Sáng kiến kinh nghiệm môn tài chính tiền tệ lớp đại học – nói NHTM là thủ
quỹ
TẠI SAO NÓI NHTM LÀ THỦ QUỸ CỦA NỀN KINH TẾ?????????
Chức năng trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện
các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của
họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM
cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm
chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,
khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà
các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ,
gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức
nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm
được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này
vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc
độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
1 Phạm trù vật chất và phạm trù ý thức
Lịch sứ của triết học cũng là lịch sử của những cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề
cơ bản của triết học với hai phạm trù lớn: vật chất và ý thức. Song, để đi đến được
những quan niệm, định nghĩa khoa học và tương đối hoàn chỉnh về chúng cũng
phải đến một giai đoạn lịch sử nhất định với sự ra đời và phát triển của chủ nghỉa
duy vật biện chứng.
Vật chất, theo Lênin. “là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan,
được đem lại cho con người trong cảm giác,được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh lại, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động để thể hiện sự tồn tại
của mình.Không thể có vật chất không vận động và không có vận động ở ngoài vật
chất.Đồng thời vật chất vận động trong không gian và thời gian.Không gian và
thời gian là hình thức tồn tại của vật chất,là thuộc tính chung vốn có của các dạng
kìm hãm sự phát triển của vật chất.
Tuy vậy,sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất
định chứ nó không thể sinh ra hoặc tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất
được.Và suy cho cùng,dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh
thế giới vật chất .
Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã
hội,đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã
hội .
Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để nghiên cứu,xem xét
các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn,khách thể và chủ thể,vấn đề chân lý
…
Ý nghĩa phương pháp luận .
Do vật chất là nguồn gốc và là cái quyết định đối với ý thức, cho nên để nhận thức
cái đúng đắn sự vật, hiện tượng, trước hết phải xem xét nguyên nhân vật chất, tồn
tại xã hội_ để giải quyết tận gốc vấn đề chứ không phải tìm nguồn gốc, nguyên
nhân từ những nguyên nhân tinh thần nào.“tính khách quan của sự xem xét” chính
là ở chỗ đó .
Mặt khác, ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với vật chất, cho
nên trong nhận thức phải có tính toàn diện, phải xem xét đến vai trò của nhân tố
tinh thần.
Trong hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ những điều kiện khách quan và giải
quyết những nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra trên cơ sở tôn trọng sự thật. Đồng thời
cũng phải nâng cao nhận thức, sử dụng và phát huy vai trò năng động của các
nhân tố tinh thần,tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp cho hoạt động của con người
đạt hiệu quả cao.
Không chỉ có vậy, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ trên khắc phục thái độ
tiêu cực thụ động, chờ đợi, bó tay trước hoàn cảnh hoặc chủ quan, duy ý chí do
tách rời và thổi từng vai trò của từng yếu tố vật chất hoặc ý thức.
1. Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức.
2. Ý thức tác động trở lại vật chất.
Trước hết ta đưa ra định nghĩa của ý thức: ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới
khách quan vào trong bộ não con người thông qua lao động mà ngôn ngữ. Nó là
toàn bộ hoạt động tinh thần của con người như: Tình cảm yêu thương, tâm trạng,
cảm súc, ý trí, tập quán, truyền thống, thói quen quan điểm, tư tưởng, lý luận,
đường lối, chính sách, mục đích, kế hoạch, biện pháp, phương hướng.
Các yếu tố tinh thần trên đều tác động trở lại vật chất cách mạng mẽ. VD. Nếu tâm
trạng của người công nhân mà không tốt thì làm giảm năng suất của một dây
chuyền sản xuất trong nhà máy. Nếu không có đường lối cách mạng đúng đắn của
đảng ta thì dân tộc ta cũng không thể giảng thắng lơị trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và Mĩ cũng như Lê – Nin đã nói “ Không có lý luận cách mạng thì
cũng không thể có phong trào cách mạng”.
Như vậy ý thức không hoàn toàn phụ thuộc vào vật chất mà ý thức có tính độc lập
tương đối vì nó có tính năng động cao nên ý thức có thể tác động trở lại. Vật chất
góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con
người.
Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thấy đẩy hoạt động thực
tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất. Khi phản ánh đúng
hiện thực khách quan thì chúng ta hiểu bản chất quy luật vận động của các sự vật
hiện tượng trong thế giới quan.
VD1. Hiểu tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở hơn 10000C thì con người tạo
ra các nhà máy gang thép để sản xuất cách loại thép với đủ các kích cỡ chủng loại,
chứ không phải bằng phương pháp thủ công xa xưa.
VD2. Từ nhận thức đúng về thực tại nền kinh tế của đất nước. Tư sản đại hội VI,
đảng ta chuyển nền kinh tế từ trị cung, tự cấp quan liêu sang nền kinh tế thị
trường, nhờ đó mà sau gần 20 năm đất mới bộ mặt đất nước ta đã thay đổi hẳn.
Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động thực
tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới quan. VD. Nhà máy sử lý rác
thải của Đồng Tháp là một ví dụ điển hình, từ việc không khảo sát thực tế khách
quan hay đúng hơn nhận thức về việc sử lý rác vô cơ và rác hữu cơ là chưa đầy đủ
xuất và quan hệ sản xuất,nếu tiếp tục bạn có thể nói tiếp về tính chất trong sử dụng
lao động và các đặc điểm sở hữu trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.Các mối
quan hệ về quản lý tổ chức và quan hệ phân phối bạn cũng hoàn toàn có thể phân
tích dựa trên các yếu tố này nhưng phải gắn nó với tính chất của hoạt động sản
xuất,sử dụng lao động và tính chất của người lao động và kẻ sử dụng lao động
trong hoạt động sản xuất.cách tôt nhất để có thể trình bày phân tích mối quan hệ
này đó là bạn hãy phải gắn nó với việc phân tích tất cả quá trình phát triển của
quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất,nếu bạn sử dụng các bài viết có tình chất lý
luận chung thì chỉ đơn thuần là nhắc lại các quy luật một cách phổ quát và mang
tính giáo điều,chính vì vậy khi đọc giáo trình kinh tế chính trị Max-Lênin nếu
không tự đặt ra các câu hỏi thì bạn khó có thể hiểu được nó nhiều hơn một phép
toán cộng trừ.
Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định .Phương
thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những
giai đoạn nhất định trong lịch sư tồn tại và phát triển của xã hội loài người
.Phương thưc sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống
kinh tế xã hội .Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản
xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong
quá trình sản xuất vật chất .Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con
người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm
người lao động với kỹ năng lao động của họ và các tu liêu lao động truớc hết là
công cụ lao động .Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì yếu tố người lao
động là yếu tố chủ thể (là yếu tố quang trọng nhất) của quá trình lao động vơi sức
mạnh và kỹ năng lao động của mình sử dụng tư liệu lao động. Cùng với quá trinh
lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng hoàn
thiện ,tăng lên dặc biệt là tri thức trí tuệ của con người, hàm lượng trí tuệ trong láo
động ko ngừng gia tăng. Cùng vơi người lao động ,công cụ lao động cũng là yếu
tố cơ bản của lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất;
và công cụ lao động cũng ko ngường dược phát triển và hoàn thiện hơn chính điều
+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ
yếu (gọi tắt là
quan hệ sở hữu)
+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức, quản lý xã hội và trao đổi họat
động cho nhau (gọi tắt là
quan hệ tổ chức, quản lý)
+ Quan hệ giữa người với người trong
phân phối, lưu thông sản phẩm làm ra (gọi tắt là quan hệ phân phối lưu thông)
Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sử hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu
là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã hội. Quan hệ về sở hữu quyết định
quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sả phẩm làm ra.
Quy luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt ,hai phương thức cơ bản của quá
trình sản xuất ra của cải vạt chất ;chúng ko tồn tại độc lập tách rời nhau mà có mối
liện hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thanh quy luật phù hợp
giữa quan hệ sản xuất và trình độ lực lượng sản xuất. Quy luật cơ bản nhất của quá
trình vận động và phát triển xã hội. Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là
không ngừng phát triển ;sự phát triển đó xét cho cùng bắt nguồn tự sự biến đổi và
phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh
dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Sự vận động và phát triển của lực lượng
sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một
phương thức sản xuất mới ra dời khi đó quan hệ sản xuát phù hợp với trình độ lực
lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến một trình độ nhất
định làm cho quan hệ sản xuất từ chổ phù họp trở thành lạc hậu kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất yêu cầu khách quan hoặc phát triển của lực lượng sản
xuất tất yếu dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất
mới phù hợp hơn với trình độ của lực lượng sản xuất, lúc này để thúc đẩy lực
lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng qua hệ sản
xuất mới có nghĩa là sẽ có một phương thức sản xuất khac ra đời thay thế phương
thức sản xuất cũ.
chỉnh quan hệ sản xuất cả tầm vĩ mô và vi mô, đồng thời coi trọng việc đẩy mạnh
phát triển lực lượng sản xuất.
Hiện nay Đảng ta đang lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc công nghiệp hóa –
hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Muốn làm tốt trọng trách này,
thì phải tạo điều kiện cho bản thân nền kinh tế, trong đó thành phần kinh tế tư
nhân là một thành phần rất năng động, hiệu quả. Có điều kiện này thì Đảng mới có
thể có thêm kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ cụ thể để lãnh đạo thành công mục
tiêu tăng trưởng kinh tế đó chính là làm cho lực lượng sản xuất phát triển
Trong tiến trình lãnh đạo và quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước ta trong suốt
mấy chục năm qua thực tiễn đã cho thấy những mặt được cũng như những những
mặt còn hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng các quy luật kinh tế cũng
như quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với
đặc điểm của nước ta là Nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất
thấp kém, con trâu đi trước cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản
xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác Nước ta là nước thuộc địa nửa phong
kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao vây cấm
vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất chưa có điều kiện
phát triển.
Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH trong điều kiện
nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chí trị tư tưởng để xóa
bỏ nhanh chế độ tư hữu, chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân
và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã
hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Song trong thực tế
cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật
QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, đã để lại hậu quả là:
Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán
nhỏ ) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao động và
TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới hình thức cá nhân bị tập
trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi TLSX, không
làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không
cũng không thể tùy tiện dựng lên, hay thủ tiêu chúng khi lực lượng sản xuất không
đòi hỏi. Do vậy, khi quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải tính đến sự biến đổi phức tạp
từ quan hệ sản xuất, trong đó trực tiếp là chế độ sở hữu.
Quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, cũng như quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của giới
nghiên cứu lý luận, song ở đây, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát
hiện ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá
của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ
sở sâu xa làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của
xã hội tư bản. Từ đó, các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu. Việc thay thế chế độ tư hữu bằng
chế độ công hữu, theo quan điểm của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc,
mà phải là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, vào giai đoạn lịch sứ đó, các ông chưa
chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu.
Kiểu quan hệ sản xuất – quan hệ sở hữu này hay kiểu quan hệ sản xuất – quan hệ
sở hữu khác tuỳ thuộc vào tính chất và trình độ lực lượng sản xuất. Ở nước ta hiện
nay trình độ lực lượng sản xuất còn thấp lại không đồng đều giữa các ngành, các
vùng. Có những vùng, miền mà người dân vẫn dùng cái cuốc, con trâu để lao động
nhưng cũng có nơi lao động trong phòng thí nghiệm, trong khu công nghệ cao.
Do vậy, tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất, nên chưa thể đặt vấn đề xoá ngay mọi hình thức bóc lột. Chỉ đến
khi trình độ xã hội hóa sản xuất phát triển cao mâu thuẫn với chế độ sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất, thì khi ấy mới có điều kiện chín muồi thực hiện cuộc
cách mạng xây dựng xã hội không còn bóc lột. Chúng ta không thể thủ tiêu chế độ
sở hữu ngay lập tức được mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào đã tạo
được một lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa cao độ với năng suất lao động rất
cao thì khi đó mới xoá bỏ được chế độ tư hữu.
Đất nước chúng ta đang thực hiện nhất quán nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Do vậy, mục đích là phải sản xuất ra thêm nhiều giá trị thặng dư.
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Rút ra ý nghĩa:
Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định .Phương
thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những
giai đoạn nhất định trong lịch sư tồn tại và phát triển của xã hội loài người
.Phương thưc sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống
kinh tế xã hội .Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản
xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong
quá trình sản xuất vật chất .Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con
người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm
người lao động với kỹ năng lao động của họ và các tu liêu lao động truớc hết là
công cụ lao động .Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì yếu tố người lao
động là yếu tố chủ thể (là yếu tố quang trọng nhất) của quá trình lao động vơi sức
mạnh và kỹ năng lao động của mình sử dụng tư liệu lao động. Cùng với quá trinh
lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng hoàn
thiện ,tăng lên dặc biệt là tri thức trí tuệ của con người, hàm lượng trí tuệ trong láo
động ko ngừng gia tăng. Cùng vơi người lao động ,công cụ lao động cũng là yếu
tố cơ bản của lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất;
và công cụ lao động cũng ko ngường dược phát triển và hoàn thiện hơn chính điều
này đã làm biến đổi tu liệu sãn xuất Trong sự phát triên của lực lượng sản xuất
,khoa học kỹ thuật có vai trò ngày càng quan trọng và đang dần trở thành một lực
lượn sản xuất trực tiếp trong nền sản xuấ thiện đại.
Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và các đối tượng lao động. Ba yếu tố vật
chất quan trọng nhất của quá trình sản xuất là: lao động, tư liệu lao động và đối
tượng lao động. Ba yếu tố đó trong bất cứ thời đại nào,ở bất cứ xứ sở nào cũng
không thể thiếu để tiến hành.
Những tư liệu lao động như trên cùng với các đối tượng lao động tạo thành cái gọi
là những tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất là gồm hai “yếu tố vật chất” kể trên,
là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã hội. Quan hệ về sở hữu quyết định
quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sả phẩm làm ra.
Quy luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt ,hai phương thức cơ bản của quá
trình sản xuất ra của cải vạt chất ;chúng ko tồn tại độc lập tách rời nhau mà có mối
liện hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thanh quy luật phù hợp
giữa quan hệ sản xuất và trình độ lực lượng sản xuất. Quy luật cơ bản nhất của quá
trình vận động và phát triển xã hội. Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là
không ngừng phát triển ;sự phát triển đó xét cho cùng bắt nguồn tự sự biến đổi và
phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh
dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Sự vận động và phát triển của lực lượng
sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một
phương thức sản xuất mới ra dời khi đó quan hệ sản xuát phù hợp với trình độ lực
lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến một trình độ nhất
định làm cho quan hệ sản xuất từ chổ phù họp trở thành lạc hậu kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất yêu cầu khách quan hoặc phát triển của lực lượng sản
xuất tất yếu dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất
mới phù hợp hơn với trình độ của lực lượng sản xuất, lúc này để thúc đẩy lực
lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng qua hệ sản
xuất mới có nghĩa là sẽ có một phương thức sản xuất khac ra đời thay thế phương
thức sản xuất cũ.
Lực lượng sản xuất thay đổi và quyết định đến quan hệ sản xuất nhưng bản thân
quan hệ sản xuất cũng có sự độc lập tương đối của nó và tác động trở lại qua hệ
sản xuất. Quan hệ sản xuất mới quy định mục đích sản xuất ,tác động đén tháu, tác
động đến con người lao động trong qua trình lao động ,đến tổ chức phân công lao
động xã hội. Quan hệ sản xuất phù hợp vói trình đô lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hoăc “tiên
tiến ” hơn trình đọ lực lượng sản xuất 1 cách giả tạo thì sẽ kìm hãm, hạn chế sự
phát triển của lực lượng sản xuất như nước ta từ sau năm 1975 đến năm 1986,
chúng ta đã kéo quá dài cơ chế chính sách kế hoạch hoá tập trung, bao cấp với tư
mấy chục năm qua thực tiễn đã cho thấy những mặt được cũng như những những
mặt còn hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng các quy luật kinh tế cũng
như quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với
đặc điểm của nước ta là Nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất
thấp kém, con trâu đi trước cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản
xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác Nước ta là nước thuộc địa nửa phong
kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao vây cấm
vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất chưa có điều kiện
phát triển.
Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH trong điều kiện
nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chí trị tư tưởng để xóa
bỏ nhanh chế độ tư hữu, chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân
và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã
hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Song trong thực tế
cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật
QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, đã để lại hậu quả là:
Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán
nhỏ ) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao động và
TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới hình thức cá nhân bị tập
trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi TLSX, không
làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không
phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến TLSX trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho
tập thể.
Thư hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý
TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu
chi phối, định đoạt TLSX & sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ
là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng
số lượng & chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công
hữu về TLSX cùng với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền
(bộ, ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị
sở sâu xa làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của
xã hội tư bản. Từ đó, các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu. Việc thay thế chế độ tư hữu bằng
chế độ công hữu, theo quan điểm của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc,
mà phải là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, vào giai đoạn lịch sứ đó, các ông chưa
chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu.
Kiểu quan hệ sản xuất – quan hệ sở hữu này hay kiểu quan hệ sản xuất – quan hệ
sở hữu khác tuỳ thuộc vào tính chất và trình độ lực lượng sản xuất. Ở nước ta hiện
nay trình độ lực lượng sản xuất còn thấp lại không đồng đều giữa các ngành, các
vùng. Có những vùng, miền mà người dân vẫn dùng cái cuốc, con trâu để lao động
nhưng cũng có nơi lao động trong phòng thí nghiệm, trong khu công nghệ cao.
Do vậy, tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất, nên chưa thể đặt vấn đề xoá ngay mọi hình thức bóc lột. Chỉ đến
khi trình độ xã hội hóa sản xuất phát triển cao mâu thuẫn với chế độ sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất, thì khi ấy mới có điều kiện chín muồi thực hiện cuộc
cách mạng xây dựng xã hội không còn bóc lột. Chúng ta không thể thủ tiêu chế độ
sở hữu ngay lập tức được mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào đã tạo
được một lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa cao độ với năng suất lao động rất
cao thì khi đó mới xoá bỏ được chế độ tư hữu.
Đất nước chúng ta đang thực hiện nhất quán nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Do vậy, mục đích là phải sản xuất ra thêm nhiều giá trị thặng dư.
Vấn đề bóc lột hay không bóc lột thể hiện trong quan hệ phân phối. Bình đẳng
trong phân phối được thực hiện dưới những hình thức cụ thể như thế nào là tùy
thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đối với đất nước của chúng ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường hợp với xu
thế của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta. Tuy nhiên, chúng ta tiến lên chủ
nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa, nên phải trải qua nhiều khâu trung gian (thời kỳ quá độ).
Điểm nổi lên là kinh tế của chúng ta còn quá nghèo nàn, lạc hậu … vì vậy khâu
trọng yếu mà chúng ta phải xây dựng đó là phát triển lực lượng sản xuất, đẩy