ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ THỊ TRƯỜNG OTC pot - Pdf 21

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG
KHOA KINH TẾ
KHOA KINH TẾ
= = =    = = =
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ THỊ TRƯỜNG OTC
LỚP: C10KH3
NHÓM ĐỀ TÀI 3
Đà Nẵng – Năm 2011
Hoạt động nhóm 1
DANH SÁCH NHÓM
1. NGUYỄN THANH TRUNG
2. NGUYỄN VĂN TUẤN ANH
3. NGUYỄN THỊ BÉ
4. NGUYỄN LÊ THỊ YẾN NHI
5. NGUYỄN THỊ THU THẢO
6. NGUYỄN HOÀI NAM
Hoạt động nhóm 2
1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Hoạt động nhóm 3
Giai đoạn đầu của sự hình thành và phát triển của thị trường
chứng khoán; việc mua, bán chứng khoán chủ yếu được thực hiện thông
qua các quầy của ngân hàng, các công ty chứng khoán. Phương thức
giao dịch chủ yếu là mua bán trực tiếp thủ công, thương lượng giá.
Khi Thị trường chứng khoán đã phát triển, hoạt động của thị
trường được thực hiện bởi một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh
chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư ở các địa điểm
phân tán khác nhau mà không có trung tâm giao dịch. Các loại chứng
khoán giao dịch trên thị trường này là chứng khoán chưa niêm yết, chủ
yếu là của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Việc giao dịch được thực hiện thông qua mạng điện

của các tổ chức tự quản.
Hiện nay thị trường OTC được coi là TTCK bậc cao của nền kinh
tế hiện đại và quy mô giao dịch của thị trường này rất lớn.
Ở Việt nam, Luật công ty ra đời vào năm 1990. Kể từ thời điểm
này, các công ty cổ phần bắt đầu được thành lập và hoạt động. Nhưng
sau đó 10 năm, trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Việt nam
mới đi vào hoạt động.
Sau 5 năm khai trương, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2005, mới
có 26 công ty chính thức niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán
Hoạt động nhóm 5
thành phố Hồ Chí Minh. Hay nói cách khác, thị trường chứng khoán
Việt Nam ở thời điểm này chỉ phục vụ cho 26 công ty. Nhưng ngoài, 26
công ty nêu trên, còn hàng nghìn cổ phiếu của các công ty khác được
giao dịch trên thị trường phi tập trung (Over The Counter - OTC).
2.THỊ TRƯỜNG OTC LÀ GÌ ?
2.1. Khái niệm
Thị trường OTC hay còn gọi là thị trường phi tập trung, là thị
trường được tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố định như
thị trường sàn giao dịch (thị trường giao dịch tập trung), mà dựa vào một
hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng
thông qua sự trợ giúp của các phương tiện thông tin.
Thị trường OTC không có một không gian giao dịch tập trung. Thị
trường này thường được các CTCK cùng nhau duy trì, việc giao dịch và
thông tin được dựa vào hệ thống điện thoại và Internet với sự trợ giúp
của các thiết bị đầu cuối.
2.2. Những đặc trưng cơ bản
a) Hình thức tổ chức:
Về cơ bản thị trường OTC không có địa điểm giao dịch tập trung
giữa bên mua và bên bán như đối với thị trường chứng khoán tập
trung (Sở Giao dịch Chứng khoán). Tuy nhiên, vì kỹ thuật tin học phát

Hoạt động nhóm 7
hướng phát triển của thị trường thì trong tương lai, phương thức này sẽ
chiếm ưu thế hơn so với phương thức trực tiếp mua - bán.
Thu thập thông tin của các loại cổ phiếu: để mua chứng khoán trên
thị trường OTC, NĐT thường tìm kiếm thông tin từ các nguồn như:
+ Thông tin từ các báo cáo tài chính (BCTC): nhìn chung, các
CTCP chưa niêm yết không có BCTC được kiểm toán. Do những mục
đích khác nhau mà DN có nhiều hệ thống sổ sách kế toán, BCTC. Mặt
khác, việc có được một bản BCTC của DN đối với một người bình
thường là điều không hề đơn giản, nhất là trong điều kiện mà ngay bản
thân DN không biết thông tin nào nên công bố, thông tin nào không nên.
Do đó, việc thu thập thông tin từ DN qua con đường chính thức khá khó
khăn, nếu NĐT không có những mối liên hệ nhất định với công ty đó.
+ Thu thập thông tin qua các cơ quan chức năng:
Theo quy định, DN phải báo cáo tình hình hoạt động cho cơ quan
đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư). Tuy nhiên, việc tuân thủ
quy định này của các DN không thực sự nghiêm túc hoặc các thông tin
cũng rất chung chung. Và các cơ quan chức năng cũng không có tránh
nhiệm và nghĩa vụ công bố các thông tin của DN. Vì vậy, việc có được
thông tin từ các cơ quan này gần như là bất khả thi đối với NĐT. Ngoài
ra, còn có một tổ chức lưu trữ thông tin về các DN, đó là Trung tâm
Thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân hàng Nhà nước. Trung tâm này lưu
trữ thông tin cơ bản của các DN có quan hệ tín dụng với các tổ chức tín
dụng. Tuy nhiên, tính cập nhật của các thông tin này không cao.
+ Thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng: khi
không thể thu thập thông tin về DN từ các đầu mối thông tin nêu trên,
Hoạt động nhóm 8
NĐT có thể thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng.
Tuy nhiên, nhược điểm của nguồn dữ liệu này là rời rạc, độ tin cậy
không cao.

Những khó khăn và rủi ro của các nhà đầu tư trên thị trường OTC
Với cơ chế mua bán nêu trên, nhất là vấn đề thu thập và tiếp cận
thông tin, độ tin cậy và căn cứ khi đưa ra các quyết định đầu tư là rất
thấp.
Do đó, rủi ro đối với các nhà đầu tưtrên thị trường OTC là rất lớn.
Việc mua phải các loại cổ phiếu dỏm của những doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ vì một lý do gì đó được đánh bóng lên là điều hoàn toàn có thể
xảy ra.
Trường hợp mua phải như vậy, các nhà đầu tư chỉ có một cách
duy nhất là chịu mất tiền mà chẳng có một cơ chế nào bảo vệ họ?
Chính những vấn đề nêu trên đã hạn chế sự tham gia của các nhà
đầu tư tự do, hạn chếhoạt động của thị trường phi tập trung. Các nhà
đầu tư tự do thường chỉ tham gia đầu tưvào các công ty hoạt động trong
lĩnh vực mà họ có sở trường.
Với con số hơn 5.000 công ty cổ phần mà chỉ có 26 công ty
niêm yết chính thức, và một số lượng tương tự thường xuyên được đưa
Hoạt động nhóm 10
tin trên các thị trường OTC quả là con số vô cùng khiêm tốn - 0,1%
sốcông ty cổ phần hiện nay.
Mặt khác, trên thị trường OTC Việt Nam, các giao dịch diễn ra rời
rạc, không có sự liên kết. Không có bất cứ ai giám sát hay chịu trách
nhiệm. Hay nói một cách khác là hiện tại chưa có những nhà tổ chức thị
trường.
Nói chung việc mua bán, gao dịch chứng khoán trên thị trường phi
chính thức thường diễn ra xung quanh những người biết rõ về doanh
nghiệp đó.
Trường hợp những nhà đầu tư mới tham gia vào là rất hạn chế.
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân chính làm cho thị
trường OTC ở Việt Nam kém sôi động.
Tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu chiếm một phần rất nhỏ so với tỷ lệ tiền

bắt buộc mà chỉ được khuyên khích.
Chính điều này, cộng với nhựng vấn về mập mờ trong công tác
thuế, đã khuyến khích cac doanh nghiệp làm cho hệ thống sổ sách, báo
cáo kếtoán của mình trở nên không minh bạch là rào cản để việc phát
triển thị trường.
Có một hệthống kế toán và các yêu cầu kiểm toán nhằm thể hiện
đúng thực trạng của doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết trong việc
phát triển thị trường OTC.
Hoạt động nhóm 12
Khi các thông minh bạch, rõ ràng, các nhà đầu tư sẽ cso khả năng
đáinh giá thực trạng công ty một cách tốt nhất.
Tổ chức đánh giá và xếp loại mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp
Có một khác biệt rất lớn giữa các công ty niêm yết trên thị trường
chính thức và các công ty mua bán trên thị trường phi chính thức là yêu
cầu công khai thông tin.
Tất cả các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
niêm yết đều phải được công bố kịp thời, trong khi đối với các ông ty
không niêm yết, điều này là không bắt buộc.
Do đó, để có thểđánh giá các công ty không niêm yết (cũng như
niêm yết) cần phải có một tổ chức đánh giá xếp loại độc lập đảm bảo
các điều kiện sau: Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị
trường OTC ở Việt Nam
2.2.1.Tính khách quan
Phương pháp đánh giá tín dụng cần phải chặt chẽ, có hệ thống và
phải căn cứ vào các số liệu quá khứ theo một phương pháp đánh giá nào
đó.
Ngoài ra, các kết quả đánh giá cần phải liên tục được rà soát và
điều chỉnh kịp thời theo những thay đổi về tình hình tài chính.
Để được các cơ quan chủ quản ngân hàng công nhận, phương pháp
đánh giá đối với mỗi khu vực thị trường, trong đó có việc đối chiếu lại

bộ quản lý và nghiệp vụ tại các tổ chức đang được đánh giá tín dụng để
bổ sung các thông tin quan trọng cho việc đánh giá tín dụng.
Các kết quả đánh giá cần phải dựa trên sự kết hợp các phương
pháp định tính và định lượng.
Nguồn lực thẩm định tín dụng cũng nên làm việc theo nhóm, có
nghĩa là bản thân ngân hàng cũng nên có những chuyên gia độc lập thẩm
định từ phía nước ngoài nhằm áp dụng cho những dự án qui mô lớn.
2.2.4. Tính tin cậy
Trong một chừng mực nhất định, độ tin cậy của các kết quả đánh
giá đạt được nhờ các tiêu chí đã nêu trên.
Ngoài ra, lòng tin của các tổ chức độc lập (nhà đầu tư, nhà bảo
hiểm, các đối tác kinh doanh) đối với các kết quả đánh giá của một tổ
chức đánh giá tín dụng độc lập cũng là bằng chứng của độ tin cậy của
các kết quả đánh giá này.
Độ tin cậy của một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cũng thể hiện
ở việc các tổ chức này sử dụng các quy trình nội bộ nhằm tránh không
cho các thông tin mật được sử dụng sai mục đích.
Để được công nhận, một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập không
nhất thiết phải đánh giá các công ty ở hai quốc gia trở lên.
Được biết hiện nay đã có một số tổ chức đứng ra thực hiện việc
phân đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp như Trung tâm thông tin tín
dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước Chương trình Giảng dạy Kinh tế
Hoạt động nhóm 15
Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam, các công ty chứng khoán, trung
tâm xếp hạng tín dụng của Vietnamnet.
Nhưng những số liệu các tổ chức này đưa ra mới chỉ là bước đầu.
Ngoài ra uỷ ban chứng khoán nhà nước đang triển khai kế hoạch hình
thành tổ chức này (có thể là một công ty có vốn đầu tư nước ngoài) và
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính cũng đang lập kế hoạch thành lập
công ty cổ phần xếp hạng tín dụng độc lập.

đông của công ty sẽ được mua thêm CP mới.
Với những người mua CP trong giai đoạn giao thời hoặc khi danh
sách cổ đông đã được chốt, nếu không biết thì dù tiền đã thanh toán cho
người bán, CP đã nắm giữ, nhưng chưa làm xong thủ tục chuyển
nhượng, người mua vẫn mất quyền mua, quyền mua CP mới vẫn thuộc
về người bán.
Như vậy, NĐT trên thị trường OTC cần chú ý, phải luôn luôn thỏa
thuận bằng hợp đồng chuyển nhượng với người bán, ghi rõ quyền lợi
mua CP mới tăng vốn thuộc về ai. Loại rủi ro này phổ biến nhất trên thị
trường OTC.
+ Hai là, tranh chấp hay thiệt hại về cổ tức. Cổ tức được chia cho
cổ đông dựa trên số lượng cổ phần họ đang nắm giữ. Thông thường,
công ty chia cổ tức sau khi kết thúc năm tài chính, một số công ty tạm
Hoạt động nhóm 17
ứng cổ tức sau 6 tháng. Rủi ro giao dịch CP ở chỗ, khi mua CP, người
mua không nắm bắt được thông tin, không thỏa thuận rõ ràng trong hợp
đồng chuyển nhượng. Do đó, cũng tương tự như trường hợp trên, người
mua mặc dù nắm giữ CP, nhưng không được nhận cổ tức.
+ Ba là, rủi ro trong mua bán CP chưa được chuyển nhượng. Có
những CP theo quy định nội bộ của công ty, sau 1 năm mới được chuyển
nhượng, nhưng nhiều NĐT không nắm được thông tin nên đã mua. Và
trong thời hạn 1 năm đó, các quyền lợi như mua thêm CP tăng vốn, nhận
cổ tức… vẫn thuộc về người đứng tên sở hữu CP (người bán), còn người
đã bỏ tiền ra mua thì bị chiếm đoạt quyền lợi.
+ Bốn là, rủi ro trong giao dịch nhận chuyển nhượng quyền mua.
Trong các đợt phát hành thêm CP mới để tăng vốn, cổ đông hiện hữu, cổ
đông chiến lược hay CBCNV được quyền mua CP. Khi đó, nhiều người
do không huy động được tiền hoặc vì nhiều lý do khác đã bán quyền
mua CP. Giá bán quyền mua thường thấp hơn giá thị trường thời điểm
đó.

Tổng vốn điều lệ của các công ty này hơn hơn rất nhiều lần khối
lượng vốn hoá trên thịtrường chính thức.
Hoạt động nhóm 19
Đây chính là nguồn cung của thị trường OTC. Hay nói theo cách
của một số người thường nói là thị trường OTC ở Việt Nam rất nhiều
tiềm năng.
Không phải cổ phiếu của tất cả các công ty cổ phần đều được mua
bán, trao đổi thường xuyên mà chỉ có một ít trong số đó được giao dịch.
Có những loại cổ phiếu gần như không bao giờ được giao dịch,
nhưng có những loại cổ phiếu tuy chưa được niêm yết trên thị trường
chính thức trên sàn, nhưng chúng được giao dịch rất sôi động như cổ
phiếu của các ngân hàng cổ thương mại cổ phần Á Châu, Sài Gòn
Thương Tín, Bánh kẹo Kinh đô, Vinamilk. Đây chính là những cổ phiếu
mà các nhà đầu tư có tổ chức, nhất là các quỹ đầu tư rất quan tâm.
Thị trường phi tập trung ở Việt Nam đang tồn tại là một thực thể
khách quan. Chỉ có thể nói rằng hoạt động của thị trường này còn manh
mún, rời rạc, tổ chức của thị trường này chưa được chặt chẽ, chưa có
người tạo lập và dẫn dắt thị trường chứ không thể nói là Việt nam chưa
có thị trường OTC và Việt nam đang đặt mục tiêu xây dựng đến năm
2010 sẽ có thị trường này như một số người thường nói.
Quy định về mua bán, chuyển nhượng cổ phiếu của các công ty cổ
phần Theo Luật công ty năm 1990 và Luật doanh nghiệp năm 1999, cổ
phiếu của các công ty cổ phần được quyền chuyển nhượng tự do.
Như vậy, cổ phiếu của các công ty cổ phần được giao dịch tự do
và không bị hạn chế bởi bất kỳ một quy định nào. Vấn đề đặt ra là khi
một người nào đó muốn bán hoặc mua cổ phiếu của một công ty cổ phần
nào đó thì họ phải làm như thế nào?
Nhà đầu tư và tổ chức của các nhà đầu tư
Hoạt động nhóm 20
Việc tham gia thị trường OTC rất đơn giản, tất cả mọi người đều

Luật công ty năm 1990 quy định, chỉ cổ phần không ghi danh mới
được chuyển nhượng tự do, cổ phần ghi danh muốn chuyển nhượng phải
có một số điều kiện kèm theo như được sự cho phép của đại hội cổ đông
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam
đó là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư. Cổ phiếu của Kinh
đô, ACB, Sacombank thuộc loại này.
3. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG OTC.
TT OTC đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và
chiếm vị trí quan trọng trong cấu trúc của TTCK.
+ Hỗ trợ và thúc đẩy SGDCK phát triển
+ Hạn chế và thu hẹp thị trường tự do
+ Tạo thi trường cho các chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ
chưa đủ điều kiện niêm yết trên sàn GDCK
+ Tạo môi trường đầu tư linh hoạt, cho các nhà đầu tư.
4. THÀNH VIÊN CỦA THỊ TRƯỜNG OTC.
4.1. Thành viên là nhà môi giới:
Khi công ty làm môi giới đại lý chứng khoán cho khách hàng để
hưởng hoa hồng phí, thì công ty đóng vai trò là nhà môi giới của thị
trường OTC.
Hoạt động nhóm 22
4.2. Thành viên tạo lập thị trường:
Khi công ty thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán cho chính
mình bằng nguồn vốn của mình, thì công ty đóng vai trò là nhà giao
dịch.Trong trường hợp này công ty trở thành nhà tạo lập thị trường trên
thị trường OTC.
4.3. Điều kiện để trở thành thành viên :
- Phải đăng ký kinh doanh với UBCK quốc gia
- Phải được cấp giấy phép
- Các nhà giao dịch – môi giới và những người có liên hệ phải đáp
ứng các tiêu chuẩn về đạo đức, chuyên môn và kinh nghiệm.

- Thị trường này có sự quản lý của chính phủ từ sau luật chứng
khoán sửa đổi năm 1938 (luật Maloney )
- Thị trường OTC qua mạng Nasdaq được thành lập năm 1871,
chịu sự quản lý của 2 cấp UBCK Mỹ ( SEC ) – hiệp hội các nhà chứng
khoán Mỹ (NASD)
- Kinh doanh Giao dịch tại Nasdaq là rất lớn, số lượng CP được
giao dịch lớn hơn cả thị trường chứng khoán Newyork (NYSE).
6.2. Thị Trường OTC Nhật Bản.
- Nhật Bản có 2 THỊ TRƯỜNG OTC hoạt động :
JASDAQ & J-Net.
Hoạt động nhóm 24
+ Thị trường Jasdaq: Hoạt động từ năm 1991, do hiệp hội các nhà
kinh doanh CK Nhật Bản (JSDA) quản lý. Năm 1983 THỊ TRƯỜNG
OTC này được sự quản lý của nhà nước. Chứng khoán giao dịch trên thị
trường này là các CK của các công ty vừa và nhỏ,công ty có chất lượng
hạng hai và công ty công nghệ cao.
+ Thị trường J – Net: Được đưa vào hoạt động từ tháng 5/2000 và
chịu sự quản lý trực tiếp từ SGDCK Osaka.
6.3.Thị trường OTC Hàn quốc.
- Thị trường OTC truyền thống của Hàn Quốc được thành lập
tháng 4 năm 1987, chịu sự kiểm soát của Hiệp hội các Nhà kinh doanh
chứng khoán (KSDA) thành lập năm 1953.
- Thị trường Kosdaq là một trong những thị trường được quản lý
khá hiệu quả. Hiện nay, thị trường Kosdaq đang rất phát triển và có khả
năng cạnh tranh lớn với thị trường của những chứng khoán có chất
lượng cao KSE.
7. Thị trường OTC Việt Nam – Thực trạng
- Thực trạng TTCK OTC tại Việt Nam (cách đây vài năm) hoạt
động rất phức tạp và không có tổ chức. Thực chất thị trường này là thị
trường mua bán tự do vì vậy THỊ TRƯỜNG OTC tại Việt Nam mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status