Những đặc điểm chủ yếu của ao
2.1. Phân bố
Ao được phân bố rất rộng, bao gồm cả ở đồng
bằng trung du, miền núi và ven biển. Tuy nhiên, tuỳ
theo mục đích hình thành mà sự phân bố ở vùng địa
lý có khác nhau. Loài ao đào với mục đích nuôi cá
đựoc phân bố ở những nơi có nghề nuôi cá phát triển
và ở các trại nuôi cá. Tổng diện tích ao loại này
không lớn. Loại ao đào với mục đích khác như đào
đất dắp nền nhà. đắp vườn, làm gạch, v.v. Loại ao
này được phân bố nhiều nhất ở vùng đồng bằng, nhất
là vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long. Các
tỉnh miền núi, Tây Nguyên và vùng trung dulà những
vùng có ít ao nhất trong phạm vi cả nước.
2.3. Diện tích
Do đặc điểm hình thành khác nhau, cho nên diện
tích ao hình thành ao cũng rất khác nhau. Diện tích
của ao dao động rất lớn, có thể từ vài chục mét vuông
đến hàng nghìn mét vuông. Đối với những ao đào với
mục đích nuôi cáthì diện tích thường từ 1.000m
2
đến
10.000m
2
.
2.3. Hình dạng, độ sâu và chất đáy
Độ sâu của ao dao động khá lớn từ 0,8m
đến1,5m(có khi lên tới 2-3m). Đối với ao hình thành
do vỡ đê bào mòn hoặc do sự gia hoá của hồthì độ
sâu lớn từ 3m trở lên. Những ao đào với mục đích
nuôi cá, thừng có độ sâu dao động từ 1,5 – 2,5m
ao
Nguồn nước bổ sung cho ao chủ yếu từ nguồn
nước mưa hoặc nước sinh hoạt của con người. Vì vậy
đối với ao nguồn nước thường kém chủ động(đặc biệt
đối với ao được phân bố trong các làng mạc vùng
nông thôn). Đối với những ao hồ nhỏ phân bố ở gần
các hệ thống sông, suối, hệ thống kênh mương thì
nguồn nước ở đây khác chủ động, nguồn nước bổ
sung cho các ao này chủ yếu là từ sông, suối, hệ
thống kênh mương…
Biến động nguồn nước trong ao thường rất lớn,
mực nước trong ao thay đổi theo mùa rất rõ rệt, mùa
mưa nước trong ao là lớn nhất và thấp nhất vào mùa
khô (ở các tỉnh Nam Bộ). Ở các tỉnh phia Bắc nước
trong ao lớn nhất vào thánh 7 đến tháng 8 và thấp
nhất vào tháng 12 đến tháng2.
2.5. Đặc điểm lý hoá học của nước ao và đặc điểm
thuỷ sinh học ở ao
Ao được đào trên vùng đất chua mặn hoặc đát
sét, nước ao ở đây thường bị chua độ pH thấp, chỉ số
pH dao động từ 5-6,5 có khi xuống tới 4. Do pH thấp
cho nên lượng muối dinh dưỡng và chất hữu cơ trong
nước rất nghèo, dẫn đến hiện tượng nghèo sinh vật
phù du và sinh vật đáy, trái lại nó phù hợp cho sự
phát triển của một số loài tảo sợi khó tiêu, không có
lợi cho quá trình dinh dưỡng của cá. Ngược lại đối
với những ao được đào trên vùng đất thịt pha cát,
nước ở đây không bị chua, pH trung tính hoặc hơi
kiềm, chỉ số pH từ 7-8, ở đây hàm lượng muối dinh
dưỡng và chất hữu cơ hoà tan rất cao, dễ gây màu
loại phân bón).
Yếu tố nhiệt độ: Nhiệt độ nước trong ao thường
thay đổi chậm hơn nhiệt độ không khí. Tuy nhiên
mức thay đổi nhiệt độ còn phụ thuộc vào diện tích ao
lớn hay nhỏ, mức nước trong ao nông hay sâu. Đối
với những ao nhỏ, mức nước trong ao nông thì nhiệt
độ nước biến đổi gần như nhiệt độ không khí(ở tầng
mặt nhiệt độ dao động từ 5-6
o
C cho đến 35
0
C). ở các
ao có diện tích lớn, mức nước trong ao sâu thì nhiệt
độ nước biến đổi rất chậm, điều này có lợi cho quá
trình sinh trưởng và phát triển của cá.
Thuỷ sinh vật trong ao: ở những ao bỏ hoang
hoá lâu ngày, thường thực vật thuỷ sinh thượng đẳng
phát triển mạnh đặc biệt là bèo tây, bèo tấm, béo cái
che kin mặt nước. ở những đầm, bãi thì các loại cỏ
rong phát triển mạnh chiếm hầu như toàn bộ khối
nước. ở những ao, đầm, hồ loại này sinh vật phù du
kém phát triển. Đối với những ao không bị che bởi
bèo tây, bèo cái thì thực vật phù du phát triển phong
phú, nhưng chủ yếu lại là một số loài tảo khó tiêu,
không có lợi cho quá trình dinh dưỡng của cá , động
vật đáy ở đây khá phong phú. Những loại ao này
muốn đưa vào nuôi cá cần phải cải tạo điều kiện
hoang hoá trên như vớt hết các loại bèo trên mặt
nước , tiêu diệt hết các loại rong, cỏ dưới nước và
xung quanh ao, đồng thời phải tiến hành cải tạo các