Bài giảng môn học Phát triển sản phẩm - Pdf 21

ch ơng 1
tổng quan về môn học phát triển sản phẩm
1.1. Đối tợng của môn học
- Khái niệm về sản phẩm: Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất
hoặc cung ứng dịch vụ, nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu thụ.
Khách hàng là mục tiêu của sản phẩm tới. Sản phẩm càng phát huy đợc
những lợi ích chức năng của nó, cũng nh cảm tình mà nó mang lại cho khách
hàng càng lớn, thì càng kích thích họ mua sản phẩm nhiều hơn.
Phát triển sản phẩm chính là mục tiêu tối quan trọng mà các nhà sản xuất
kinh doanh luôn hớng tới, là một quá trình lâu dài nhằm hoàn thiện sản phẩm
tới mức tối đa; Đó cũng là mục tiêu tăng thị phần của sản phẩm, tăng trởng kinh
doanh và thoả mãn tối đa yêu cầu của khách hàng.
Phát triển sản phẩm là một nội dung yêu cầu các nhà sản xuất kinh doanh
phải nghiên cứu một cách tổng hợp các yếu tố nh nguyên liệu, công nghệ, chất
lợng sản phẩm, bao bì, nhãn hiệu ... thị trờng và các chính sách khác phục vụ
cho sản phẩm của mình.
Phát triển sản phẩm không có nghĩa chỉ dành cho sản phẩm đã có chỗ
đứng trên thị trờng, mà có thể là cho một sản phẩm mới đợc nhen nhóm bởi một
ý tởng có căn cứ từ nhu cầu của thị trờng hoặc một ý tởng sáng tạo từ một
nghiên cứu khoa học - công nghệ đã tạo ra sản phẩm mới có khả năng tiêu thụ
trên thị trờng.
1.2. Nhiệm vụ và mối quan hệ với các môn học khác
Phát triển sản phẩm là một quá trình kết hợp các kiến thức chuyên môn,
cũng nh kết quả nghiên cứu của các lĩnh vực kinh tế, thị trờng, khoa học công
nghệ. Tuy nhiên để phát triển sản phẩm cũng có thể hớng vào phát triển ở một
mặt nào đó; Ví dụ hớng vào thị trờng bao gồm việc phát huy thơng hiệu sản
phẩm, quảng cáo, có các chính sách tiêu thụ sản phẩm phù hợp ... hoặc hớng
1
vào công nghệ sản xuất nh: đầu t trang thiết bị, công nghệ hiện đại, tự động hoá,
thay thế nguyên liệu, hớng vào sản phẩm mới ...
Bởi vậy, môn học phát triển sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với các

đợc chất lợng cho thực phẩm, đảm bảo vệ sinh, an toàn, tăng thời hạn bảo quản,
đáp ứng việc lu thông sản phẩm xa hơn, rộng hơn.
Các loại bao bì đợc dùng từ xa xa nh chai, lọ thuỷ tinh (dùng cho công
nghiệp sản xuất rợu bia hay đóng gói các sản phẩm qua chế biến), nh các loại
hộp sắt tây đợc tráng véc ni trong và ngoài hộp (dung trong công nghiệp đồ hộp
rau quả, thịt cá).
Với tốc độ phát triển mạnh của công nghiệp hoá học đã xuất hiện nhiều
chủng loại bao bì làm từ các hợp chất trùng hợp có cấu tạo phức tạp (ví dụ: hợp
chất silicon, polyetylen, polypropylen ...). Những vật liệu hợp chất trùng hợp có
nhiều u điểm: chắc chắn, độ bền hoá học cao, đàn hồi tốt, hình thức hấp dẫn,
nhẹ, không thấm nớc, không cho khí lọt qua ..., đồng thời chịu đợc các chế độ
thanh trùng nhiệt hoặc không bị biến chất trong điều kiện bảo quản ở thâm độ
(dới 0
0
C).
3
Đến nay chúng ta còn gặp nhiều loại bao bì nh: giấy (bìa) tráng màng
nhựa, giấy (màng) kim loại, các loại nhựa (plastic) ... phù hợp với mọi thực
phẩm, tiện lợi và gần thân thiện với môi trờng.
Đặc biệt các loại bao bì ngoài cũng đợc quan tâm và phát triển mạnh cả
chủng loại, hình thức và chất lợng. Các bao bì ngoài bằng gỗ, kim loại đợc thay
thế dần bằng các loại tôn sóng nhiều lớp, chúng có nhiều u điểm nhẹ, bền,cứng,
chống thấm lại đa dạng mẫu mã và trang trí đẹp, giá rẻ.
2.2. Bao bì với chất lợng và tiêu thụ sản phẩm
2.2.1. Bao bì và an toàn chất lợng thực phẩm
+ Các loại kiểu mẫu bao bì, vật liệu sản xuất bao bì phải phù hợp với sản
phẩm, bảo vệ đợc sản phẩm khỏi nhiễm bẩn, nhiễm vi sinh vật, ngăn chặn h
hỏng và thuận tiện cho việc ghi nhãn đúng (cả nội dung, quy định).
+ Vật liệu làm bao bì không độc, không tạo mối đe doạ nào tới an toàn,
đảm bảo thời hạn bảo quản.

+ Chọn lựa hình ảnh, màu sắc, bố cục trang trí, chữ viết
+ Chọn vật liệu phù hợp với sản phẩm
+ Cũng phải quan tâm đến cả bao bì trực tiếp và bao bì ngoài
+ Tiện ích khi sử dụng hoặc tái sử dụng
2.3. Một vài yếu tố cần chú ý khi lựa chọn bao bì mới
Bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm nên khi lựa chọn bao bì mới cần
nghiên cứu thận trọng mọi mặt:
+ Xác định nguồn gốc, công nghệ chế tạo vật liệu mới, xác định đợc các
d lợng hoá chất độc, các nguy cơ độc hại khác có thể chuyển qua thực phẩm.
+ Tìm hiểu các đặc tính hoá lý của vật liệu, phải đảm bảo các yêu cầu
của bao bì thực phẩm (vệ sinh, an toàn, thanh trùng, bảo quản ...).
+ Tính tiện tích trong sử dụng, lu thông và mức độ thân thiện với môi tr-
ờng.
+ Giá thành phải phù hợp, rẻ.
2.4. ảnh hởng của bao bì đến môi trờng
Bao bì sau sử dụng thuộc loại rác thải sinh hoạt, không độc hại. Về mức
độ nguy hại với môi trờng thì rác thải bao bì không bằng rác thải công nghiệp,
bệnh viện hay các loại khí thải khác. Trong bao bì sau sử dụng còn chứa đựng
một lợng thực phẩm sót lại, đây là các loại thực phẩm có chứa các chất dinh d-
5
ỡng, nên là môi trờng thuận lợi cho vi sinh vật gây chua, gây thối xâm nhập,
hoạt động, phát triển. Với thói quen xả rác bừa bãi, các loại bao bì sau sử dụng
sẽ là nguy cơ phát tán vi sinh vật, mầm bệnh vào không khí, nguồn nớc, đất tác
động xấu đến môi trờng.
Những loại bao bì là vật liệu trùng hợp (Polime) thời gian phân huỷ rất
lâu (tới hàng chục năm), bởi vậy biện pháp chôn lấp là không hiệu quả, phải
bằng biện pháp thiêu đốt rất tốn phí. Loại bao bì này không tái chế hay tái sử
dụng đợc.
Hầu hết các loại bao bì là kim loại, thuỷ tinh, các tông, giấy, thì có tới
70% đợc thu hồi để tái sử dụng và tái chế. Đây là các loại bao bì thân thiện với

3.1.1. Vi sinh vật
Vi sinh vật bao gồm 5 nhóm: vi khuẩn, nấm men, nấm mốc, vi rut và ký
sinh trùng là thủ phạm hàng đầu gây ra những h hỏng thực phẩm.
Thực phẩm nói chung (bao gồm cả tơi sống và đã chế biến) bản chất là
những hợp chất hữu cơ giàu dinh dỡng (Protein, gluxit, lipít), là môi trờng thuận
lợi cho vi sinh vật xâm nhập và phá hỏng. Các dạng h hỏng của thực phẩm do vi
sinh vật nh: bị thối rữa (do phân huỷ Protein), bị chua (do phân huỷ gluxit), bị
oxi hoá (các chất béo), tạo mùi, màu sắc hoặc biến đổi trạng thái của sản phẩm.
Nguy hại hơn là một số loài vi sinh vật gây bệnh hoặc tiết ra độc tố, nhiễm vào
thực phẩm là mối quy hại cực kỳ cho an toàn thực phẩm.
a) Đối với thực phẩm tơi sống (nh rau quả, thịt, cá ...)
+ Nguồn gốc vi sinh vật trên thực phẩm tơi sống là chúng có sẵn trên
thực phẩm từ trớc khi thu hoạch. Ví dụ: hệ vi sinh vật rau quả có sẵn trên bề mặt
rau, quả, củ, rễ ... hệ vi sinh vật cá có sẵn trên bề mặt thân cá, mang cá hay
trong ruột cá. Hoặc vi sinh vật bị nhiễm vào thực phẩm qua vận chuyển, bảo
quản, trao đổi.
+ Các dạng hỏng của thực phẩm tơi sống là tuỳ thuộc vào từng hệ vi sinh
vật của thực phẩm ấy, cấu trúc và thành phần hoá học của thực phẩm.
Ví dụ: Cá khi bị nhiễm vi sinh vật và h hỏng thờng có mùi tanh, thối, ơn,
bụng trơng to lên, mắt cá bị phá huỷ, có mầu đục, lõm vào ... Thịt có các dạng
hỏng sau: bị nhầy bề mặt, có mùi khó chịu (thối), mất màu hồng tự nhiên, hoặc
có các màu do nấm mốc. Rau quả có các dạng hỏng sau: bị thối, lên men chua,
có màu sắc của nấm mốc ...
8
b) Đối với thực phẩm đã chế biến (sản phẩm sấy khô, đồ hộp, bánh kẹo,
dăm bông, xúc xích ...)
- Vi sinh vật bị nhiễm trong quá trình chế biến hoặc không đảm bảo đúng
các điều kiện kỹ thuật (nh thanh trùng, sấy, nồng độ muối, pH, bao bì...)
- Bị nhiễm do bảo quản, vận chuyển (nh nhiệt độ và thời gian không đảm
bảo, vận chuyển không đúng quy cách ...).

bất hoạt các enzim, hoặc tạo các phản ứng màu (nh melanoidin).
b) Tác động của ánh sáng
Một số sản phẩm giàu vitamin, yêu cầu phải đợc bảo vệ, không chịu tác
động của ánh sáng. Hoặc ánh sáng có thể phân huỷ màu sắc của sản phẩm.
c) Các chất thêm vào sản phẩm (nh các phụ gia thực phẩm, chất độn,
chất màu, chất hơng)
Những chất này khi thêm vào sản phẩm để tạo những mục đích riêng, có
quy định nghiêm ngặt về liều lợng cho từng loại sản phẩm cụ thể ... Vì vậy
không tuân thủ các yêu cầu trên cùng dẫn đến sự thay đổi hoá học của thực
phẩm.
3.1.4. Các chất bẩn
Các chất bẩn có thể chia thành 3 nhóm:
- Từ môi trờng nhiễm vào nh đất, cát, bụi, rác, lông, tre ...
- Từ nguồn chế biến làm nhiễm bẩn vào qua tay, quần áo, hay dụng cụ
chế biến.
- Từ bao bì nhiễm vào nh vẩy thuỷ tinh bị chóc ra (trong các chai đựng),
các vật liệu từ bao bì dính vào thực phẩm (các mảnh nhỏ, màu sắc, gioăng cao
su ...)
Các chất bẩn đóng vai trò nh một chất trung gian "mang" vi sinh vật vào
thực phẩm hoặc chính các chất bẩn là những chất có hại gây hỏng thực phẩm.
3.1.5. Các yếu tố làm thay đổi tính chất vật lý của thực phẩm
Các tính chất vật lý của thực phẩm gồm:
- Trạng thái sản phẩm (xốp, mềm, cứng, độ sánh, lỏng, sệt, đặc), độ bền
cơ học, độ sáng tối (màu) độ trong, đục, độ đàn hồi ...
10
Những yếu tố làm thay đổi tính chất vật lý của thực phẩm gồm:
a) Nguyên liệu không đảm bảo chất lợng hay thay thế không phù hợp
Ví dụ: Bánh mỳ là một sản phẩm yêu cầu chất lợng phải nở (xốp do các
túi khí đợc bọc bởi màng gluten) sau khi nớng bánh. Nếu chất lợng bột mỳ kém,
hàm lợng gluten thấp thì bánh kem nở, kém xốp.

- Hai là các sản phẩm thực phẩm phải đáp ứng đợc sự phát triển của xã
hội, thực phẩm ngoài việc đảm bảo chất lợng vệ sinh an toàn, dinh dỡng ... còn
phải đáp ứng việc tiết kiệm thời gian, giá rẻ và đa dạng cho mọi đối tợng khách
hàng.
Những u điểm nổi trội của bao bì kích cỡ nhỏ là:
+ Nhà sản xuất tính toán nhu cầu, mong muốn của thị trờng sao cho một
đơn vị sản phẩm phù hợp tiện ích cho ngời dùng nh với một lần ăn (uống) tránh
phải bảo quản, vừa với túi tiền ngời mua, tránh dự trữ cho khách hàng.
+ Kích cỡ sản phẩm phù hợp từng loại hàng, phù hợp với thị hiếu, từng
lứa tuổi khách hàng (đặc biệt là trẻ em, ngời cao tuổi, hay công thức rất hạn chế
về thời gian ...)
+ Sản phẩm có kích cỡ nhỏ tạo điều kiện cho việc mở rộng mạng lới bán
lẻ rộng khắp, tăng nhanh khả năng bán hàng.
+ Cuối cùng là giảm chi phí giá thành của sản phẩm.
+ Thuận tiện trong việc vận chuyển xa, chỉ cần sử dụng các loại màng co,
bao bì các tông mỏng để đóng thùng (tuỳ chọn số lợng đơn vị sản phẩm phù
hợp) với giá rẻ.
12
Ch ơng 4
vật liệu làm bao bì
4.1. Các loại vật liệu cứng
4.1.1. Thuỷ tinh
Thuỷ tinh là một loại vật liệu cứng dùng để sản xuất các loại chai đựng r-
ợu, nớc ngọt, nớc giải khát, gia vị ... hoặc các loại lọ đựng sản phẩm đồ hộp (rau
quả).
Bao bì thuỷ tinh có u điểm sau:
+ Dễ tạo hình theo ý muốn, có nhiều kích cỡ, mẫu mã, màu sắc.
+ Sạch, đẹp, kín, đáp ứng đợc các yêu cầu kỹ thuật nh thanh trùng ở nhiệt
độ cao, chịu áp lực (Ví dụ: chai đựng bia, chai đựng rợu sâm banh, lọ đựng sản
phẩm đóng hộp ...).

kèm theo các phụ kiện khác nh lẵng, làn (mây, tre) để tăng giá trị thẩm mỹ.
Bởi vậy, bao bì gốm sứ có giá thành cao, khó vận chuyển xa, hạn chế thị
trờng tiêu thụ (chỉ tập trung ở các siêu thị, thị trờng lớn).
4.1.3. Vật liệu kim loại
Vật liệu kim loại để làm bao bì là các loại: nhôm, lá thép, lá sắt phủ thiếc
(quen gọi là sắt tây). Để tránh sự xâm nhập các chất có hại từ vỏ bao là kim loại
(bị ăn mòn, rỉ ...) vào thực phẩm ngời ta phải tráng mặt trong bao bì kim loại lớp
vec ni, lớp màng chất trùng hợp hay phải thụ động hoá kim loại.
Bao bì bằng kim loại đợc ứng dụng nhiều để bao gói các sản phẩm thực
phẩm, dợc phẩm, mỹ phẩm. Trong công nghiệp thực phẩm đợc dùng để làm:
+ Các loại lon chịu áp lực (nhôm, sắt) đựng bia, nớc ngọt có ga.
+ Các loại hộp đựng bánh, kẹo, sữa khô, chè khô, hạt, bột khô, đóng hộp
thịt, cá, rau quả ...
+ Làm bao bì ngoài cho các sản phẩm rợu chai.
+ Làm nắp đậy cho chai, lọ thuỷ tinh (nắp chai bia, nắp đồ hộp).
Bao bì kim loại có u điểm:
+ Mẫu mã, kiểu dáng đa dạng, dễ lựa chọn, dễ trang trí bề mặt bao bì.
+ Độ bền cơ học cao, chịu nhiệt, chịu áp lực (cho các sản phẩm đồ hộp).
14
+ Có khả năng tận dụng để tái chế, sử dụng lại.
Tuy nhiên cũng có các nhợc điểm sau:
+ Phải có bao bì ngoài, màng co hay thùng các tông để đóng hàng vận
chuyển xa.
+ Hầu hết nguyên liệu lá kim loại (nhôm, thép, sắt) là phải nhập ngoại.
+ Giá thành bao bì cao.
4.1.4. Vật liệu trùng hợp (hay vật liệu polime)
Việc sản xuất những vật liệu bao bì trùng hợp do lợi ích về nhiều mặt của
nó nên đã trở thành một ngành sản xuất lớn nhất của công nghiệp hoá học.
Những u biệt nổi trội của vật liệu trùng hợp là:
+ Chắc chắn, độ bền hoá học cao, đàn hồi tốt, hình thức hấp dẫn, nhẹ ...

đơn vị sản phẩm nào đấy. Ngời ta có thể dùng các loại gỗ dán mỏng hay gỗ
thanh ghép thành thùng, hòm đựng. Do không trực tiếp tiếp xúc với sản phẩm,
nên yêu cầu chất lợng gỗ không cao (gỗ tạp), không cần qua xử lý ...
4.1.6. Bao bì bằng bìa cứng
Hiện nay xu hớng dùng các loại bao bì từ bìa cứng đợc phổ biến, đợc làm
bao bì ngoài và hòm, thùng đựng.
Các loại bìa cứng đợc sản xuất từ bột giấy, có hai loại bìa cứng:
+ Loại bìa dầy ép cứng, thờng để làm bao bì ngoài.
+ Phổ biến nhất là loại bao bì các tông sóng nhiều lớp (3 hay 5 lớp), loại
này đảm bảo đợc nhiều đặc tính gần nh gỗ dán: có độ dày tuỳ yêu cầu, cứng,
chống ẩm (đợc láng parafin hay một lớp keo chống ẩm), nhẹ, giá rẻ, đáp ứng đ-
ợc nhiều kiểu dáng. Các nhà sản xuất chỉ mua các phôi bìa đã định hình sẵn (có
thể đã trang trí bên ngoài), tiện vận chuyển, không tốn kho, khi đóng gói sản
phẩm mới xếp (hay ghép) thành hộp. Loại vật liệu này đang dần thay thế cho
vật liệu gỗ.
4.2. Vật liệu mềm
4.2.1. Bao bì giấy
Giấy là vật liệu xellulo, đợc sản xuất từ bột giấy. Giấy dễ thấm ớt, thấm
chất béo, dễ rách. Giấy chủ yếu dùng để gói hàng rời (gói hở).
Để dùng giấy làm bao bì (gói kín) hàng hoá, ngời ta thờng kết hợp tráng
lên một mặt giấy lớp parafin, tráng keo bóng (chống thấm) hay tráng một lớp
màng chất trùng hợp, màng kim loại. Nh vậy khi làm bao bì loại giấy này dai,
16
bền, chống thấm, chống ẩm, nhng chỉ dùng cho những sản phẩm không thanh
trùng.
- Nó đợc dùng để làm bao bì cho các sản phẩm nh mì sợi, mì ăn liền, hạt
sấy khô, quả sấy khô ... với khối lợng nhỏ, dễ trang trí, tạo hình.
- Dũng để gói riêng từng cái (kẹo, bánh, kem ...) tiếp xúc trực tiếp với sản
phẩm và đợc xếp trong một bao bì ngoài khác nữa.
- Dùng để bọc (dán) ngoài một loại bao bì khác, tạo vỏ trang trí đẹp, hấp

bảo quản cao, hoặc các loại vải đẹp, có màu sắc ... để lót bao bì, bọc sản
phẩm ... nhằm tăng giá trị thẩm mỹ.
Một số hàng hoá khác có thể đợc dùng từ các vật liệu tự nhiên nh: cói, lá,
sợi đay, gai ... để làm bao bì.
18
CH ơng 5
nhãn hiệu hàng hoá (NHHH)
5.1. Vai trò của nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu hàng hoá có vai trò chính sau:
+ NHHH có vai trò liên quan trực tiếp tới ý đồ định vị hàng hoá của
doanh nghiệp trên thị trờng.
+ Thể hiện lòng tin của ngời mua đối với nhà sản xuất, khi họ dám khẳng
định sự hiện diện của mình trên thị trờng qua NHHH.
+ NHHH làm căn cứ cho ngời mua lựa chọn.
+ NHHH sẽ cho phép doanh nghiệp chú ý đến những lợi ích khác nhau
của khách hàng và tạo ra những khả năng hấp dẫn riêng cho từng loại hàng hoá.
Nhờ vậy mà mỗi loại hàng hoá có thể thu hút đợc cho mình một nhóm khách
hàng mục tiêu riêng.
5.2. Vật liệu làm NHHH
5.2.1. Một số loại nhãn hiệu thông thờng
Theo định nghĩa về NHHH (trong nghị định về nhãn hàng hoá số
89/2006 NĐ.CP) thì:
"Nhãn hàng hoá là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ đ-
ợc dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thơng phẩm của
hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác đợc gắn trên hàng hoá, bao bì thơng phẩm
của hàng hoá."
Nh vậy, theo định nghĩa trên thì vật liệu làm nhãn hiệu hàng hoá là mọi
chất liệu khác nhau, nh: giấy, bìa, Plastic, kim loại, gỗ ... tuỳ theo quyết định
của nhà sản xuất, để thoả mãn việc gắn trên hàng hoá hay bao bì thơng phẩm
của hàng hoá.

vệ sinh, an toàn, hớng dẫn sử dụng, hớng dẫn bảo quản ... (đối với hàng hoá
thực phẩm)
20
5.3.2. Nguyên lý thiết kế nhãn
Nhãn hiệu hàng hoá có các bộ phận cơ bản là:
- Tên nhãn hiệu: Là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc đợc.
- Dấu hiệu của nhãn hiệu bao gồm biểu tợng, hình vẽ mầu sắc hay kiểu
chữ ... đó là bộ phậ của nhãn mà ta có thể nhận biết đợc, mà không đọc đợc.
Ngoài hai bộ phận trên cần quan tâm đến hai khái niệm có liên quan đến
phơng diện quản lý đợc đó là: Dấu hiệu hàng hoá là dấu hiệu nhãn đã đợc tác
giả (đối với loại hàng hoá văn hoá phẩm).
Nguyên lý thiết kế nhãn hiệu hàng hoá gồm 5 nội dung sau:
a) Nhãn hiệu hàng hoá phải dễ nhớ
Đây là điều kiện hết sức cần thiết để tạo nhận thức của nhãn hiệu hàng
hoá với khách hàng. Các yếu tố cấu thành trên đó nh: Tên gọi, biểu tợng, kiểu
chữ ... phải đảm bảo hai yếu tố là dễ chấp nhận, dễ gợi nhớ. Do vậy cần có thử
nghiệm hai yếu tố trên dựa vào nhóm khách hàng mục tiêu đã dự kiến.
b) Nhãn hiệu hàng hoá phải có ý nghĩa
Nhãn hiệu hàng hoá phải chuyên chở đợc một ý nghĩa xác định để tạo ấn
tơng và tác động vào tâm lý khách hàng. Muốn vậy thành phần của nhãn hiệu
vừa có tính mô tả, tính thuyết phục, cũng phải có nét vui vẻ, thú vị và có tính t-
ợng hình cao, gây cảm xúc thẩm mỹ.
c) Nhãn hiệu hàng hoá phải có tính dễ bảo hộ
Nguyên tắc này thể hiện hai khía cạnh: pháp luật và cạnh tranh. Bởi vậy
phải chọn các yếu tố thơng hiệu dễ bảo hộ về mặt pháp luật, bảo vệ nhãn hiệu
chống xâm phạm, sử dụng bí quyết riêng trong thiết kế, tránh bắt chớc.
d) Nhãn hiệu phải có tính dễ thích ứng:
Doanh nghiệp cũng cần chuẩn bị cho những sự điều chỉnh cần thiết một
khi có sự thay đổi thị hiếu khách hàng hoặc chuyển hớng thị trờng mục tiêu. Do
vậy tính dễ cải tiến, tình linh hoạt, dễ cập nhật của nhãn hiệu hàng hoá là không

gồm cả chữ và số) dới dạng máy quét (scaner) có thể đọc đợc (Theo TCVN -
6939 : 1996).
22
Các số trên mã số tơng ứng với các vạch trên mã vạch. Các số trên
MSMV có ý nghĩa nh sau:
+ 3 số đầu (tính từ trái) là mã quốc gia, do tổ chức mã số mã vạch quốc tế
(viết tắt GSI) cấp. Mã quốc gia của Việt Nam là: 893
+ Từ 4 đến 7 chữ số tiếp theo là số phân định doanh nghiệp. Tập hợp dãy
số gồm mã quốc gia và số phân định là mã doanh nghiệp.
+ Các số tiếp theo đến số thứ 13 hay 14 là mã số vật phẩm (sản phẩm,
hàng hoá); Tập hợp mã doanh nghiệp và mã số vật phẩm là mã số thơng phẩm
toàn cầu (chữ viết tắt tiếng Anh là GTIN); loại mã số thơng phẩm toàn cầu gồm
13 số viết tắt chữ tiếng Anh là EAN-13, còn loại mã gồm 14 số là EAN-14.
G hi chú : Mã EAN (là chữ viết tắt tiếng Anh) chỉ mã số tiêu chuẩn do tổ
chức MSMV quốc tế quy định và áp dụng cho toàn thế giới.
Ví dụ: Mã số của Công ty X sản xuất thực phẩm đợc Tổng cục tiêu chuẩn
Đo lờng chất lợng Việt Nam cấp nh sau:
8 9 3 8 5 0 2 9 9 5 . . . . . . .
Ghi chú: Một số vật phẩm là dãy các chữ số để phân định vật phẩm.
5.4.2.2. Đọc MSMV và ứng dụng trong bán hàng
Ngời ta dùng một loại máy quét chuyên dùng để đọc đợc các dữ liệu
trong MSMV gắn trên vật phẩm. Để máy đọc chính xác, chú ý vị trí dán MSMV
phải ở chỗ có mặt phẳng của vật phẩm.
Tổng cục tiêu chuẩn Đo lờng chất lợng là cơ quan quản lý thống nhất các
dữ liệu của MSMV đăng ký tại Việt Nam. Còn mạng GEPIR (Global Electronic
Party Information Registy) là mạng toàn cầu đăng ký điện tử các thông tin về
23
3 số đầu do tổ chức
MSMV quốc tế cấp
cho Việt Nam

Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Tổng cục TCĐLCL tiến hành thẩm định hồ sơ và
khi thấy đã hợp lệ, sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu MSMV cho doanh
nghiệp.
Sau khi đợc cấp mã doanh nghiệp thì doanh nghiệp sử dụng MSMV tự
quy định (đặt ra) mã số phân định san rphẩm, để hoàn thiện mã số thơng phẩm
toàn cầu (GTIN) của mình. Doanh nghiệp sử dụng MSMV gửi danh mục các
24
mã số thơng phẩm toàn cầu GTIN đợc sử dụng cho Tổng cục TCĐLCL để quản
lý chung.
Các doanh nghiệp sử dụng MSMV phải chịu trách nhiệm về sự đơn nhất
của mã số đăng ký sử dụng và chất lợng của mã vạch, tuân thủ theo tiêu chuẩn
quốc gia, quốc tế liên quan.
5.4.3. Mã đơn vị gửi đi
5.4.3.1. Khái niệm
+ Đơn vị gửi đi là gì ? Theo TCVN 6939 : 1996 - đơn vị gửi đi là một tập
hợp ổn định và thống nhất một số đơn vị tiêu thụ dùng để dễ dàng vận chuyển,
lu kho.
+ Đơn vị tiêu dùng là gì ? Theo TCVN 6939 : 1996 - là đơn vị hàng hoá
đề bán cho ngời tiêu dùng thông qua các quầy bán lẻ.
Ví dụ: Đơn vị gửi đi có thể ở các dạng sau: hòm (hay hộp) bằng tấm xơ
ép, pallét đợc bọc hay đóng đai, nhóm các đơn vị trong màng co, khay đợc bọc
bằng lớp màng ...
Đơn vị gửi đi có thể cùng một loại đơn vị tiêu dùng (hộp chứa 1 loại sản
phẩm) hay gồm nhiều loại đơn vị tiêu dùng (ví dụ: hộp chứa 20 gói gồm nhiều
loại mì và phở ăn liền).
5.4.3.2. Mã số các đơn vị gửi đi EAN-14/GUN
Mã số EAN-13 của đơn vị tiêu dùng đợc dùng làm cơ sở để lậpp mã đơn
vị gửi đi EAN-14. Mã này đợc thêm vào 1 chữ số nữa đứng đằng trớc, số này đ-
ợc gọi là "số phơng án giao vận" (viết tắt: VL, từ chữ tiếng Anh: Logistical
Variant) để có thể phân biệt các đơn vị gửi đi khác nhau, nhng chứa cùng một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status