Sáng kiến kinh nghiệm y học đai học – Bệnh tiêu chảy
Bệnh tiêu chảy
(TIẾU TẢ – DIARRHÉE – DIARRHEA)
Đại Cương
1) Theo YHCT:
Theo sách Nội Kinh:
- Phân lỏng, loãng, khi đi khi ngừng rồi lại đi, số lần đi thưa, gọi là Tiết.
- Phân lỏng, loãng, đi xổ ra như dội nước hoặc nước chảy, gọi là Tả.
- Trong Tiết có Tả, trong Tả có Tiết, vì vậy thường được gọi chung là Tiết Tả.
2) Theo YHHĐ:
Được gọi là tiêu chảy khi thành phần nước trong phân tăng lên (bình thường có
75% nước), làm cho phân có thể:
+Nhão, nát, không thành khuôn (85%)
+ Lỏng với nhiều mức độ khác nhau (88%)
+ Hoặc hoàn toàn nước (trên 90% nước) trong đó thành phần phân chỉ chiếm một
tỉ lệ rất ít.
Phân Loại
Sách Nội Kinh nêu ra 8 loại Tiết tả:
1)- Thấp tả: còn gọi là Động Tiết hoặc Nhu Tiết, chủ yếu do Thủy Thấp trở trệ ở
Vị Trường, Tỳ hư không ức chế nổi thủy gây ra. Thiên ‘Âm Dương Ứng Tượng
Đại Luận (Tố Vấn 5) ghi:” Thấp thắng thì Nhu Tả”
2)- Thử Tả: tiêu chảy do cảm nhiễm Thử tà.
3)- Nhiệt Tả: cũng gọi là hỏa Tả, do nhiệt tà dồn ép ở đại trường.
4)- Hàn Tả: tiêu chảy do nội tạng hư hàn gây ra.
5)- Thực Tả :tiêu chảy do ăn uống gây ra (Thiên ‘Tỳ Luận’ Tố Vấn 43).
6)- Hư Tả: tiêu chảy lâu ngày do Tỳ Thận dương hư.
Sau này, đời nhà Tùy (581- 618), Sào Nguyên Phương trong sách ‘Chư Bịnh
Nguyên Hậu Luận’ còn nêu ra:
- Vụ đường: thuộc loại Hàn tả còn gọi là Áp đường, Vụ tiết, vì khi đại tiện nước
Để điều hòa 4 quá trình trên, hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm giữ vai
trò quan trọng: hệ giao cảm làm nhu động giảm tiết dịch. Hệ phó giao cảm có tác
dụng ngược lại. Các quá trình trên bị rối loạn sẽ gây nên tiêu chảy.
Tăng tiết dịch: các yếu tố kích thích như nhiễm khuẩn, nhiễm độc, thường gây
tăng tiết dịch vượt quá khả năng hấp thu thông thường của ruột gây tiêu chảy. Việc
tiêu chảy này là phản xạ tự vệ nhằm loại trừ tác nhân kích thích.
Tăng nhu động: các yếu tố kích thích nói trên làm tăng nhu động ruột, thức ăn qua
ruột nhanh chóng, không đủ thời gian để kịp tiêu hóa, hấp thu.
Tiêu hóa kém: khi thiếu dịch tiêu hóa, thiếu men hoặc thiếu vi khuẩn thường trú ở
ruột (do dùng nhiều thuốc kháng sinh) thức ăn sẽ không được tiêu hóa đầy đủ,
không hấp thu được gây ra tiêu chảy.
b- Theo YHCT:
Sách “Nội Khoa Học” của Trung Y Thượng Hải và Thành Đô đều đưa ra 5 nguyên
nhân sau:
1)- Cảm Phải Ngoại Tà: do Phong, Hàn, Thử, Nhiệt, Thấp (chủ yếu là do Thấp)
làm Tỳ Vị bị tổn thương, mất chức năng kiện vận, không phân biệt được trong
đục, thăng giáng thất thường, gây ra tiêu chảy.
+ Thiên:”Cử Thống Luận”(Tố Vấn 39) ghi: ”Hàn khí xâm phạm vào Tiểu Trường,
Tiểu Trường mất chức năng gây ra bụng đau, tiêu chảy”
+ Sách “Minh Y Tạp Trứ” ghi: ”Vào mùa Hè, Thu, Thấp nhiệt thịnh hành bỗng
(đột nhiên) tiêu chảy như dội nước”
2)- Do Ăn Uống Không Đều làm cho thức ăn đình trệ lại hoặc ăn quá nhiều thức
ăn dầu mỡ (béo), sống, lạnh làm cho Tỳ Vị bị tổn thương không vận hóa được.
+ Sách “Cảnh Nhạc Toàn Thư” ghi: ” Ăn không điều độ, ở không thích nghi, Tỳ
Vị tổn thương, thủy biến thành thấp, thực (thức ăn) biến thành trệ, tinh hoa không
chuyển hóa dẫn đến tiêu chảy”.
+ Sách ”Đan Khê Tâm Pháp” ghi: ” Chứng thực tả là do ăn uống quá nhiều, làm
tổn thương Tỳ Vị gây ra tiết tả”.
3)- Do Tỳ Vị Dương Hư (NKHT.Hải), Tỳ Vị hư yếu (NKHT. Đô) Tỳ Vị Hư Hàn
(TYNKHG. Nghĩa): do Tỳ Vị mất chức năng vận hóa (do suy yếu, do dương hư,
thần mệt mỏi, không muốn nói, sắc mặt vàng úa, lưỡi nhạt, rêu lưỡi ít, mạch Hoãn
Nhược.
5)- Tỳ Dương Hư (T.Đô): tiêu chảy, phân xanh, nát, ăn ít, bụng đầy, khát, thích
uống nóng, ói mửa, ợ hơi, tay chân không ấm, bao tử đau, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng,
mạch Tế, Hoãn, không lực.
6)- Thận Dương Hư (T.Hải): sáng sớm bụng đau vùng rốn, bụng sôi, ỉa xong thì
đỡ đau, bụng lạnh, tay chân lạnh, sợ lạnh, lưỡi trắng nhạt, mạch Trầm Tế.
7)- Tỳ Âm Hư ( T.Đô): tiêu chảy lâu ngày không cầm, khát, hơi sốt, hơi ho, không
muốn ăn uống, ăn vào thì phát sốt, lưỡi đỏ, khô, ít rêu, mạch Tế Sác.
8)- Can Mộc Khắc Tỳ (T.Hải): hông bụng đầy trướng, ăn ít, ợ hơi, khi buồn, tức,
tinh thần căng thẳng thì bụng đau, tiêu chảy, lưỡi đỏ nhạt, mạch Huyền.
9)- Tỳ Thận Khí Hư (T.Đô): ăn ít, đại tiện nhiều, chóng mặt, tai ù, cơ thể uể oải,
tinh thần mệt mỏi, chân và gối không có sức hoặc lưng đau, tiểu đêm, lưỡi nhạt,
rêu lưỡi ít, mạch Hư Nhược.
Điều Trị
Hải Thượng Lãn Ông trong ‘ Bách Bịnh Cơ Yếu’ nêu ra 9 phương pháp chữa tiêu
chảy như sau:
1)- Đờm Thấp: thấm rút nước đi, làm cho tà khí bài tiết ra theo đường tiểu. Sách
nội kinh ghi: ‘ Chữa bịnh Thấp không lợi tiểu tiện là không đúng quy cách’ và ‘
nước ở dưới thì khơi đường cho nó ra hết’.
2)- Thăng Đề: nâng khí lên. Khí thuộc dương tính nó đi lên, vì Vị khí tràn đến ép
nó làm cho khí bị hạ xuống.
3)- Thanh Lương: làm cho mát. Bịnh do nhiệt nhiễm vào, bỗng nhiên rót xuống dữ
dội, áp bức phía dưới. Dùng thuốc đắng, lạnh để dập bớt sự nung nấu, ví như đang
lúc nắng nóng bức, nếu được gió thổi thì hơi nóng tự tan hết.
4)- Lưu Lợi: làm cho lưu thông. Đờm ngưng, khí uất, ăn uống tích trệ đều có thể
gây tiêu chảy, phải tùy chứng mà khu trừ đi, đừng để nó lưu trữ lại.
5)- Cam Hoãn: dùng thuốc có vị ngọt để hòa hoãn lại thuốc có vị ngọt có thể hòa
hoãn được Trung Tiêu, ngăn bớt tính cấp tốc lại theo nguyên tắc:”Bịnh cấp thì làm
hòa hoãn lại”
má 10g, Thêm gừng 3 lát (sao vàng). Sắc uống.
2. Hoắc Hương 12g, Hậu phác (nam) 12g, Hương phụ 8g, Sa nhân 8g, Trần bì 8g,
Hạt vải 8g, Mộc hương (nam) 8g. Sắc uống.
- Sách TBTYKN Phương dùng bài Sơ Tả Hóa Trọc Pháp: Đại đậu quyển 12g, Lục
khúc (sao) 12g, Xa tiền tử (sao) 12g, Ý dĩ nhân 20g, Xích linh 12g, Cát cánh 4g,
Biển đậu (vỏ) 8g, Bội lan 8g, Hà diệp 1 lá, Sơn chi (vỏ) 8g, Chỉ xác (sao) 8g. Sắc
uống.
2- Tiêu Chảy Do Thấp Nhiệt
+NKHT. Đô: Đạt biểu, thanh lý, dùng bài Cát Căn Cầm Liên Thang (Thương Hàn
Luận)
Cát căn 12g, Hoàng cầm 12g, Hoàng liên 8g, Cam thảo 4g, Sắc uống.
(Cát căn giải cơ, thanh nhiệt; Hoàng Cầm, Hoàng Liên thanh nhiệt, táo thấp; Cam
Thảo hòa trung).
-Sách NKHT.Hải: Thanh nhiệt,lợi thấp, dùng các bài Cát Căn Cầm Liên Thang gia
vị: Cát căn 12g, Hoàng liên 8g, Kim ngân hoa 16g, Hoàng cầm 12g, Cam thảo 4g,
Mộc thông 12g, Bạch linh 8g.
Đây là bài Cát Căn Cầm Liên Thang thêm Kim ngân hoa, Mộc thông, và Bạch linh
để giúp sức thanh nhiệt, lợi thấp của bài Cát Căn Cầm Liên Thang.
- Sách TBTYKN Phương dùng bài Ngũ Linh Pháp gia vị: Bạch truật (sao đất) 12g,
Quan quế 3,2g, Phục linh 12g, Hương nhu 6g, Trư linh 12g, Xuyên phác 6g.
(Đây là bài Ngũ Linh Tán bỏ Trạch Tả, thêm Hương Nhu và Hậu Phác)
- Sách NKHT. Đô giới thiệu 1 số bài thuốc đơn giản sau:
+ Hoàng Liên 12g, Tỏi 4 trái, nghiền nát. Phân làm 3, uống với nước.
+ Hoàng Liên 8g, Hậu phác 12g. Sắc uống.
+ Rau Má 60g, Xa Tiền 30g. Sắc uống.
3 Tiêu Chảy Do Thương Thực:
- Sách NKHT.Hải: Tiêu thực, đạo trệ, dùng Bài Bảo Hoà Hoàn
- Sách NKHT. Đô: hoà trung, đạo trệ, dùng bài Bảo Hòa Hoàn.
- Sách LSĐKTHTL Học dùng bài Bảo Hòa Hoàn.
Bảo Hòa Hoàn (Đan Khê Tâm Pháp): Sơn tra 240g, Lục khúc 80g, Bán hạ 120g,
- NKHT. Đô: bổ Thận cố Tỳ – dùng bài Song Bổ Hoàn (Y Phương Loại Tụ): Lộc
giác sương 120g, Nhân sâm 40g, Thạch hộc 40g, Thục địa 40g, Mộc qua 40g,
Đương quy 40g, Trầm hương 40g, Ý dĩ nhân 40g, Trạch tả 40g, Thỏ ty tử 40g,
Chích kỳ 40g, Xạ hương 4g, Phúc bồn tử 40g, Thung dung 40g, Chu sa 20g, Bạch
linh 40g, Ngũ vị tử 40g. Tán bột, làm hoàn. Ngày uống 16 – 20g với nước muối,
lúc đói.
- Sách Thiên Gia Diệu Phương: ôn bổ mệnh môn, ôn Tỳ Vị, sáp trường, dùng Tứ
Thần Hoàn gia vị: Bổ cốt chỉ 12g, Ngô thù du 16g, Trần bì 6g, Hoàng kỳ 12g,
Nhục khấu 6g, Thạch lựu bì 6g, Đảng sâm 12g, Ngũ vị tử 6g, Phụ tử 6g, Phục linh
10g, Quế chi 6g, Ô mai 3 quả, Bạch truật 10g. Sắc uống.
- Tứ Nghịch Ích Hoàng Thang (TGDPhương): Xuyên Phụ tử 40g, Bạch truật 12g,
Nhục quế 12g, Can khương 16g, Bán hạ (chế) 10g, Nhục khấu 12g, Đảng sâm
20g, Phục linh 12g, Ô mai 12g, Cam thảo 8g, Đinh hương 4g, Thiên Sinh Khoáng
4g.
(Phụ Tử phải dùng nước sôi sắc riêng trước 2- 3 giờ, dùng lưỡi nếm không thấy tê
làm chuẩn. Thiên Sinh Khoáng tức Lưu Huỳnh Thăng Hoa Thiên Nhiên, phải chia
làm 2 lần, nuốt riêng, Nhục Khấu phải nướng nóng cho khử hết dầu mới dùng).
- Sách TBTYKN Phương dùng bài Ích Hỏa Phù Thổ Phương: Bạch truật (sao đất)
12g, Trần bì 6g, Bổ cốt chỉ 12g, Ích trí nhân 12g, Bào khương 3,2g, Mễ xác 6g,
Mộc hương 3,2g, Kha tử bì 6g, Bội lan (lá) 6g, Phục linh 12g, Cam thảo 4g, Cốc
nha 12g. Sắc uống.
6 Tiêu Chảy Do Can Mộc Khắc Tỳ Thổ
- NKHT.Hải: ức Can, kiện Tỳ. Dùng bài Thống Tả Yếu Phương (Cảnh Nhạc Toàn
Thư): Bạch Truật (sao với đất cho vàng) 12g, Trần bì 8g, Bạch thược (sao) 12g,
Phòng phong 8g. Sắc uống.
(Bạch truật kiện Tỳ, Trần bì hòa Vị, lý khí để hỗ trợ Bạch truật, Bạch thược sơ
Can; Phòng phong tân hương ôn tán để hỗ trợ kiện Tỳ).
-NKHT. Đô: phù Thổ ức Mộc. Dùng bài Sài Thược Lục Quân Tử Thang.
- Sách TGDPhương dùng bài Tiêu Thực Thang gia giảm: Đảng sâm 20g, Mạch
nha 16g, Thạch bì 12g, Bạch truật 16g, Trần bì 12g, Kê nội kim 16g, Phục linh
Thận Tả).
- TBGTCC. Học :Tỳ du, Trung quản, Chương môn, Thiên xu, Túc tam lý.
- Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí số 12/1985: Thiên xu (2 bên), Nội quan (2 bên),
Tam âm giao (2 bên).
- Nội Gia Cát Trung Y Viện số 32/1986: chỉ châm huyệt Túc tam lý trị Hàn tả.
- Tân Cương Trung Y Dược số 51/1986 dùng cách cứu trị tiêu chảy
+ Tỳ Vị Hư: Túc tam lý, Thiên xu, Ẩn bạch, hoặc Túc tam lý, Ẩn bạch, Trung
quản.
+ Thận Âm hư yếu: Nhiên cốc, Khí hải, Túc tam lý, Ẩn bạch, Thận du, Tỳ du,
Thủy phân, Trung quản. Hoặc Túc tam lý, Thạch môn, Nhiên cốc, Trung quản.
- TDCCĐ. Toàn:
+ Do ngoại cảm: Phát Hãn, giải cơ, châm tả, Phong môn, Đại chùy, Thiên xu, Hợp
cốc.
+ Do Hàn: sơ tán hàn thấp, châm nông + cứu Phong môn, Liệt khuyết, Thiên xu,
Phong trì, Trung quản.
+ Do Thử: thanh thử lợi thấp, châm tả Hợp cốc, Thiên xu, Túc tam lý, Nội quan,
Đại lăng.
+ Do Thấp ôn hóa thủy thấp: châm bình bổ bình tả + cứu Tỳ du, Trung quản, Âm
lăng tuyền, Phong long, Túc tam lý, Công tôn.
+ Do Hỏa: thanh nhiệt, tiết hỏa: châm tả Hạ quan, Hợp cốc, Nội đình, Thiên xu,
Khúc trì.
+ Do Tỳ hư: kiện Tỳ, dưỡng Vị, châm bổ + cứu Tỳ du, Chương môn, Trung quản,
Khí hải, Túc tam lý.
+ Do Thực trệ: tiêu thực hóa trệ, châm tả Triển cơ, Túc tam lý, Trung quản, Nội
quan.
+ Do Khí uất: điều hòa Can Tỳ, châm tả Tỳ du, Chương môn, Thái xung, Túc tam
lý, Kỳ môn.
+ Do Thận hư: ôn bổ Tỳ Thận, châm bổ + cứu Tỳ du, Mệnh môn, Quan nguyên.
Bệnh Án Tiêu Chảy Do Âm Hư
(Trích trong ‘Chẩn Dư Cử Ngẫu Lục’ của Trần Đình Nho, Trung Quốc).
Cho dùng: Lý Trung Thang (Bạch truật 12g, Chích thảo 12g, Can khương 12g),
thêm Thương truật 12g, Phụ tử 4g), uống chỉ mấy thang là khỏi.
Bệnh Án Do Tiêu Chảy Do Hàn Thấp
(Trích trong ‘Chẩn Dư Cử Ngẫu Lục’ của Trần Đình Nho, Trung Quốc).
Mùa hè năm Bính Thân, tôi trở về Kinh đô, có người bệnh là Dương Nghệ
Phương, bị chứng tiêu chảy hơn 10 lần một ngày, ăn uống bị giảm sút, trong người
nóng nẩy không yên. Tôi khám thấy mạch sác, nhất là ở bộ xích lại mạnh (kiên
cường), có lực. Tôi cho là do Thử thấp gây nên. Tuy nhiên, người bệnh đã hơn 60
tuổi, điều cốt yếu là phải lo giữ chính khí. Vì vậy, trước hết, cho uống Tam Hoàng
Thang (Hoàng bá 4g, Hoàng liên 4g, Chi tử 4g) hợp với Lục Nhất Tán (Hoạt thạch
24g, Cam thảo 4g) thêm Bạch truật 4g, Trần bì 4g, và Sa nhân 4g. Uống liên tục 2
thang, hết tiêu chảy, sau đó cho dùng thuốc bổ, chẳng bao lâu sức khỏe phục hồi
như cũ.
Bệnh Án Tiêu chảy Do Âm Dương Đều Hư
(Trích trong Hạnh Hiên Y Án của Trịnh Quang Tuyên – Trung Quốc).
Vào giữa mùa Hè, cháu bé con ông Dương Điện Thành bị chứng phát sốt, tiêu
chảy và tuy đă được điều trị gần 2 tuần nhưng bệnh vẫn không bớt mà hơi thở lại
ngắn, tinh thần mê mệt. Tuy thân thể nóng nhưng ban ngày thì nhẹ còn đêm lại
nặng hơn, còn tiêu chảy thì ban đêm đi tiêu ít, ban ngày đi tiêu nhiều, tóc khô,
xương đầu ở mỏ ác cũng như phía sau chẩm đều lõm xuống, môi và lưỡi cũng đều
khô. Tôi nói: “Chứng này là âm dương đều hư. Dương Điện Thành nói rằng cháu
bé đã từng được uống các vị thuốc Thạch hộc, Mạch môn (các vị thuốc có tính
mát) thì ỉa lại càng nhiều mà ăn cũng không được. Nhưng uống các vị thuốc như
Sâm, Bạch Truật (ôn Tỳ) thì lại càng nóng nẩy, trằn trọc, miệng cũng khô thêm.
Tôi nói: “Dùng như vậy đều không đúng vì bệnh mà cả âm và dương đều hư như
vậy thì dùng những vị thuốc phải có tính cương và nhu chung một lúc mới được.
Vị Mạch môn có vị ngọt, lạnh (cam hàn) không phải là vị thuốc có thể dùng trong
trường hợp dương hư do tiêu chảy lâu ngày gây ra. Vị Bạch Truật, đắng, khô ráo
(khổ táo) làm sao có thể dùng vào chứng âm hư khát nước từ lâu nay”. Tôi bèn
linh hoạt lập ra phương (bài) thuốc sau: Thục địa 2g, Phụ tử 0,4g, Câu kỷ 2g, Hoài
nước tiểu vàng. Căn cứ vào chứng trạng tiêu, tiểu mà nói thì trường hợp này hình
như thuộc chứng nhiệt tả (tiêu chảy do nhiệt). Nếu dựa theo mạch và lưỡi thì lại
không thề chẩn đoán là nhiệt được. Phong Thiếu Dật lập luận: Trong sách ‘Nội
Kinh’ có ghi: ‘Thận mạch đi quá nhỏ là chứng đổng tiết, rõ ràng là tiên thiên vốn
hư yếu vì vậy tà khí phục sâu vào bên trong. Các bộ mạch khác Huyền Hoãn,
thường đau bụng là do Can mộc thừa cơ xâm nhập vị trí của Tỳ thổ. Nước tiểu
vàng là có thêm chứng thấp.
Vậy chứng này do hư mà lại có thực. Vì thế, phải bổ tiên thiên và hậu thiên, lại
vừa làm cho Can yên lại và tiêu nước đi. Dùng Bạch truật, Đảng sâm, Thỏ ty tử,
Phá cố chỉ, Phòng phong, Bạch thược, Trạch tả, Phục linh, Cát căn, Mộc hương và
Hà diệp để dẫn thuốc. Mỗi ngày uống một thang, uống liên tục 5 ngày, chứng đau
bụng và tiêu chảy đều hết.
Bệnh Án Tiêu Chảy Thể Loại Phế tả
(Trích trong ‘ Cuộc Đời Và Kinh Nghiệm Người Thợ Già Trị Bệnh’ của Lê Đức
Thiếp Việt Nam).
Khoảng năm 1934, một em bé trai ngoài 2 tuổi, bị chứng tiêu chảy, đái ít, khát
nước. Người nhà cho uống nước, em uống ừng ực, hai tay choàng ra vơ cả bát (
chén) vào miệng nhai, nhai không có nước, trỗi người lên dẫy dụa la khóc, khó mà
bế được em khi đang khát. Cho uống vào thì muốn ói mà không ói được (ói khan).
Một lát lại tiêu chảy ra phân trắng như sữa, như nước vo gạo mà vọt vồng cầu
chảy ra như dội, tiêu xong xỉu đi vài phút, lại trỗi lên đòi nước, lại ỉa, liên tiếp như
vậy. Bệnh đã hơn một ngày. Khi tôi bước vào phòng thấy quây kín, lại đốt một lò
sưởi lớn giữa phòng, khói mù, nóng nực. Ấn tay vào bụng em thấy không đầy,
không cứng, biết là không phải bụng đau. Liền đó, em tiêu vọt ra phân trắng. Sờ
vào mình em, thấy nóng hâm hấp, tay chân cũng ấm. Xem qua chỉ tay, thấy màu
đỏ, đi cong quẹo qua phong quan và đã thò đầu lên vùng khí quan. Xem xong, tôi
quay qua nói với ông bố rằng: “Bệnh của cháu nặng lắm, nếu chữa thuốc mà lầm
một ly sẽ nguy. Ông bà có bằng lòng để… “. Tôi chưa nói dứt câu, bà mẹ đã nói
ngay: “Chúng tôi biết bệnh cháu nặng lắm rồi, từ hôm qua đến nay, đã uống mấy
thứù thuốc mà không bớt chút nào, bệnh còn nặng hơn, giờ có thầy, xin thầy chữa
Ngày 8/5/1979: khám lần thứ ba thấy không chướng bụng, số lần đi cầu còn hai
lần một ngày, phân hơi lỏng.
Châm lần nữa bệnh nhân khỏi hẳn.
Bệnh nhân Giang, nam, 50 tuổi, nhân viên y tế nhập điều trị ngoại trú ngày
14/07/1978.
Đau bụng và tiêu chảy đã hơn 20 ngày, một ngày 5 – 6 lần. Điều trị bằng thuốc
Syntomycin,
Terramycin và Belladonna thì đau bụng giảm nhưng tiêu chảy vẫn còn như trước
và đi cầu phân lỏng kèm theo mót nhẹ.
Dùng Hỏa châm trị liệu: Bệnh nhân nằm sấp để cho hông hơi nhô lên rồi đốt một
kim nhỏ bằng lửa và châm nhanh vào huyệt Trường cường bằng kim nóng, sâu 1
thốn, xoay nhanh kim rồi rút ra. Chỉ một lần, các triệu chứng khỏi hẳn.