Đề tài : Ảnh hưởng của các dòng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) đến sức sinh sản thực tế và tỷ lệ sống của ấu trùng - Pdf 21

Đề tài : Ảnh hưởng của các dòng tôm
càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)
đến sức sinh sản thực tế và tỷ lệ sống của
ấu trùng
1
MỤC LỤC
Lời cảm tạ .i
Mục lục ii
Danh sáchKho Sách Trực Tuyến bảng .iii
Danh sách hình iv
CHƯƠNG 1 1
MỞ ĐẦU 1
I. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu .2
1.1 Mục tiêu 2
1.2 Nội dung 2
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2.1 Đối tượng 2
2.2 Phạm vi nghiên cứu 2
III. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .2
3.1 Cơ sở lý luận 2
3.2 Phương pháp nghiên cứu 12
CHƯƠNG 2 15
KẾT QUẢ THẢO LUẬN .15
I. Đánh giá sức sinh sản của hai nguồn tôm .15
1.1 Số lượng và kích thước trứng .15
1.2 Số lượng và kích thước ấu trùng .20
1.3 Chiều dài ấu trùng .23
II. Theo dõi sự phát triển của ấu trùng tôm từ khi mới nở lên tôm bột theo quy
trình nước xanh cải tiến 24
2.1 Môi trườngLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Môi Trường nước ương 24
2.2 Sự phát triển của ấu trùng tôm 28

90 triệu postlarvae (năm 2004) cao hơn nhiều so với năm 1998 (1 triệu
postlarvae). Tuy nhiên do đặc thù việc nuôi tôm tập trung theo mùa vụ rất cao
(tháng 4 -11) nên nhu cầu con giống trong một thời điểm vẫn chưa đáp ứng đủ
cho người dân.
Nghiên cứu và ổn định qui trình sản xuất giống đã được tiến hành nhiều trong gần
2 thập kỷ qua, nghiên cứu nguồn gốc và chất lượng đàn ấu trùng nhằm sản xuất
con giống đạt chất lượng cao, là một việc làm cần thiết đối với khâu tạo ra con
giống nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Dựa vào đề tài gốc “Di truyền chọn giống tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii)”, và trong khuôn khổ hạn chế về thời gian và khối lượng công việc,
chúng tôi tiến hành thí nghiệm “Ảnh hưởng của các dòng tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii) đến sức sinh sản thực tế và tỷ lệ sống của ấu
trùng” nhằm tìm ra dòng tôm có chất lượng đàn ấu trùng khỏe mạnh, cho tỷ lệ
sống cao.
3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá các dòng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) bố mẹ Việt Nam
và Malaysia nhằm tìm ra dòng tôm có chất lượng đàn ấu trùng khỏe mạnh, cho tỷ
lệ sống cao phục vụ cho công tác sản xuất giống ở Việt Nam.
1.3 Nội dung nghiên cứu
(1) Nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ
(2) Ghép cặp cho sinh sản nhân tạo
(3) Ương ấu trùng tôm càng xanh có nguồn gốc khác nhau.
(4) Ương nuôi postlarvae các gia đình tôm trong bể composite
4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Lịch sử phát triển của tôm càng xanh
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XVIII đã có nhiều tác giả nghiên cứu về hình
thái của tôm càng xanh. G.E Rumphyus đã mô tả và đặt tên cho loài tôm này với
hàng loạt tên gọi khác nhau. Và một số tác giả khác như Herbest (1792),

càng xanh ở Việt Nam ( Nguyễn Việt Thắng, 1993).
2.2 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh
2.2.1 Phân loại và hình thái
Vị trí phân loại tôm càng xanh theo Holthuis (1950) trích bởi Nguyễn Việt Thắng
(1993) như sau:
Ngành tiết túc: Arthropoda
Lớp giáp giác: Crustacea
Lớp phụ giáp xác bậc cao: Malacostraca
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ chân bơi: Nantantia
Phân bộ: Caridae
Họ: Palaemonidae
Họ phụ: Palaemoninae
Giống: Macrobrachium
Loài: Macrobrachium rosenbergii (de Man 1879)
Hình thái của tôm càng xanh được nhiều tác giả mô tả như Holthius, Phan Hữu
Đức và ctv (1988, 1989), Foster và Wickin (1972) (trích dẫn bởi Nguyễn Việt
Thắng, 1993). Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) ở nước ta tôm càng
xanh trong tự nhiên hay trong ao nuôi thì xuất hiện hai dạng là tôm càng xanh và
Tôm Càng Lửa. Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước
ngọt. Tôm càng xanh có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên. Cơ thể gồm hai phần:
phần đầu ngực có dạng hơi giống hình trụ gồm 13 đốt và 13 đôi phụ bộ được bao
bọc bởi một tấm vỏ dày gọi là giáp đầu ngực. Phần bụng gồm có 7 đốt và 6 đôi
phụ bộ, mỗi đốt được bao bọc bởi một lớp vỏ, tấm vỏ phía trước chồng lên tấm
vỏ phía sau.
Tuy nhiên tấm vỏ của đốt bụng thứ hai phủ lên tấm vỏ phía trước và phía sau nó.
Chính nhờ đặc điểm này mà ta có thể phân biệt được tôm càng xanh với các loài
tôm sống ở vùng nước mặn. Các đốt bụng của tôm càng xanh hơi tròn trên mặt
lưng và dẹp hai bên, cơ thể có dạng hơi cong, to ở phần đầu, thon nhỏ về phía
sau.

sản và di cư ra vùng nước lợ tiếp tục vòng đời của mình.
7
Hình 2.1: Vòng đời của tôm càng xanh
2.2.4 Tập tính ăn của tôm càng xanh
Về tập tính ăn, tôm càng xanh là loài ăn tạp thiên về động vật, mức chọn lựa
không cao, thành phần thức ăn không thay đổi theo giới tính.
Tôm càng xanh có hàm răng nghiền khỏe, ruột có cấu tạo ngắn nên khả năng tiêu
hóa nhanh. Chúng ăn hầu hết các loài động vật nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ, thích
bắt mồi vào ban đêm hơn ban ngày (Phạm Văn Tình, 2004a).
Râu là cơ quan xúc giác giúp tôm tìm thức ăn, đôi chân ngực thứ nhất như một
cái kẹp giúp tôm giữ và đưa thức ăn vào miệng (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002).
Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác, chu kỳ lột xác thay đổi
theo tuổi, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của chúng (Nguyễn
Thanh Phương, 2003).
2.3 Đặc điểm sinh sản của tôm càng xanh
2.3.1 Phân biệt giới tính
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), ta có thể phân biệt giới tính tôm
càng xanh thông qua hình dạng bên của chúng. Tôm càng xanh đực lớn hơn tôm
càng xanh cái, đầu ngực to hơn và khoang bụng hẹp hơn tôm càng xanh cái, đôi
càng thứ hai to dài và hơi thô hơn tôm càng xanh cái.
Ở tôm càng xanh đực có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ
hai. Nhánh phụ đực xuất hiện ở giai đoạn ấu niên khi tôm đạt kích cỡ 30 mm và
hoàn chỉnh khi đạt kích cỡ 70 mm. Ngoài ra ở mặt của đốt bụng thứ nhất còn có
điểm cứng.
Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực, phần đầu ngực nhỏ và đôi càng
thon, tôm có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và tạo thành khoang làm buồng để ấp
trứng. Quá trình mở rộng của khoang bụng bắt khi tôm đạt chiều dài tổng 95 mm.
Lổ sinh dục của con cái nằm ở góc của chân ngực thứ 3. Trên các chân bụng của
con cái có nhiều lông tơ có tác dụng giúp trứng bám vào trong quá trình tôm đẻ
và ấp trứng.

Tuỳ vào kích cỡ và trọng lượng của tôm càng xanh mà sức sinh sản của con cái
có thể thay đổi từ 70.000 - 50.300 trứng, trung bình sức sinh sản tương đối của
tôm càng xanh khoảng 50 - 100 trứng/gram trọng lượng con cái. Tuy nhiên trong
ao hồ sức sinh sản của chúng thấp hơn, trung bình 300 - 600 trứng/gram trọng
lượng con cái. Tôm càng xanh cái có thể tái phát dục và đẻ lại sau 16 - 45 ngày.
Trong quá trình ấp trứng tôm cái dùng các chân bụng quạt nước để tạo dòng chảy
làm thông khí cho trứng và các chân ngực để loại bỏ những trứng bị hư hay vật lạ
dính vào khối trứng. Tuỳ vào thời gian và nhiệt độ mà trứng có thể nở sau 15 - 23
ngày ấp.
2.3.3 Phát triển của phôi, ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm càng xanh
Theo Trần Ngọc Hải và ctv (2000) thì trứng tôm càng xanh mới đẻ có kích cỡ
khoảng 0,6 - 0,7 mm. Trứng thụ tinh nhân bắt đầu phân cắt và hoàn thành sự phân
cắt sau 24 giờ. Quá trình giảm phân xảy ra khi nhân phân cắt lần thứ 3, vào ngày
thứ hai đĩa mầm xuất hiện ở mặt bụng của phôi. Ngày thứ 3 vùng phôi được hình
thành và phát triển sang giai đoạn Nauplius. Sau 80 giờ các phụ bộ của Nauplius
bắt đầu phát triển. Ngày thứ 5 hình thành phụ bộ đầu và các nhú đuôi. Ngày thứ 7
điểm mắt bắt đầu phát triển và nhú đuôi trở thành gai đuôi. Ngày thứ 8 bắt đầu
9
hình thành giáp đầu ngực, mắt có sắc tố, ruột hình thành và tim bắt đầu đập. Ngày
thứ 12 phôi nằm dọc theo trứng và tiếp tục phát triển cho đến khi nở.
Theo dõi sự phát triển của phôi trứng, trứng dần phát triển từ màu vàng nhạc sang
màu vàng cam, sau đó đến màu vàng xám và cuối cùng là màu xám đen. Sau 17
-23 ngày trứng sẽ nở và quá trình nở hoàn thành sau 4 - 6 giờ. Khi nở tôm mẹ cử
động chân bụng liên tục để thải ấu trùng ra ngoài.
Ấu trùng mới nở sống phù du có tính hướng quang mạnh và cần có độ mặn 6-
14‰ để sinh sống và phát triển (Trần Ngọc Hải và ctv, 2000). Ấu trùng sẽ chết
sau khi nở 3 - 4 ngày nếu sống trong môi trường nước ngọt. Ấu trùng bơi lội chủ
động, bụng ngửa và đuôi ở phía trước. Ấu trùng ăn liên tục và thức ăn gồm các
loại động thực vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng các sinh vật thủy sinh…
Theo S.W.Ling (1969) ấu trùng trải qua 8 giai đoạn biến thái và đối với Uno và

Giai đoạn IV Giai đoạn V Giai đoạn VI

Giai đoạn VII Giai đoạn VIII Giai đoạn IX

Giai đoạn X Giai đoạn XI Postlave
Hình 2.2: Các giai đoạn phát triển của ấu trùng
2.3.4 Môi trường sống của ấu trùng tôm càng xanh
2.3.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ đóng một vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sự phát
triển của ấu trùng, nó quyết định chiều dài giai đoạn phát triển ấu trùng (New và
Valenti, 2000).
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993), ngưỡng nhiệt độ dưới của ấu trùng tôm càng
xanh là 21
o
C, khi nhiệt độ tăng dần lên thì thời gian phát triển của ấu trùng càng
rút ngắn và nhiệt độ dưới 24 - 26
o
C thì ấu trùng phát triển không tốt.
11
Theo nhiều tác giả như: New (1982), Fujimura (1966, 1977), Adisurkressno
(1977, 1980) xác định ngưỡng nhiệt độ trên của ấu trùng tôm càng xanh là 33 -
34
0
C (trích dẫn bởi Nguyễn Việt Thắng, 1993). Các tác giả này đều cho rằng
nhiệt độ tối ưu của tôm nằm trong khoảng 26 - 31
0
C và dưới 24 - 26
0
C thì ấu
trùng phát triển không tốt.

sáng cho ấu trùng phát triển.
Ấu trùng tôm càng xanh cũng như ấu trùng của các loài giáp xác khác đều có tính
hướng sáng tốt, nếu trong bể cường độ ánh sáng lớn sẽ vô tình tạo điều kiện cho
12
ấu trùng tập trung, bám nhau, cạnh tranh về thức ăn trong một không gian hẹp
(Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 2002). Điều này không tốt bởi vì tập tính của tôm càng
xanh là ăn tạp và ăn thịt lẫn nhau (New và Valenti, 2000), con vừa lột xác còn
yếu sẽ dễ làm mồi cho những con khác trong đàn.
Tác động của ánh sáng đến ấu trùng còn liên quan đến màu sắc của bể ương bởi
vì màu sắc bể phản chiếu ánh sáng truyền vào. Theo Phạm Văn Tình (2004a) nếu
sơn bể màu trắng, ánh sáng chiếu vào bể sẽ bị phản chiếu trở lại làm cho ấu trùng
bị lầm dẫn đế rối loạn sinh lý. Một nghiên cứu mới đây của Tidwell và ctv (2005)
cho thấy dùng bể màu đỏ và màu xanh lá cây thì tỷ lệ sống của ấu trùng là 84%
và 78% so với bể sơn màu trắng và màu xanh dương là 56% và 44%, bể sơn màu
vàng và màu đen đều bằng 71%.
Các báo cáo về nuôi ấu trùng tôm càng xanh thành công thì cường độ ánh sáng
trong khoảng 250 - 6.500 lux (New và Valenti, 2000).
2.3.4.6 Nồng độ NH
3
-N và nitrite (NO
2
-N)
Các hợp chất nitơ hoà tan trong nước như: ammonia (NH
3
-N), nitrite (NO
2
-N),
nitrate (NO
3
-N) là các thông số đánh giá chất lượng nước rất quan trọng trong

2.4.1 Quy trình nước trong hở
Quy trình nước trong hở được khởi xướng bởi Ling (1969) và hoàn thiện bởi
Aquacop (1977) (trích bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2000). Tại Việt Nam quy trình
này được thử nghiệm đầu tiên vào năm 1987 bởi Nguyễn Việt Thắng (Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II) và Bùi Lai (Đại Học Cần Thơ).
13
Đây cũng là quy trình được ứng dụng nhiều ở nước ta trước đây. Đặc điểm của
quy trình này là yêu cầu nguồn nước phải trong sạch ( không có tảo), thay nước
hàng ngày, có thể ương ở mật độ cao.
Quy trình nước trong hở tương đối đơn giản, dễ thao tác, có thể nâng cao mật độ
ương để đạt sản lượng lớn, phù hợp với các trại có đầy đủ hai nguồn nước mặn và
ngọt có chất lượng nước tốt.
Tuy nhiên quy trình tiêu tốn nhiều nước để thay nước, tăng cao chi phí sản xuất.
Trong quy trình này mật độ ương từ 50 - 250 con/lít đạt tỉ lệ sống trung bình 35
- 50% (Nguyễn Việt Thắng, 1990 trích bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).
Lượng thức ăn tiêu tốn cho 1 triệu postlarvae là 22 - 25 kg Artemia và 50 kg thức
ăn chế biến (New, 1985 được trích bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).
2.4.2 Quy trình nước trong tuần hoàn
Quy trình nước trong tuần hoàn có thể ương ấu trùng ở mật độ cao, tiết kiệm
được nước. Trong suốt quá trình ương không thay nước, chỉ bổ sung thêm nước
mới, phù hợp với những vùng xa nguồn nước mặn và chất lượng nước kém.
Tuy nhiên quy trình nước trong tuần hoàn cần phải thiết kế hệ thống tốn kém,
phải có phương tiện kiểm soát môi trường và trang thiết bị phức tạp, cùng với sự
quản lí chặt chẽ, yêu cầu người sản xuất phải có kinh nghiệm và kỹ thuật chuyên
môn cao.
2.4.3 Quy trình nước xanh và nước xanh cải tiến
Quy trình nước xanh có ưu điểm là tự tạo cân bằng sinh thái trong môi trường
nước. Tuy nhiên quy trình này ương mật độ thấp nên sản lượng không cao. Ngoài
ra quy trình nước xanh đòi hỏi phải nuôi giữ tảo chlorella phức tạp, mật độ tảo
khó duy trì ổn định trong bể ương lâu dài gây trở ngại trong việc điều chỉnh các

(gram)
Số lượng trứng
8,0 4,29 0,132 1.044
8,5 5,31 0,189 1.535
9,0 6,48 0,265 2.209
9,5 7,82 0,364 3.115
10,0 9,36 0,493 4.317
10,5 11,1 0,657 5.889
11,0 13,06 0,864 7.917
11,5 15,25 1,122 10.505
12,0 17,69 1,442 13.771
12,5 20,4 1,834 17.885
13,0 23,4 2,310 29.915
13,5 26,7 2,885 29.134
14,0 30,31 3,574 36.719
14,5 34,26 4,394 45.903
15,0 38,57 5,364 56.952
15,5 43,25 6,508 70.163
16,0 43,32 7,846 85.867
16,5 53,81 9,405 104.436
17,0 59,72 11,212 126.279
17,5 66,08 13,299 151.853
18,0 72,91 15,669 181.660
18,5 80,24 18,447 216.253
19,0 88,07 21,584 256.239
19,5 96,43 25,151 302283
20,0 105,35 29,195 355112
15
Chất lượng ấu trùng không chỉ phụ thuộc vào thể trọng mà còn phụ thuộc vào
nguồn gốc tôm mẹ mang trứng. Khi tôm mẹ có nguồn gốc khác nhau thì chất

cho nuôi vỗ.
Bể ương: thùng nhựa 70 lít cho ương ấu trùng, bể composite 1 m
3
cho ương
Postlave giai đoạn đầu.
Giỏ nhựa kích thước 49×36×18,5 cm cho ghép cặp.
Nguồn nước: lấy từ sông Tiền gián tiếp qua 3 nhánh sông phụ.
Các vật liệu khác: vợt lưới, thau, xô, bể ấp trứng Artemia, máy xay sinh tố, tủ
lạnh, thức ăn Tây Đô 25% đạm, rây chà thức ăn, máy thổi khí, máy nén khí, máy
bơm chìm, nước mặn, nhiệt kế, khúc xạ kế, và các loại hoá chất hóa chất
(chlorine, formol, Iodine, test pH, test NH
3
, test NO
2
)
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Khảo sát sinh sản của tôm mẹ theo các dòng tôm khác nhau
Nghiên cứu được tiến hành với tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) có
nguồn gốc khác nhau: nhóm sông Đồng Nai (tập hợp tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai),
nhóm sông Mêkông (tập hợp tại 3 địa điểm khác nhau: Mỹ Tú - Sóc Trăng, Tân
Châu - An Giang và Châu Đốc - An Giang, nhóm tôm Malaysia được nhập từ
Malaysia.
Các nhóm tôm càng xanh bố mẹ được nuôi trong các giai 8×4×1,5 m đặt trong ao
đất 2.000 m
2
, độ sâu nước ao 1,5 m. Nuôi riêng tôm đực và cái của từng nhóm
tôm để chủ động trong thí nghiệm ghép cặp (2 giai tôm đực và 2 giai tôm cái cho
mỗi nhóm tôm). Tôm bố mẹ được nuôi vỗ từ tháng 01 - 3/2007, mật độ nuôi là 1 -
3 con/m
2

Dòng tôm ♂DN ♂MK ♂ML
♀DN DN.DN DN.MK DN.ML
♀MK MK.DN MK.MK MK.ML
♀ML ML.DN ML.MK ML.ML
DN = Đồng Nai, MK = Mêkông, ML = Malay
18
3.3.3 Ương ấu trùng tôm càng xanh từ các dòng tôm khác nhau về nguồn gốc
Thí nghiệm được bố trí từ 3 dòng tôm bố mẹ đó là dòng tôm càng xanh Việt Nam
có nguồn gốc từ sông Đồng Nai, sông MêKông và dòng tôm được nhập từ
Malaysia vào Việt Nam. Thí nghiệm gồm 9 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức chọn
6 tôm bố mẹ để khảo sát sức sinh sản và tỉ lệ sống ấu trùng của chúng. Ấu trùng
tôm càng xanh của các nghiệm thức được ương trong bể có thể tích 70 lít (chứa
60 lít nước ương) và được ương theo quy trình nước trong hở được khởi xướng
bởi Ling (1969) và hoàn thiện bởi Aquacop (1977).
Bảng 3.2: Các nghiệm thức ương thí nghiệm của các dòng tôm
Thuần chủng
1 Đồng Nai x Đồng Nai (DNxDN)
2 MêKông x MêKông (MKxMK)
3 Malaysia x Malaysia (MLxML)
Lai
(cái × đực)
4 Đồng Nai x MêKông (DNxMK)
5 Đồng Nai x Malaysia (DNxML)
6 MêKông x Đồng Nai (MKxDN)
7 MêKông x Malaysia (MKxML)
8 Malaysia x Đồng Nai (MLxDN)
9 Malaysia x MêKông (MLxMK)
Khi trứng chuyển sang màu xám đen thì chuyển tôm mẹ lên nhà giống. Xử lý tôm
mẹ trước khi nở bằng formaline 200 ppm trong 30 giây và Indione 10% trong 10 -
15 giây , sau đó chuyển tôm mẹ vào bể nở. Bể nở là thùng nhựa 70 lít (thể tích

Nhiệt độ: đo 2 lần/ngày lúc 6 giờ và 14 giờ, sử dụng nhiệt kế rượu.
Độ mặn: đo 1 lần/ngày lúc 14 giờ, sử dụng máy đo độ mặn ATAGO S/MILL-E.
pH : đo 2 lần/ngày lúc 6 giờ và 14 giờ, sử dụng TestKit.
Đạm (Nitrite và N-NH
3
) : đo 1 tuần/lần vào lúc 6 giờ, sử dụng TestKit của Đức.
3.3.4.2 Phương pháp xác định các thơng số kỹ thuật
Tỉ lệ thành thục (%) =
sót sống mẹ bốtôm lượng Số
thục thành mẹ bốtôm lượng Số
x 100
100
cặp ghép tôm lượng Số
trứng đẻ tôm lượng Số
(%) trứng đẻ lệ Tỷ x=
Trọng lượng trứng = Trọng lượng tơm mẹ trước khi sinh sản – Trọng lượng tơm
mẹ sau khi sinh sản.
Sức sinh sản thực tế =
mẹ tôm lượng Trọng
trùng ấu lượng Số

Tỉ lệ sống (%) =
ươngđem trùng ấu lượng Số
PL lượng Số
x 100
3.3.4.3 Phần mềm xử lý số liệu
Tất cả các số liệu được xử lý dựa trên phần mềm MS Excel.
20
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ

đảm bảo đủ số lượng cặp tôm đẻ là một thuận lợi rất lớn. Mật độ nuôi vỗ từ 1,1-
2,9 con/m
2
tạo điều kiện thuận lợi cho cho tôm thành thục tốt. Tỷ lệ thành thục
của các dòng tôm dao động từ 21,6 - 60,0% ở con đực và 24,6 - 26,7 ở con cái là
cao và cao hơn nhiều so với báo cáo của Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) là
tỷ lệ tôm cái mang trứng chiếm không quá 10% tổng đàn tôm cái ở bất kỳ thời
điểm nào. Tỷ lệ thành thục cao của tôm bố mẹ phụ thuộc vào thành phần thức ăn,
chế độ cho ăn, nhất là bổ sung thức ăn tươi.
Một điều dễ nhận thấy là mật độ nuôi vỗ càng thấp thì tỷ lệ thành thục càng cao ở
tất cả các dòng tôm. Điển hình như ở mật độ 1,1 con/m
2
, tôm đực Mêkông thành
thục rất tốt (60%), còn ở mật độ cao nhất (2,9 con/m
2
), tôm đực Đồng Nai thành
thục kém nhất (21,6%). Tuy nhiên kết quả tôm bố mẹ thành thục được báo cáo ở
đề tài này chỉ có giá trị tham khảo, vì số liệu chỉ dựa trên số lượng tôm bố mẹ
thành thục tốt nhất được ghép cặp của mỗi đợt sinh sản, không thể thu thập được
số liệu thành thục của tổng đàn tôm.
21
4.2 Ghép cặp cho sinh sản nhân tạo
4.2.1 Tỷ lệ tôm đẻ trứng của các dòng tôm càng xanh
Bảng 4.2. Số lượng tôm ghép cặp và tỷ lệ đẻ của các nghiệm thức lai
Nhóm Phép lai
Số tôm ghép
cặp (cặp)
Số tôm đẻ
trứng (con)
Tỷ lệ đẻ (%)

khác nhau nhiều ở các phép lai dao động từ 40,7 - 59,4 gram và phù hợp với đề
nghị chọn tôm cái cho tham gia sinh sản của Subramnyam (1980) (trích dẫn bởi
Nguyễn Việt Thắng, 1993). Trọng lượng buồng trứng của các nghiệm thức dao
động từ 6,8 - 9,5 gram kết quả này bằng với kết quả của Ang (1991) (trích dẫn
bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2000).
Sức sinh sản thực tế giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt dao động từ 572
- 797 ấu trùng/gram tôm mẹ. Sức sinh sản thực tế của nghiệm thức tôm cái
Mêkông x tôm đực Mêkông cao nhất (797 ấu trùng/gram), thấp nhất tôm cái
Malay x tôm đực Malay (572 ấu trùng/gram) và các nghiệm thức còn lại dao động
từ 587 - 738 (ấu trùng/gram). Kết quả này hơi thấp hơn so với nghiên cứu của
Nguyễn Quốc Hưng (2004) là sức sinh sản thực tế của tôm dòng Thái Lan là 628
(ấu trùng/gram) và dòng Việt Nam là 923 (ấu trùng/gram). Điều này cũng dễ hiểu
do dòng tôm Malay mới được nhập về Việt Nam từ tháng 10/2007 nên khả năng
thích nghi và thành thục kém hơn các dòng tôm bản địa. Tuy nhiên các phép lai
giữa tôm cái Malay với các dòng tôm bản địa (Đồng Nai và Mêkông) lại cho sức
sinh sản cao hơn.
4.3 Ương ấu trùng theo gia đình (giai đoạn 1 đến giai đoạn postlarvae 1)
4.3.1. Biến động các chỉ số môi trường nước ương
23
Nghiệm thức
(cái x đực)
Trọng lượng
tôm mẹ
(gram)
Trọng lượng
trứng (gram)
Số lượng ấu
trùng (con)
Sức sinh sản
thực tế

♀ML × ♂MK 28,2 29,6 7,9 8,1 12 0,04 0,08
Kết quả ghi nhận từ thí nghiệm cho thấy các yếu tố môi trường nước như: nhiệt
độ, pH, độ mặn,nitrite, NH
3
không có sự sai khác lớn giữa các nghiệm thức
(Bảng 4.4). Sự biến động của các yếu tố này theo ngày tuổi sẽ được thảo luận tiếp
dưới đây.
4.3.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình của các nghiệm thức rất ổn định dao động từ 28,0 - 28,2
0
C
vào buổi sáng và 29,4 - 29,6
0
C vào buổi chiều. Theo New (1982) cho rằng
ngưỡng nhiệt độ trên của ấu trùng tôm càng xanh là 33 - 34
0
C (trích dẫn bởi
Huỳnh Hàn Châu và ctv, 2007). Nguyễn Việt Thắng (1993) cho rằng ngưỡng
nhiệt độ dưới của tôm càng xanh là 21
0
C.
Theo Ling (1969) nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng là 26 - 31
0
C
và trong khoảng nhiệt độ thích hợp nếu nhiệt độ càng cao thì ấu trùng phát triển
càng nhanh (trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2007. Theo Aquacop
(1984) nhiệt độ của bể ương cao hơn 30
0
C thì ấu trùng có tỷ lệ sống thấp.
Như vậy, sự biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm luôn nằm trong khoảng

Các nghiệm thức thí nghiệm có nitrite dao động từ 0,08 - 0,15 mg/l. Có nhiều ý
kiến khác nhau về hàm lượng nitrite trong nước ương ấu trùng tôm càng xanh,
New (1990) hàm lượng nitrite phải nhỏ hơn 0,1 mg/l (trích dẫn bởi Nguyễn
Thanh Phương và ctv, 2007). Arnstrong et al (1976) kiến nghị hàm lượng nitrite
không vượt quá 1.8 mg/l (trích dẫn bởi Trần Văn Bùi và ctv, 2007) Như vậy sự
biến động nitrite trong quá trình thí nghiệm luôn nằm trong khoảng thích hợp cho
sự phát triển của ấu trùng.
NH
3
của các nghiệm thức dao động từ 0,03 - 0,05 mg/l. Theo New (1990) hàm
lượng nitrite phải nhỏ hơn 0,1 mg/l (trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv,
2007).
Như vậy, sự biến động NH
3
trung bình của các nghiệm thức đều nằm trong
khoảng thích hợp, không gây độc cho ấu trùng tôm càng xanh. Mức NH
3
thích
hợp cho ấu trùng có thể là một phần do khâu cho ăn, chăm sóc ấu trùng tốt, thức
ăn không dư thừa nhiều và khâu vệ sinh bể ương tốt làm cho các yếu tố môi
trường ương nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng tôm càng
xanh.
4.3.2 Thời gian biến thái thành postlarvae và tỷ lệ sống của postlarvae
Bảng 4.5 Ngày xuất hiện, ngày kết thúc postlarvae và tỷ lệ sống của ấu trùng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status