trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n
khoa ng©n hµng tµi chÝnh –
BµI TËP NHãM
TµI CHÝNH QuèC TÕ
Đề tài:
Thực trạng vận hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam và
các biện pháp hoàn thiện
Danh sách nhóm 2: 1. CQ500084 Nguyễn Nam Anh
2. CQ503141 Đinh Thị Hải Yến
3. CQ500896 Nguyễn Hoàng Hiệp
4. CQ503169 Võ Đức Anh
5. CQ500186 Nguyễn Thị Ngọc Bích
6. CQ501055 Đỗ Thị Hồng
7. CQ503110 Phạm Thị Thanh Xuân
8. CQ500276 Nguyễn Văn Chuẩn
9. CQ506001 SômPhaPhon MANG NO MEK
1
MỤC LỤC:
Trang
Lờ nói đầu………………………………………………………………… ……….3
Chương I: Lý luận chung về tỷ giá và chính sách tỷ giá……………………… ….4
1.1. Tỷ giá… ………………………………………………………………… … 4
1.1.1. Khái niệm và phân loại……………………………………………… … 4
1.1.1.1. Khái niệm……………………………………………………… …… 4
1.1.1.2. Phân loại……………………………………………………… …… 4
1.1.2. Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái………………………………… ……….6
1.1.2.1. Thuyết ngang giá vàng……………………………………… ……….6
1.1.2.2. Thuyết ngang giá sức mua (PPP )…………………………… ……….6
1.1.3. Niêm yết tỷ giá………………………………………………… …………8
Chương III: Tác động của tỷ giá đối với nền kinh tế Việt Nam
trong giai đoạn gần đây………………………………… 53
3.1.Tác động đến lạm phát…………………………………………………………… 53
3.2.Mục tiêu cân bằng cán cân thương mại……………………………………………57
3.2.1.Tác động chính sách tỷ giá tới cân bằng cán cân thương mại
từ 1955 đến nay………………………………………………………58
3.3. Ảnh hưởng chính sách tỷ giá tới XNK trong những năm gần đây……………… 63
*.Đánh giá những thành tựu , hạn chế của chính sách tỷ giá hiện nay………….……66
Chương IV: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tỷ giá
trong giai đoạn sắp tới…………………………… 70
4.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý tỷ giá…………………… 70
4.1.1. Một số quan điểm trong lĩnh vực điều hành tỷ giá…………………………….70
4.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý tỷ giá
của Việt Nam trong thời gian tới…………………………………… …72
4.2. Mục tiêu và định hướng hoàn thiện của chính sách tỷ giá…………………………73
4.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tỷ giá
của Việt Nam trong thời gian tới…………………………………… …74
4.3.1. Tiếp tục duy trì chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của Nhà nước……… …74
4.3.2. Thực hiện chính sách đa ngoại tệ……………………………………… …….76
4.3.3. Hoàn thiện chính sách lãi suất, đảm bảo xử lý tốt mối quan hệ
giữa hai công cụ là lãi suất và tỷ giá……………………………… 80
4.3.4. Hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái trên cơ sở kết hợp đồng bộ
với các chính sách quản lý vĩ mô khác của Nhà nước…………………81
4.3.5. Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường ngoại hối theo định hướng
của nền kinh tế thị trường………………………………………… 83
4.3.6. Nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối của NHNN………………………84
4.3.7. Nhanh chóng thực hiện các công cụ phong ngừa rủi ro……………………… 84
Kết luận…………………………………………………………………………………………….87
3
LỜI NÓI ĐẦU
1.1. Tỷ giá
1.1.1. Khái niệm và phân loại
1.1.1.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế hàng hoá hiện đại, hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều có đồng tiền riêng khác nhau cả về hình thức lẫn giá trị và đều tham gia
ngày càng tích cực vào đời sống kinh tế xã hội quốc tế theo trình độ phát
triển và vị thế của quốc gia mình. Trong quá trình tham gia các hoạt động
thương mại, đầu tư, vay mượn và trao đổi quốc tế các nước, các tổ chức ,
cá nhân, các đối tác phải thanh toán với nhau thông qua các đồng tiền của
các bên được chuyển đổi, tính toán theo một tương quan tỷ lệ nhất định.
Vì vậy, tuỳ thuộc vào từng góc độ nghiên cứu, xem xét mà tỷ giá hối
đoái có thể được định nghĩa theo hai cách sau:
Định nghĩa 1: Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này
thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia.
Theo định nghĩa này, tỷ giá hối đoái được coi là giá cả của một loại
hàng hoá đặc biệt- hàng hoá tiền tệ.
Ví dụ: 1 USD = 19.500 VND
Định nghĩa 2: Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của
hai nước với nhau mà trong thời đại ngày nay sự so sánh đó là sự so sánh
sức mua của các tiền tệ.
1.1.1.2. Phân loại
Trong thực tế tuỳ từng nơi từng lúc khi quan tâm đến một khía cạnh
nào đó của tỷ gía hối đoái người ta thường gọi đến tên đến loại tỷ giá đó. Do
vậy cần thiết phải phân loại tỷ giá hối đoái.
Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia ra nhiều loại tỷ giá
khác nhau:
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ.
5
a)Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được chia ra làm
ngoại hối của chuyến giao dịch cuối cùng trong ngày.
6
Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận
ngoại hối sẽ được thực hiện chậm nhất trong 2 ngày làm việc.
Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao
nhận ngoại hối sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp
đồng(có thể là 1,2,3 tháng sau).
e)căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá
chia ra làm hai loại:
Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
Tỷ giá bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
1.1.2. Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái
1.1.2.1. Thuyết ngang giá vàng
Trong thời kỳ bản vị kim loại, nhất là bản vị vàng (và bạc), các đồng
tiền quốc gia đều được so sánh, quy đổi với nhau trên cơ sở hàm lượng kim
loại (vàng) chứa đựng trong đồng tiền của mình hay do đơn vị đồng tiền của
mình đại diện. Trong giai đoạn này, đặc biệt từ năm 1870 đến thời kỳ đầu
đại chiến thế giới lần thứ nhất, người ta xác định tỷ giá giữa các đồng tiền
bằng cách so sánh hàm lượng vàng chứa trong mỗi đơn vị tiền tệ của từng
nước.
Ví dụ: Hàm lượng vàng của một bảng Anh (GBP) là 2,488281 gam và
của một đô la Mỹ là 0,888671 gam. Do đó, tỷ giá hối đoái của GBP và USD
là:
GBP/USD=2,488281/0,888671=2,80
Trong chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái của một nước cũng như trên
thế giới khá ổn định và thường chỉ biến động theo mức tăng giảm hàm lượng
vàng chứa đựng trong mỗi đơn vị tiền tệ.
Do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế
giới lần thứ nhất, đặc biệt là do những bất lợi của chế độ bản vị vàng (kiềm
chế sự phát triển kinh tế và giao lưu kinh tế quốc tế ) nên phần lớn các
Giả sử tỷ giá USD/JPY = 50 thì điều đó có nghĩa: thép của Nhật bị đắt
tương đối so với thép của Mỹ. Khi đó cầu thép của Nhật sẽ giảm xuống cho
đến khi giá thép của Nhật còn 5000 JPY/tấn hoặc tỷ giá phải nâng lên
USD/JPY = 100 (tức là giảm giá đồng JPY). Tương tự khi tỷ giá là 150
JPY/USD thì xu hướng là cầu thép của Nhật tăng tới 15.000JPY/tấn hoặc tỷ
giá phải giảm xuống đến 100 JPY/USD (tăng giá đồng JPY).
Trên cơ sở quy luật một giá, thuyết PPP phát biểu rằng: Tỷ giá bất kỳ
giữa hai đồng tiền của hai nước sẽ bằng tỷ số mức giá của hai nước đó tại
cùng thời điểm.
Ví dụ: Thép Nhật tăng giá 11.000 JPY/tấn, thép Mỹ vẫn ở giá 100
USD/tấn, tỷ giá cũ là 100 JPY/USD, thì lúc đó thuyết PPP nói rằng tỷ giá sẽ
8
được điều chỉnh theo hướng giảm giá đồng JPY, tức là bằng 110 JPY/USD.
Việc vận dụng thuyết PPP chỉ cung cấp cho ta một hướng dẫn lâu dài về sự
vận động của tỷ giá.
Tuy nhiên, trong ngắn hạn nó không được hoàn hảo, thậm chí còn bị
sai lệch đáng kể vì thị trường là không hoàn hảo, tồn tại chi phí vận chuyển,
bảo hiểm, thanh toán, thông tin và nhiều hàng rào thương mại khác, do đó,
thuyết PPP tuyệt đối hiếm khi thấy trong thực tế, nhưng thuyết PPP tương
đối lại khá phổ biến.
Thuyết PPP tương đối được duy trì, dù cho sức mua của đồng tiền
không giống nhau ở mọi nơi, thay đổi mức giá cả giữa hai quốc gia được hấp
thụ bởi sự biến động của tỷ giá, do đó, quan hệ PPP được duy trì không thay
đổi. Nếu nước A có tỷ lệ lạm phát bằng 0% và nước B có tỷ lệ lạm phát bằng
10% thì đồng tiền của nước B phải giảm giá 10% so với đồng tiền của nước
A. Sự biến động của tỷ giá sẽ duy trì tỷ lệ giá cả giữa hai nước trước và sau
khi lạm phát xảy ra là không thay đổi.
Nếu thuyết PPP tương đối hoạt động, có hiệu lực ngay lập tức và chính
xác, thì chính sách tiền tệ sẽ không có tác dụng cải thiện cán cân thương
mại. Bất cứ sự thay đổi nào trong các mức giá cả giữa hai nước do thay đổi
mà chỉ đọc những con số thường biến động, đó là những con số cuối. Ví dụ:
USD/DEM = 1,7015 chỉ được đọc các số lẻ sau dấu phẩy. Các số này chia
làm hai nhóm số. Hai số thập phân đầu tiên đọc là “Số” (Figure), hai số kế
tiếp đọc là “Điểm” (Point). Tỷ giá trên đọc là “Đô la, Đê mác bằng một, bảy
mươi số, mười lăm điểm”. Cách đọc điểm có thể dùng phân số “một phần
tư” thay vì đọc 25, “ba phần tư” thay vì đọc 75.
Phương pháp yết giá ngoại tệ: Có hai phương pháp yết giá ngoại tệ là
yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp.
Nếu xét ở góc độ thị trường tiền tệ quốc tế, trên thế giới hiện nay chỉ
có hai đồng tiền quốc gia: USD, GBP và hai tiền tệ quốc tế: SDR, EURO
(trước đây là ECU) là dùng cách yết giá trực tiếp (Certain quotation), các
tiền tệ còn lại dùng cách yết giá gián tiếp (incertain quotation):
Ví dụ: USD/DEM, GBP/FRF, SDR/FRF, SDR/FRF
Có nghĩa là giá của USD, GBP hay của SDR, EURO được thể hiện
trực tiếp ra bên ngoài, còn các tiền tệ khác như DEM, FRF, VND mới thể
hiện gián tiếp ra bên ngoài. Ví dụ: USD/VND = 15.000
Tức là giá của một USD bằng 15.000 VND, còn giá của một VND
chưa thể hiện trực tiếp ra bên ngoài; muốn xác định ta làm phép chia như
sau:
1 VND = 1/15000 ≈ 0,00007 USD
10
Nếu xét ở góc độ thị trường tiền tệ quốc gia, thì nước Anh và nước Mỹ
dùng cách yết giá gián tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối, còn các quốc gia
khác lại dùng cách yết giá trực tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối.
1.2. Chính sách tỷ giá
1.2.1. Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được
nhà nước điều chỉnh tỷ giá của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định
nhằm đạt mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó.
Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách
Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ là việc NHTW mua bán có chứng từ có
giá. Tuy nhiên nó chỉ tác động gián tiếp đến tỷ giá mà lại có tác động trực
tiếp đến các biến số kinh tế vĩ mô khác (lãi suất, giá cả). Nó được dùng phối
hợp với nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ để khử đi sự tăng, giảm cung nội
tệ do nghiệp vụ thị trường mở gây ra.
Ngoài ra Chính phủ có thể sử dụng biện pháp can thiệp hành chính như
biện pháp kết hối, quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định
hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ,
quy định hạn chế thời gian mua ngoại tệ, nhằm giảm cầu ngoại tệ, hạn chế
đầu cơ và giữ cho tỷ giá ổn định.
1.2.2.2 Nhóm công cụ gián tiếp
Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất. Cơ chế tác động đến tỷ
giá hối đoái của nó như sau: Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay
đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường. Từ đó tác động đến xu hướng
dịch chuyển của dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn hoặc ít nhất
làm cho người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang
đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Cụ
thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị
trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong
nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi
suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngược lại muốn tăng tỷ giá
sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
Muốn giảm tỷ giá hối đoái thì Chính Phủ có thể quy định mức thuế
quan cao, quy định hạn ngạch và thực hiện trợ giá cho những mặt hàng xuất
khẩu chiến lược. Và ngược lại sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái.
Ngoài ra Chính Phủ có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều
chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ vớiNHTW, quy định mức lãi suất
trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ. Mục đích là phòng ngừa rủi
ro tỷ giá, hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu
mất cân đối.
nước ngoài đầu tư hoặc góp vốn liên doanh. Vốn ngoại tệ hoặc tư liệu sản
xuất được đưa vào nước sở tại thường được chuyển đổi ra đồng nội tệ theo
tỷ giá chính thức. Bên cạnh đó tỷ giá còn có tác động tới chi phí sản xuất và
hiệu quả các hoạt động đầu tư nước ngoài. Do đó sự thay đổi TGHĐ có ảnh
hưởng nhất định tới hành vi của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc quyết
định có đầu tư vào nước sở tại hay không.
13
- Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư thông qua hoạt động tín dụng
quốc tế cũng như việc mua bán các loại chứng khoán có giá trên thị trường.
Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do khi TGHĐ
tăng tổng lợi tức từ khoản vay bằng ngoại tệ lớn hơn lãi suất trong nước sẽ
xảy ra hiện tượng luồng vốn chảy ra nước ngoài và ngược lại TGHĐ giảm
luồng vốn sẽ đổ vào trong nước.
Như vậy muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế
đòi hỏi các quốc gia xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định
hợp lý giảm mức độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước
ngoài.
1.2.3.5. Với nợ nước ngoài
Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ
nước đó hoặc những đồng tiền mạnh nên khi TGHĐ tăng lên cũng đồng
nghĩa với sự tăng lên của gánh nặng nợ nước ngoài. Ngày nay khi sự luân
chuyển vốn quốc tế ngày càng tự do thì các nước đặc biệt các nước đang
phát triển càng cần phải thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo
tăng trưởng và khả năng trả nợ nước ngoài.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ
1.2.4.1. Sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp tiền tệ
Do tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại hối và
nguyên tắc một giá nên khi sức mua của đồng nội tệ tăng lên sẽ làm tỷ giá
giảm xuống và ngược lại
1.2.4.2. Cán cân thanh toán quốc tế
nổi có quản lý nhưng mức độ quản lý hay thả nổi là khác nhau ở các quốc
gia khác nhau.
1.3.1. Nhóm các nước có đồng tiền mạnh
Những nước này gần như tự do ngoại hối và thống nhất một tỷ giá duy
nhất cho tất cả các hoạt động có liên quan. Các nước này có khả năng dự trữ
ngoại tệ của NHTW dồi dào, có thị trường ngoại hối phát triển ở mức độ
cao, các công cụ gián tiếp mà NHTW sử dụng rất phong phú, đa dạng và có
tính chất hỗ trợ nhau. Điển hình ở nhóm này là Mỹ.
Thị trường tiền tệ, ngoại hối của Mỹ là thị trường phát triển và hoàn
chỉnh vào loại nhất thế giới, nghệ thuật điều chỉnh tỷ giá của họ cũng đạt đến
độ hoàn hảo và có ảnh hưởng toàn cầu. Chính sách đồng đô-la yếu, rơi tự do
chính là yếu tố kích thích xuất khẩu của Mỹ, thúc đẩy tăng trưởng tạo ra
nhiều nhu cầu việc làm, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp vốn vẫn lơ lửng
15
như một mối đe doạ với siêu cường quốc kinh tế thế giới. Về dài hạn, chính
sách này ít nguy cơ gây tăng mạnh lạm phát và sẽ làm tăng lãi suất và kích
thích các nhà đầu tư nước ngoài tạo ra hàng tỷ đô-la cho Mỹ trang trải các
thâm hụt trong ngân sách và tài khoản vãng lai.
1.3.2. Nhóm các nước đang chuyển đổi về cơ cấu kinh tế (Ba Lan,
Nga, Séc…)
Các nước trong nhóm này đều gắn đồng tiền với một số ngoại tệ nhất
định (Ba Lan với 5 đồng tiền USD, DEN, GBP, FRF, CHF; CH Séc với 2
đồng tiền DEM, USD) tỷ giá được công bố hàng ngày với mức dao động
cho phép. NHTW sẽ can thiệp khi tỷ giá ra ngoài biên độ dao động. Trong
giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường, dự trữ ngoại tệ thấp, thị trường
hối đoái và nội tệ chưa phát triển thì cơ chế trên tỏ ra là một điểm tựa tương
đối chắc chắn cho NHTW trong việc kiểm soát chính sách tỷ giá. Chúng ta
sẽ xem xét trường hợp của nước Nga.
Trước cuộc khủng hoảng T8/1998, chủ trương thực hiện liệu pháp
‘sốc’ để cải tổ nền kinh tế, Chính phủ Nga đã áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi
định có thể thành công và thích hợp với công cuộc cải cách kinh tế- xã hội.
1.3.3. Nhóm các nước Châu Á và khu vực ASEAN
Các nước ASEAN đa số đều thả nổi TGHĐ, không quy định giới hạn
với các NHTM. Đa số các nước này có thị trường hối đoái phát triển, thị
trường chứng khoán có tốc độ tăng trưởng cao, mức dự trữ ngoại tệ lớn đủ
điều kiện để tiến tới tự do hoàn toàn, NHTW có đủ sức cũng như các công
cụ để can thiệp trong trường hợp cần thiết.
Trung Quốc là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng mạnh và hàng đầu
ở Châu Á, T4/1994 Chính Phủ nước này đã chính thức công bố thực hiện
chính sách TGHĐ “thả nổi có quản lý”: tỷ giá đồng NDT được dao động
trong một biên độ hẹp và NHTW có thể điều chỉnh tỷ giá mục tiêu trên cơ sở
các biện pháp kiểm soát chặt chẽ vốn vào ra của Chính phủ. Điều này không
những làm ổn định tiền tệ mà còn tạo được lòng tin của nhõn dõn thông qua
việc đưa đồng tiền đến gần giá trị thực của nó. T12/1996, NDT được chính
thức chuyển đổi trong các giao dịch trên tài khoản vãng lai sau khi đựơc ấn
định ở mức 8.27 NDT/USD( biên độ dao động 0.125% ). Chế độ tỷ giá mới
này đã biến Trung Quốc thành khu vực an toàn, thu hút đầu tư rất mạnh kể
cả trong thời kỳ khủng hoảng khu vực, thay thế Mỹ trở thành nước thu hút
FDI lớn nhất thế giới, dự trữ ngoại tệ chỉ xếp sau Nhật Bản. Vai trò của đồng
NDT ngày càng được củng cố và nâng cao trên khu vực và thế giới.
Ngày 31/7/2005, Trung Quốc tuyên bố TGHĐ đồng NDT căn cứ
vào “giỏ” ngoại tệ gồm USD, Euro, yên Nhật và đồng won Hàn Quốc.
NHTW Trung Quốc mới đây đã tăng giá NDT 2% nhằm làm dịu tình trạng
mất cân bằng trong mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc, mở rộng kích cầu
trong nước cũng như nâng cao mức cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường
quốc tế, nâng cao hiệu quả tận dụng vốn nước ngoài…Người phát ngôn
NHTW Trung Quốc cho biết: hiện nay khâu quản lý ngoại tệ của nước này
đã được nới lỏng dần dần, việc xây dựng thị trường ngoại tệ không ngừng
tăng cường, các cuộc cải cách tiền tệ đã thu được tiến triển thực chất, kiểm
soát vĩ mô thu được thành quả nổi bật, kinh tế quốc dân tiếp tục duy trì đà
sở :
Đấu thầu tại trung tâm giao dịch ngoại tệ từ 10/1991 đến 31/12/1994.
Do đó nội dung tỷ giá đã hàm chứa yếu tố cung cầu ngoại tệ trên thị trường
Tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng từ
1/1995 đến 2/1999. Chính vì vậy nội dung tỷ giá đã hàm chứa nội dung cung
cầu ngoại tệ toàn diện và khách quan hơn trước.
Ngoài ra trong giai đoạn này đã nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính- tiền
tệ Đông Nam Á 1997-1998.
Giai đoạn thứ tư: Từ tháng 2/1999 đến nay
Đặc trưng cơ bản của thời kỳ này là thay vì ấn định và công bố tỷ giá
chính thức, NHNN bây giờ chỉ “thông báo” tỷ giá giao dịch bình quân liên
ngân hàng. Đây là thời điểm chuyển từ chế độ tỷ giá cố định (tỷ giá chính
thức ) sang chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết.
Trong bốn giai đoạn nêu trên, bài thảo luận này xin được điểm qua
những nét nổi bật trong 3 giai đoạn đầu và đi sâu vào giai đoạn gần đây
nhất với chính sách tỷ giá thả nổi có điều tiết từ 2/1999 đến nay.
2.1. Giai đoạn trước 1989: Cố định và đa tỷ giá
a) Bối cảnh kinh tế
Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đóng cửa và
hướng nội. Đây là thời kỳ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Các bạn hàng chủ yếu là các nước XHCN trong hội đồng tương trợ
kinh tế. Hình thức trao đổi thương mại chủ yếu là hàng đổi hàng giữa các
nước theo một tỷ giá đã được thoả thuận trong hiệp định ký kết song phương
hay đa phương.
19
b) Chính sách tỷ giá (phương pháp xác định, chính sách quản lý)
Tỷ giá trong giai đoạn này được xác định dựa trên việc so sánh sức
mua giữa hai đồng tiền, sau đó được qui định trong các hiệp định thanh toán
được ký kết giữa các nước XHCN.
Tỷ giá của Việt Nam lần đầu tiên được công bố vào ngày 25/11/1955 là
hối đoái giữa VND và các ngoại tệ khác chỉ mang tính hạch toán.
20
Quan hệ về cung cầu ngoại hối trên thị trường đã không được phản ánh
đúng đắn trong tỷ giá. Biểu hiện rõ nhất của tình trạng này là việc tồn tại
một thị trường “chợ đen” với một tỷ giá khác xa tỷ giá chính thức.
Năm Tỷ giá chính thức Tỷ giá thị trường tự do
1985 15 115
1986 80 425
1987 368 1.270
1988 3.000 5.000
1989 3.900 4.750
Do đồng tiền Việt Nam được định giá quá cao so với các đồng tiền tự
do chuyển đổi nên:
- Cán cân thương mại bị thâm hụt nặng, xuất khẩu gặp nhiều bất lợi
trong khi nhập khẩu thì có lợi và thường xuyên tăng lên. Hậu quả là hàng nội
bị hàng ngoại chèn ép, sản xuất trong nước bị đình đốn.
- Nhà nước phải áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ để bù lỗ cho các đơn vị
sản xuất hàng xuất khẩt nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa đủ bù
đắp chi phí sản xuất.
- Cán cân thanh toán bị bội chi, dự trữ ngoại tệ bị giảm sút, phản ứng
của chính phủ lúc này là tăng cường quản lý ngoại hối, bảo hộ mậu dịch và
kiểm soát hàng nhập khẩu. Nhưng từ đó nảy sinh tình trạng khan hiếm vật
tư, hàng hóa, nguyên vật liệu cần thiết khiến cho tốc độ tăng trưởng chậm
lại, sản xuất trong nước trì trệ, đình đốn lại càng trở nên tồi tệ, sức ép lạm
phát tăng vọt.
2.2. Thời kỳ 1989-1991 : “Thả nổi” tỷ giá
a) Bối cảnh kinh tế.
Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, quan hệ ngoại thương được bao cấp với các
thị trường truyền thống bị gián đoạn, khiến chúng ta phải chuyển sang buôn
bán với khu vực thanh toán bằng đồng Đô-la Mỹ.
Đồng Việt Nam liên tục bị mất giá so với Đô la Mỹ làm giá cả hàng
nhập khẩu tăng nhanh. Chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất tăng lên là
22
điều kiện thúc đẩy lạm phát. Tỷ lệ lạm phát của nước ta tăng trở lại: từ
34,7% năm 1989 lên 67,5% trong hai năm 1990 và 1991.
2.3. Thời kỳ 1992-2/1999
a) Bối cảnh kinh tế.
Thị trường với các nước XHCN cũ bị thu hẹp một cách đáng kể.
Về phương diện thanh toán quốc tế, Việt Nam đứng trước một tình thế
vô cùng khó khăn. Bên cạnh hệ thống thanh toán đa biên đã bị tan rã, tất cả
các nước CNXH đều đồng loạt chuyển đổi đồng tiền thanh toán với Việt
Nam bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi (chủ yếu là USD). Việc chuyển đổi
đồng tiền thanh toán có ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán của Việt
Nam bằng ngoại tệ vì trước đó, hầu hết nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam đều
bằng đồng Rúp chuyển nhượng, chỉ có một lượng nhỏ bằng ngoại tệ tự do
chuyển đổi.
Điều đó đã dẫn đến cán cân vãng lai và cán cân thương mại thâm hụt
lớn, nhập khẩu gấp 3 lần xuất khẩu. sự thiếu hụt trong cán cân thương mại
được bù đắp bằng các khoản viện trợ, cho vay của các nước CNXH mà chủ
yếu là Liên Xô.
Năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á bùng nổ
buộc các nước này phải tiến hành phá giá mạnh đồng nội tệ và Việt Nam
cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
b) Chính sách tỷ giá.
-Thời kỳ 1992-1994: tỷ giá chính thức hình thành trên cơ sở đấu thầu
tại trung tâm giao dịch ngoại tệ.
Trong thời gian này, NHNN đề nghị với chính phủ thành lập Quỹ điều
hòa ngoại tệ tại NHNN để có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ổn
định tỷ giá. Chính phủ ủy quyền cho Thống đốc được toàn quyền điều hành
quỹ một cách linh hoạt.
hàng.
Thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (20/10/1994). Có qui mô
lớn hơn, hoạt động linh hoạt hơn nên tỷ giá hối đoái ngày càng phản ánh đầy
đủ hơn quan hệ cung cầu thị trường. Qua thị trường liên ngân hàng, ngân
hàng nhà nước nắm bắt dấu hiệu thị trường về tỷ giá hối đoái, công bố tỷ giá
chính thức hàng ngày và biên độ giao dịch cho các ngân hàng thương mại.
Từ tháng 7/1997, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ Châu Á, đồng Việt Nam chịu áp lực giảm giá mạnh đã khiến cho thị
trường ngoại hối rơi vào tình trạng đầu cơ, tích trữ ngoại tệ, cầu ngoại tệ
luôn lớn hơn cung. Trong hai năm 1997-1998, nhà nước đã ba lần chủ động
24
điều chỉnh tỷ giá VND/USD, đồng thời nới rộng biên độ giao dịch giữa các
ngân hàng thương mại với các khách hàng trên thị trường ngoại tệ.
Năm Tỷ giá chính thức
1995 11.021
1996 11.040
1997 11.175
1998 12.985
1999 14.016
c) Tác động đến nền kinh tế.
Cuối giai đoạn, trong thời kỳ xảy ra khủng hoảng tài chính ở khu vực,
tỷ giá tăng lên do điều chỉnh của chính phủ là để tăng cao sức cạnh tranh của
hàng hóa Việt Nam.
Việc tỷ giá của Việt Nam không tăng quá nhanh như của các nước khác
trong khu vực có tác động tích cực vì không tạo tâm lý hoang mang cho
người dân, không gây ra một sức ép lớn lên nợ nước ngoài và hạn chế thiệt
hại cho nhập khẩu.
2.4. Giai đoạn 1999 đến nay: thả nổi có điều tiết
2.4.1.Giai từ tháng 2/1999 đến tháng 12/2002
a) Bối cảnh kinh tế