân hữu cơ cung cấp thêm thức ăn cho vi sinh vật, cả
thức ăn khoáng và thức ăn hữu cơ, nên khi vùi phân hữu cơ vào đất tập đoàn vi sinh vật
trong đất phát triển nhanh, cả giun đất cũng phát triển mạnh.
Bón phân chuồng, phân rác vào đất còn làm phong phú thêm tập đoàn vi sinh vật
trong đất.
Một số chất có hoạt tính sinh học (phytohormone) được hình thành lại tác động
đến việc tăng trưởng và trao đổi chất của cây (Đỗ Thị Thanh Ren, 1998).
Thông qua hoạt động của vi sinh vật chất hữu cơ phân hủy biến thành mùn, mùn
có khả năng kiên kết những hạt đất phân tán làm cho đất có cấu trúc tốt, thoáng khí,
tăng độ xốp, đất dễ cày bừa, giữ phân và giữ nước tốt hơn. Khi bón phân hữu cơ một
cách có hệ thống sẽ cải thiện những tính chất lý – hóa cũng như sinh học, chế độ nước,
chế độ nhiệt của đất (Lê Văn Khoa và ctv, 1996).
Bón phân hữu cơ vào đất làm tăng dung tích hấp thụ NH
4
+
. Bón từ 6-15 tấn hữu
cơ khả năng hấp thu NH
4
+
tăng lên 15-24%, dung tích hấp thu tăng.
Bón phân hữu cơ làm tăng hiệu quả của khoáng hóa.
Khối lượng phân hữu cơ vùi vào trong đất càng nhiều thì độ phì nhiêu phục hồi
càng nhanh (Ngô Ngọc Hưng, 2004).
Chức năng vệ sinh, bảo vệ
Tăng cường phân hủy sinh học nông dược dư tồn trong đất thông qua việc kích
thích hoạt động vi sinh vật trong đất.

Khô dầu bông 4 – 6,5 2 – 3 1,5 – 2
4. Phân xanh
Muồng lá tròn 2,7 – 3 0,4 – 0,7 1 – 1,3
Điền thanh 2,6 0,28 1,7
Bèo hoa dâu 4,7 – 5 0,6 – 1 1,5
5. Than bùn
Tây Ninh 0,38 0,03 0,37
Củ Chi 0,09 0,15 0,31
Mộc Hóa 0,16 – 0,91 0,15 0,31
U Minh 0,25 0,07 – 0,1 0,25 – 0,30
I.4.4 Lợi ích của việc bón phân hữu cơ
Qua những phân tích về mặt bất lợi về lý, hóa cũng như sinh học đất do sự suy
giảm độ phì nhiêu của đất. Hướng lâu dài để cải thiện và phục hồi dần cấu trúc đất, tăng
cường độ phì nhiêu về mặt dinh dưỡng và sinh học đất, chống chịu các nguồn sâu bệnh
từ đất là là tăng cường hàm lượng chất hữu cơ trong đất.
Các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, rơm rạ, tàn dư thực vật…
đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và nâng cao độ phì nhiêu của đất bị thoái
hóa. Khối lượng phân hữu cơ vùi vào đất càng lớn thì độ phì nhiêu hồi phục càng
nhanh.
Các lợi ích của việc bón phân hữu cơ
 Lợi ích thứ nhất: cải thiện và ổn định kết cấu của đất. Đây là điều kiện tiên quyết
làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, từ đó:
- Làm cho nước thấm vào đất thuận lợi, hạn chế đóng váng bề mặt, hạn chế chảy
tràn làm rửa trôi chất dinh dưỡng, ổn định nhiết độ đất, tăng cường hoạt động của sinh
vật đất ( Vũ Hữu Yêm, 2005).
Chất hữu cơ có khả năng hấp phụ lượng nước gấp 5 lần khối lượng của nó, do đó
tăng cường khả năng giữ nước của đất để cung cấp cho nhu cầu của cây, gíup vận
chuyển chất dinh dưỡng dễ dàng đến rễ cây trồng, ngoài ra còn giúp điều hoà nhiệt độ
đất. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các loại cây trồng cạn như hoa màu, rau cải và
cây ăn trái. Việc thiếu nước tạm thời trong những ngày nóng, tháng khô sẽ làm năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status