Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh - Pdf 21

®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học
công nghệ, việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là một tất yếu khách quan. Trong trắc
địa cũng vậy, công nghệ GPS đã mở ra một kỷ nguyên mới, đã thay thế công
nghệ truyền thống trong việc thành lập và xây dựng các mạng lưới toạ độ các
cấp.
Ứng dụng công nghệ GPS cho phép chúng ta thành lập các mạng lưới
toạ độ trên diện rộng, không những bao phủ toàn quốc mà còn cho phép liên
kết với các mạng lưới trên thế giới. Công nghệ GPS đã giúp các nhà quản lý
giải quyết được bài toán vĩ mô mang tính toàn cầu.
Chúng ta ứng dụng công nghệ GPS trong hơn 10 năm qua đã giải quyết
được các bài toán lớn như (xây dựng hệ VN2000, thành lập được mạng lưới
Địa chính cơ sở phủ trùm toàn quốc, ghép nối toạ độ VN2000 với các hệ toạ
độ khác, xây dựng trạm DGPS…).
Khi xây dựng khu đô thị, công tác trắc địa đóng vai trò rất quan trọng ,
phục vụ cho công tác quy hoạch và công tác bố trí công trình. Nhằm tìm hiểu
vân đề này, em nhận đề tài: “Phương án kinh tế kỹ thuật xây dựng lưới
khống chế cơ sở bằng công nghệ GPS cho khu đô thị tại xã Vân Canh –
Hoài Đức – Hà Nội ”.
Đồ án gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về công nghệ GPS
Chương II: Thiết kế lưới khống chế cơ sở khu đô thị Vân Canh – Hoài
Đức – Hà Nội.
Chương III: Hạch toán kinh tế.
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
1
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trong quá trình nghiên cứu, em đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình

I.3.5. Các nguồn sai số trong định vị GPS 16
I.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN THÀNH LẬP LƯỚI 19
I.5. CÁC ỨNG DỤNG CỦA GPS TRONG TRẮC ĐỊA 22
I.5.1. Xây dựng lưới khống chế mặt bằng 22
I.5.2. GPS phục vụ đo vẽ địa chính 24
CHƯƠNG II: THIẾT KẾ LƯỚI KHỐNG CHẾ CƠ SỞ KHU ĐÔ THỊ VÂN CANH- HOÀI ĐỨC- HÀ NỘI 26
II.1. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 26
II.2. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH KHU ĐO 28
II.3. THIẾT KẾ LƯỚI GPS 29
II.3.1. Phương án thành lập lưới 29
II.3.2. Thiết kế đồ hình lưới 31
II.3.3. Phương án tổ chức thi công 32
CHƯƠNG III: HẠCH TOÁN KINH TẾ 35
III.1. CĂN CỨ PHÁP LÝ 35
III.2. DỰ TOÁN KINH PHÍ 35
III.2.1. Chi phí trực tiếp A 36
III.2.2. Tính chi phí chung (B) và chi phí khác (F) 39
III.2.3. Thuế giá trị gia tăng 40
III.3. CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ PHÒNG VÀ THỰC HIỆN AN TOÀN LAO ĐỘNG 45
III.4. Các biện pháp nâng cao năng suất lao động 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
3
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
4
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ GPS
Từ những năm 1960, Bộ Quốc phòng Mỹ và cơ quan hàng không quốc

Đoạn điều khiển (Control Segment)
Đoạn sử dụng (User Segment)
I.1.1. Đoạn không gian
Đoạn không gian bao gồm 24 vệ tinh chuyển động trên 6 mặt phẳng
quỹ đạo ở độ cao khoảng 20200km. Mặt phẳng quỹ đạo nghiêng với mặt
phẳng xích đạo trái đất một góc 55
0
. Vệ tinh GPS chuyển đông trên quỹ đạo
gần như tròn đều với chu kỳ 718 phút (12 giờ). Với sự phân bố vệ tinh trên
quỹ đạo, như vậy trong suốt thời gian nào và bất kỳ vị trí quan sát nào trên
trái đất cũng có thể quan sát được tối thiểu 4 vệ tinh.
Hình 1:Các vệ tinh GPS trên bầu trời
trong 24 giờ
Hình 2: Số lượng vệ tinh trong từng
thời điểm
Các vệ tinh GPS có trọng lượng khoảng 1600 kg khi phóng và khoảng
800kg trên quỹ đạo. Theo thiết kế, tuổi thọ của vệ tinh khoảng 7,5 năm. Năng
lượng cung cấp cho hoạt động của các thiết bị trên vệ tinh là năng lượng mặt
trời. Mỗi vệ tinh được trang bị 4 đồng hồ nguyên tử, trong đó có 2 đồng hồ
loại Censium và 2 đồng hồ loại Radium có độ chính xác thời gian là 10
-12
s.
Các đồng hồ này không chỉ có mục đích dự phòng mà còn tạo ra cơ sở giám
sát thời gian và cung cấp giờ. Thêm vào đó, mỗi vệ tinh còn được trang bị bộ
tạo dao động thạch anh với độ chính xác rất cao.
Các vệ tinh GPS đều có thiết bị tạo dao động với tần số cơ sở chuẩn
f
0
= 10.24 MHz. Từ tần số cơ sở thiết bị sẽ tạo ra 2 tần số sóng tải L
1

các vệ tinh hàng ngày qua các trạm theo dõi.
1.1.3. Đoạn sử dụng
Gồm tất cả các máy móc thiết bị nhận thông tin từ vệ tinh để khai thác,
sử dụng cho mục đích và yêu cầu khác nhau như dẫn đường trên biển, trên
không và đất liền, phục vụ cho các công tác đo đạc ở nhiều nơi trên thế giới.
Máy thu GPS là phần cứng quan trọng trong đoạn sử dụng. Nhờ các
tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực điện tử viễn thông và kỹ thuật thông tin tín
hiệu số, các máy thu GPS ngày một hoàn thiện. Một số hãng chế tạo cũng cho
ra đời các máy thu có thể thu đồng thời tín hiệu vệ tinh GPS và GLONASS.
Cùng với máy thu còn có các phần mềm phục vụ xử lý thông tin như
Trimvec, Trimnet Plus, GPSurvey,…. Các phần mềm này ngày càng hoàn
thiện, nâng cao độ chính xác và hiệu quả tính toán, xử lý.
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
7
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
1.2. Các nguyên lý định vị
1.2.1. Các đại lượng đo
Việc định vị bằng GPS thực hiện trên cơ sở sử dụng hai dạng đại lượng
đo cơ bản, đó là đo khoảng cách giả theo các code tựa ngẫu nhiên (C/A-code
và P-code) và đo pha của sóng tải (L
1
, L
2
).
Đo khoảng cách giả theo C/A code và P-code
Code tựa ngẫu nhiên được phát đi từ vệ tinh cùng với sóng tải. Máy thu
GPS cũng tạo ra code tựa ngẫu nhiên đúng như vậy. Bằng cách so sánh code
thu từ vệ tinh và code của chính máy thu tạo ra có thể xác định được khoảng
cách thời gian lan truyền của tín hiệu code, từ đó dễ dàng xác định được
khoảng cách từ vệ tinh đến máy thu (đến tâm anten của máy thu). Do có sự

được nhiều SA, Chính phủ Mỹ tuyên bố bỏ nhiễu SA trong trị đo GPS từ
tháng 5 năm 2000.
b. Đo pha sóng tải
Các sóng tải L
1
, L
2
được sử dụng cho việc định vị với độ chính xác cao.
Với mục đích này người ta tiến hành đo hiệu số giữa pha của sóng tải do máy
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
9
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
thu nhận được từ vệ tinh và pha của tín hiệu do chính máy thu tạo ra. Hiệu số
pha do máy thu đo được ký hiệu là Ф (0< Ф<2Π). Khi đó ta có thể viết:
Ф = (R-Nλ + c∆t) (1.2)
Trong đó: R là khoảng cách giữa vệ tinh và máy thu;
λ là bước sóng của sóng tải;
N là số nguyên lần bước sóng λ chứa trong R;
∆t là sai số đồng bộ giữa đồng hồ của vệ tinh và máy thu;
N còn được gọi là số nguyên đa trị, thường không biết trước được mà
cần phải xác định trong thời gian đo.
Trong trường hợp đo pha theo sóng tải L
1
có thể xác định khoảng cách
giữa vệ tinh và máy thu với độ chính xác cỡ cm thậm chí còn nhỏ hơn. Sóng
tải L
2
cho độ chính xác thấp hơn nhiều, nhưng tác dụng của nó là cùng với L
1
tạo ra khả năng làm giảm đáng kể tầng điện ly và việc xác định số nguyên đa

nghiệm của phương trình sẽ tìm theo nguyên lý số bình phương nhỏ nhất.
1.2.3. Định vị tương đối (Relative Positioning)
Đo GPS tương đối là trường hợp sử dụng hai máy thu GPS đặt ở hai
điểm quan sát khác nhau để xác định ra hiệu toạ độ vuông góc không gian
(∆X, ∆Y, ∆Z) hay hiệu toạ độ mặt cầu (∆B, ∆L, ∆H) giữa chúng trong hệ toạ
độ WGS84.
Nguyên tắc đo GPS tương đối được thực hiện trên cơ sở sử dụng đại
lượng đo là pha của sóng tải. Để đạt được độ chính xác cao và rất cao cho kết
quả xác định hiệu toạ độ giữa hai điểm xét, người ta đã tạo ra và sử dụng các
sai phân khác nhau cho pha sóng tải nhằm làm giảm ảnh hưởng đến các
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
11
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
nguồn sai số khác nhau như: Sai số của đồng hồ vệ tinh cũng như của máy
thu, sai số toạ độ vệ tinh, sai số số nguyên đa trị,…
Ta ký hiệu là hiệu pha của sống tải từ vệ tinh j đo được tại trạm r
và thời điểm t
i
, khi đó nếu hai trạm đo 1 và 2 ta quan sát đồng thời vệ tinh j
vào thời điểm t, ta sẽ có sai phân bậc 1 được biểu diễn như sau:
(1.4)
Trong sai phân này hầu như không còn ảnh hưởng của sai số đồng hồ
vệ tinh.
Nếu hai trạm cùng tiến hành quan sát đồng thời hai vệ tinh j và k vào
thời điểm t ta có phân sai bậc 2…
(1.5)
Trong công thức này ta thấy không còn ảnh hưởng của sai số đồng bộ
giữa vệ tinh và máy thu.
Nếu xét hai trạm cùng tiến hành quan sát đồng thời hai vệ tinh j và k
vào thời điểm t

được xác định trên cơ sở so sánh toạ độ tính theo tín hiệu và toạ độ của máy
cố định đã biết trước. Sai lệch đó ở máy cố định phát qua sóng vô tuyến để
máy di động nhận được và hiệu chỉnh kết quả cho các điểm đo.
Ngoài cách hiệu chỉnh toạ độ thì người ta còn tiến hành hiệu chỉnh
khoảng cách từ vệ tinh tới máy thu. Cách hiệu chỉnh này đòi hỏi máy thu cố
định có cấu tạo phức tạp và tốn kém hơn. Nhưng cho phép người sử dụng xử
lý chủ động và linh hoạt hơn.
Phương pháp này có hai cách xử lý số hiệu chỉnh tại điểm di động:
Phương pháp xử lý tức thời (Real time)
Phương pháp xử lý sau (Post processing).
Để đảm bảo độ chính xác cần thiết, các số hiệu chỉnh cần được xác định
và phát chuyển nhanh với tần suất cao, chẳng hạn để cho khoảng cách từ vệ
tinh đến máy thu được hiệu chỉnh toạ độ chính xác cỡ 5m thì số hiệu chỉnh
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
13
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
phải được phát chuyển đi với tần suất 15s/lần. Cũng với lý do này mà phạm vi
hoạt động có hiệu quả của một máy thu cố định không phải là tuỳ ý mà
thường hạn chế ở bán kính vài trăm km. Người ta đã xây dựng hệ thống GPS
vi phân diện rộng cũng như mạng lưới GPS vi phân gồm một số trạm cố định
để phục vụ nhu cầu định vị cho cả một lục địa hay đại dương với độ chính xác
cỡ 10m. Phương pháp định vị GPS vi phân có thể đảm bảo độ chính xác phổ
biến cỡ vài ba m đến dm.
I.3.2. Đo tĩnh (Static)
Đo tĩnh (Static) hay đo tĩnh nhanh (Fast - Static) là phương pháp đo
tương đối, sử dụng hai hoặc nhiều máy thu đồng thời tín hiệu trong một thời
gian dài để xác định ra hiệu toạ độ giữa các máy thu. Các trạm đo đồng thời
sẽ tạo thành các đoạn đo.
Đo tĩnh là phương pháp đo có độ chính xác cao nhất, với các máy thu
GPS 1 tần số và 2 tần số hiện nay cho độ chính xác rất cao phục vụ cho công

nhanh. Ngoài ra có thể khởi đo nhờ kỹ thuật OTF. Trong quá trình đo, vì lý
do nào đó số vệ tinh thu được ít hơn 4, sẽ bị mất khởi đo, trong trường hợp
này phải thực hiện lại thủ tục khởi đo.
Khoảng cách từ trạm BASE đến trạm ROVER không được quá xa, đối
với máy thu một tần TRIMBLE 4600LS chỉ cho phép khoảng cách tối đa là
10km. Thời gian dừng máy tại điểm đo thường chỉ cần kéo dài vài giây đến
vài phút sao cho đủ ghi ít nhất hai số liệu đo, thời gian này phụ thuộc vào chế
độ mà người đo cài đặt. Một thiết bị khác đi cùng với chế độ đo động là bộ
điều khiển đo (Survey Controller).
Phương pháp đo động cũng được thực hiện theo hai chế độ là đo động
xử lý sau (Post Processing Kinematic- PPK) và đo động thời gian thực (Real
Time Kinematic - RTK). Trong phương pháp PPK, toạ độ sẽ được tính toán
xử lý trong phòng do vậy không cần thiết đến Radio Link, nhưng với RTK thì
thiết bị đó không thể thiếu được, nó đóng vai trò truyền đi tín hiệu chứa các
số hiệu chỉnh về toạ độ từ trạm máy BASE.
I.3.4. Kỹ thuật đo giả động (Pseudo - Kinematic)
Phương pháp đo giả động cho phép xác định vị trí tương đối của hàng
loạt điểm so với điểm đã biết trong khoảng thời gian đo khá nhanh, nhưng độ
chính xác định vị không cao bằng phương pháp đo động. Trong phương pháp
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
15
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
này, không cần làm thủ tục khởi đo, tức là không cần sử dụng cạnh đáy đã
biết. Máy cố định cũng phải tiến hành thu tín hiệu trong suốt chu kỳ đo, máy
di động được chuyển tới các điểm cần xác định và mỗi điểm thu tín hiệu 5-10
phút.
Sau khi đo hết lượt máy di động quay trở về điểm xuất phát và đo lặp
lại tất cả các điểm theo đúng trình tự như trước, nhưng chú ý phải đảm bảo
khoảng thời gian giãn cách giữa hai lần đo tại mỗi thời điểm không ít hơn 1
tiếng đồng hồ. Yêu cầu nhất thiết của phương pháp này là phải có ít nhất 3 vệ

®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
tới kết quả định vị tuyệt đối, song được khắc phục về cơ bản trong định vị
tương đối hoặc vi phân.
Để biết được vị trí của vệ tinh trên quỹ đạo thì người sử dụng có thể
căn cứ vào lịch vệ tinh.Tuỳ thuộc vào mức độ chính xác của thông tin, lịch vệ
tinh được chia thành 3 loại:
Lịch vệ tinh dự báo (Almanac): phục vụ cho lập lịch và xác định quang
cảnh nhìn thấy của vệ tinh tại thời điểm quan sát, lịch vệ tinh này có sai số cỡ
vài km.
Lịch vệ tinh quảng bá (Broadcast ephemeris): được tạo lập dựa trên 5
trạm quan sát thuộc đoạn điều khiển của hệ thống GPS, hiện nay khi chế độ
nhiễu SA đã được bỏ thì lịch vệ tinh quảng bá có sai số cỡ từ 2-5m.
Lịch vệ tinh chính xác: được lập dựa trên cơ sở các số liệu quan trắc
trong mạng lưới giám sát và được tính toán nhờ một số tổ chức khoa học, loại
lịch này cho sai số nhỏ hơn 0.5m.
I.5.3.3. Ảnh hưởng điều kiện khí tượng
Tín hiệu vệ tinh đến máy thu đi qua một quãng đường lớn hơn
20.000km, trong đó có tầng điện ly cao từ 50km-500km và tầng đối lưu từ độ
cao 50km đến mặt đất. Khi tín hiệu đi qua các tầng này có thể bị thay đổi (tán
xạ) phụ thuộc vào mật độ điện tử tự do trong tầng điện ly và tình trạng hơi
nước, nhiệt độ và các bụi khí quyển trong tầng đối lưu.
Người ta ước tính rằng, do ảnh hưởng của tầng điện ly, khi định vị tuyệt
đối có thể bị sai số 12m, còn ảnh hưởng của tầng đối lưu có thể sai số cỡ 3m.
Các vệ tinh GPS phát tín hiệu ở tần số cao (sóng cực ngắn) do đó ảnh
hưởng của tầng điện ly đã được giảm nhiều, tuy vậy cần lưu ý tới đặc tính của
sóng cực ngắn là truyền thẳng và dễ bị che chắn.
Ảnh hưởng của tầng điện lý tỷ lệ với bình phương tần số, vì vậy khi sử
dụng máy thu hai tần sẽ khắc phục được ảnh hưởng này.
Tuy vậy, ở khoảng cách ngắn (<10km) tín hiệu tới hai máy coi như đi
trong cùng môi trường, sai số sẽ được loại trừ trong các công thức tính hiệu

chuyển tới điểm khác. Điều này cho phép áp dụng cả ở những khu vực có
nhiều vật che khuất.
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
18
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
I.4. Các phương pháp cơ bản thành lập lưới
Trong trắc địa truyền thống, thiết kế đồ hình lưới khống chế là việc cực
kỳ quan trọng. Còn trong lưới GPS, nói chung không yêu cầu giữa các điểm
phải nhìn thông nhau nên thiết kế đồ hình lưới GPS sẽ linh hoạt hơn. Thiết kế
đồ hình lưới GPS chủ yếu tuỳ thuộc vào yêu cầu sử dụng, kinh phí, thời gian,
nhân lực, loại hình và số lượng máy thu.
Căn cứ vào mục đích sử dụng, thường có 4 phương thức liên kết cơ bản
để thành lập lưới: liên kết điểm, liên kết cạnh, liên kết lưới, liên kết hỗn hợp
cạnh – điểm. Ngoài ra còn có thể liên kết hình sao, liên kết đường chuyền,
liên kết chuối tam giác.
Liên kết điểm
Liên kết dạng điểm là dạng liên kết các ca đo đồng hồ kể nhau bởi một
điểm chung. Cường độ đồ hình của dạng liên kết điểm là rất yếu, không có
hoặc có rất ít điều kiện khép hình không đồng bộ. Dạng liên kết điểm thường
không được sử dụng đơn độc. Ví dụ với 3 máy thu:
Hình 4: Liên kết điểm
Liên kết cạnh
Liên kết cạnh là dạng liên kết giữa các vòng đo đồng bộ kề nhau bởi
một cạnh chung. Lưới được thành lập theo dạng này có cường độ đồ hình
tương đối cao, có nhiều cạnh đo lặp và có nhiều điều kiện khép hình không
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
19
1
2
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t

khép kín. Do đó khả năng kiểm tra và phát hiện sai số thô còn kém hơn
phương thức liên kết điểm. Nhưng chỉ cần 2 máy thu là được. Nếu có 3 máy
thu thì 1 máy đặt cố định, 2 máy khác có thể di chuyển mà không hạn chế bởi
điều kiện đo đồng bộ.

Hình 8: Liên kết hình sao
Vì tốc độ nhanh, giản tiện, liên kết hình sao được ứng dụng trong trắc
địa có yêu cầu độ chính xác thấp, trong địa chất, vật lý địa cầu, đo biên giới,
đo địa chính, đo điểm chi tiết thành lập bản đồ.
Mặc dù không yêu cầu nhìn thông giữa các điểm GPS, nhưng xét đến
yêu cầu tăng dày bằng phương pháp truyền thống nên mỗi điểm GPS nên nhìn
thông đến ít nhất một điểm.
Để sử dụng tư liệu trắc địa và bản đồ hiện có, cần sử dụng tọa độ vốn
đã được sử dụng để tạo lập nên tư liệu ấy. Các điểm cũ phù hợp yêu cầu của
điểm GPS, cần phải lợi dụng mốc của nó.
Lưới GPS cần phải được tạo thành một số vòng khép không đồng bộ
hoặc một số tuyến phù hợp từ các cạnh đo độc lập. Số cạnh trong mỗi vòng
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
21
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
khép hoặc trong mỗi tuyến phù hợp của các cấp lưới GPS được quy định ở
bảng 1.1.
Bảng 1.1
Hạng, cấp lưới II III IV Cấp 1 Cấp 2
Số cạnh trong mỗi vòng
khép hoặc tuyến phù hợp
≤ 6 ≤ 8 ≤ 10 ≤ 10 ≤ 10
I.5. Các ứng dụng của GPS trong trắc địa
I.5.1. Xây dựng lưới khống chế mặt bằng
Có thể nói, những ứng dụng đầu tiên của công nghệ GPS trong trắc địa

Hạng IV 2 ≤ 10 ≤ 10 1: 45.000
Cấp 1 1 ≤ 10 ≤ 10 1: 20.000
Cấp 2 <1 ≤ 10 ≤ 10 1: 10.000
Trong quy trình trên còn quy định một số yêu cầu trong đo lưới GPS như sau:
Bảng 1.3: Quy định đo GPS
Hạng
II
Hạng
III
Hạng
IV
Cấp 1 Cấp 2
Góc ngưỡng
(độ)
Đo tĩnh
nhanh
≥ 15 ≥ 15 ≥ 15 ≥ 15 ≥ 15
Số lượng VT
hiệu ứng
Tĩnh
Tĩnh nhanh
≥ 4
-
≥ 4
≥ 5
≥ 4
≥ 5
≥ 4
≥ 5
≥ 4

10÷60 10÷60 10÷60 10÷60 10÷60
Từ khi có công nghệ GPS, người ta đã đưa ra các khái niệm mới đối với
lưới trắc địa, đó là mạng lưới tĩnh (Passive Control Networks), các mạng lưới
động (Active Control Networks).
Các mạng lưới tĩnh là các mạng lưới có các mốc cố định trên mặt đất
được đo với độ chính xác cao và là cơ sở trắc địa trải rộng liên tục trên một
diện tích nhất định. Các số liệu của các điểm trong mạng lưới được coi là
không đổi và không có sai số.
SV: NGUYỄN HỒNG HẢI LỚP: TRẮC ĐỊA A- K50
23
®å ¸N TèT NGHIÖP TRêng ®¹i häc má - ®Þa ch©t
Các mạng lưới này thường có độ chính xác đo chiều dài cỡ 1:250.000
và đo cao cỡ một vài mm trên km. Có thể thấy rằng các mạng lưới này thuộc
hệ thống lưới khống chế tọa độ, lưới độ cao nhà nước.
Các mạng lưới động là các mạng lưới gồm một số điểm cố định có vai
trò là các trạm theo dõi (Monitor Stations) làm cơ sở để xác định nhiều điểm
khác. Các điểm cần xác định cũng có thể là các điểm chuyển động cần xác
định tọa độ tức thời.
I.5.2. GPS phục vụ đo vẽ địa chính
a. Xây dựng các mạng lưới địa chính
Công nghệ GPS được ứng dụng rộng rãi trong công tác đo đạc địa
chính. Trước hết là xây dựng các mạng lưới địa chính các cấp. Ở nước ta theo
quy định của Tổng cục địa chính (1999), lưới khống chế địa chính các cấp
được phát triển từ lưới khống chế tọa độ nhà nước hạng I, II. Trước hết là lưới
địa chính cơ sở có độ chính xác tương đương lưới hạng III nhà nước. Lưới địa
chính cơ sở cơ độ chính xác tương đương hạng III nhà nước. Lưới địa chính
cơ sở là cơ sở để phát triển tiếp các mạng lưới cấp thấp hơn (lưới địa chính
cấp 1, lưới địa chính cấp 2) phục vụ cho công tác đo vẽ bản đồ địa chính và
quản lý đất đai.
b. Đo vẽ chi tiết bản đồ địa chính tỷ lệ lớn và trung bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status