TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
DỰ ÁN HỢP TÁC VIỆT NAM – HÀ LAN BÀI GIẢNG
NÔNG LÂM KẾT HỢP
Người biên soạn: Lê Quang Vĩnh
23
5.1. Khái niệm 23
5.2. Các hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống 23
Bài 6: : Các hệ thống nông lâm kết hợp cải tiế
n
32
6.1. Giới thiệu về các hệ thống nông lâm kết hợp cải tiế
n
32
6.2. Các hệ thống nông lâm kết hợp cải tiến 32
Bài 7: Kỹ thuật bảo tồn đất và nước 43
7.1. Sự cần thiết của việc bảo tồn đất và nước 43
7.2. Xói mòn và các yếu tố chi phối đến xói mòn đất 43
7.3. Sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để kiểm soát xói mòn 45
Bài 8: Phát triển kỹ thuật nông lâm kết hợp có sự
tham gia
54
8.1. Mô tả điểm, chẩn đoán và thiết kế kỹ thuật NLKH có sự tham gia 54
8.2. Thực hiện các hoạt động nghiên cứu NLKH có sự tham gia 56
1
Bài 1. MỞ ĐẦU
1.1. Các vấn đề trong phát triển nông thôn miền núi
1.1.1. Tính đa dạng về sinh thái - nhân văn của khu vực nông thôn và miền núi
Đa dạng về địa hình-đất đai-tiểu khí hậu: Sự biến đổi mạnh về địa hình dẫn đến
biến động lớn về đất đai và tiểu khí hậu cả trên những phạm vi nhỏ.
Đa dạng sinh học: Hệ động thực vật phong phú và đa dạng. Thực vật bao gồm rất
nhiều loài và dạng sống khác nhau.
Đa dạng về dân tộc và văn hóa: Miền núi Việt Nam là địa bàn sinh sống của hơn
nhưng bình quân diện tích đất canh tác đầu người rất thấp (vào
khoảng 1200 - 1500 m
2
/người) (FAO và IIRR, 1995), trong khi đó mức đất canh tác để đáp
ứng nhu cầu lương thực tối thiểu là 2000m
2
/người. Trong lúc đó khả năng tăng diện tích
lúa nước - là hệ thống sản xuất ngũ cốc có năng suất cao và ổn định nhất Việt Nam - ở khu
vực miền núi rất hạn chế, chỉ diễn ra ở các khu vực phân tán nhỏ hẹp có thể tưới tiêu được.
Vì vậy có thể nói rằng mật độ dân số đang tiến gần đến hoặc thậm chí đã vượt quá khả
năng chịu đựng của đất đai ở phần lớn khu vực miền núi (Jamieson và cộng sự, 1998).
Sự gia tăng dân số đã tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên miền núi là rừng, đất
và nguồn nước, làm các nguồn tài nguyên quí giá này suy giảm nhanh chóng.
Sự suy thoái về tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Sự suy giảm nhanh chóng tài nguyên rừng: Độ che phủ rừng cả nước giảm từ từ 43,0%
vào 1943 xuống 32,1% năm 1980, 27,2% năm 1990 sau đó tăng dần lên 28,1% năm 1995
2
rồi đạt đến 33,2% năm 1999, 38% năm 2006. Mặc dù độ che phủ tăng, nhưng phần lớn độ
che phủ này nhờ vào diện tích rừng trồng, diện tích rừng tự nhiên thì rất ít. Cách đây 50
năm, rừng tự nhiên bao phủ phần lớn khu vực đồi núi nhưng trong những năm gần đây đã
giảm xuống dưới 20% ở phần lớn khu vực đồi núi phía Bắc, thậm chí có nơi giảm còn
10% như ở khu vực miền núi vùng Tây Bắc. Các diện tích rừng còn lại phần lớn là rừng
nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp và hiếm có loài cây có giá trị kinh tế.
- Sự suy thoái của đất đai: Sự suy
thoái của đất đai là điều dễ thấy ở
khắp miền núi Việt Nam. Do thiếu
rừng che phủ, xói mòn đất và rửa trôi
chất dinh dưỡng diễn ra mạnh làm
giảm độ màu mỡ của đất. Canh tác
dân và thúc đẩy phát huy tính tự chủ của họ trong quản lý tài nguyên (Hoàng Hữu Cải,
1999). Chính điều này đã làm giảm hiệu quả và tác dụng của nhiều các chương trình phát
triển miền núi mặc dù có đầu tư rất lớn.
Xu hướng kết hợp giữa lâm nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác trong sử dụng
tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế: Khái niệm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp
một cách thuần túy và tách biệt theo quan niệm trước đây đa trở nên không còn phù hợp ở
nhiều khu vực dân cư ở miền núi. Phát triển sử dụng đất thuần nông hoặc thuần lâm đã bộc
Hình 1.1: R
ừ
ng b
ị
t
ổ
n th
ươ
ng
3
lộ nhiều hạn chế lớn, chẳng hạn canh tác thuần nông trên đất dốc cho năng suất thấp và
không ổn dịnh trong khi phát triển thuần lâm lại có khó khăn về nhu cầu lương thực trước
mắt. Thực tiễn sản xuất đã xuất hiện các phương thức sử dụng đất tổng hợp, có sự đan xen
giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
1.1.3. Những thách thức đối với phát triển bền vững nông thôn miền núi
a)Khái niệm về phát triển bền vững nông thôn và miền núi
Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là quản lý và bảo tồn các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và định hướng các thay đổi kỹ thuật và định chế nhằm đảm bảo thảo
mãn các nhu cầu của con người của các thế hệ hiện tại và trong tương lai. Đó là sự phát
triển đảm bảo bảo tồn đất, nước và các nguồn gen động thực vật, chống xuống cấp về môi
trường, phù hợp về kỹ thuật, khả thi về kinh tế và được xã hội chấp nhận (FAO, 1995). Nói
nhiều sản phẩm như gỗ, củi, tinh dầu, v.v. để đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu cho hộ
gia đình.
4
Tạo việc làm: Nông lâm kết hợp gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có tác
dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân.
Tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít đòi hỏi về đầu
vào, các hệ thống nông lâm kết hợp dễ có khả năng đem lại thu nhập cao cho hộ gia đình
Giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có cấu trúc phức tạp, đa
dạng được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong
hệ thống, các hệ thống nông lâm kết hợp thường có tính ổn định cao trước các biến động
bất lợi về điều kiện tự nhiên (như dịch sâu bệnh, hạn hán, v.v.). Sự đa dạng về loại sản
phẩm đầu ra cũng góp phần giảm rủi ro về thị trường và giá cho nông hộ.
thực
Đ
ấ
t r
ừ
ng c
ầ
n
đư
ợ
c
bảo vệ để tái tạo lại
rừng, chống lại canh
tác nương rẫy không
b
ề
n v
ữ
ngChi
ề
u h
ư
ớ
ng
sản xuất đa
dạng
5
hoang rừng. Chính vì vậy mà canh tác nông lâm kết hợp sẽ làm giảm sức ép của con người
vào rừng tự nhiên, giảm tốc độ phá rừng (Young, 1997).
Các hộ nông dân qua canh tác theo phương thức này sẽ dần dần nhận thức được vai
trò của cây thân gỗ trong việc bảo vệ đất, nước và sẽ có đổi mới về kiến thức, thái độ có lợi
cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng.
Việc phối hợp các loài cây thân gỗ vào nông trại đã tận dụng không gian của hệ thống
trong sản xuất làm tăng tính đa dạng sinh học ở phạm vi nông trại và cảnh quan.
Chính vì các lợi ích nầy mà nông lâm kết hợp thường được chú trọng phát triển trong
công tác quản lý vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn nguồn gen.
Nông lâm kết hợp và việc làm giảm hiệu ứng nhà kính:
Nhiều nhà nghiên cứu gợi ý rằng sự phát triển nông lâm kết hợp trên qui mô lớn có
thể làm giảm khí CO
2
và các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác (Dixon, 1995, 1996;
Schroeder, 1994). Các cơ chế của tác động này có thể là: sự đồng hóa khí CO
2
của cây thân
gỗ trên nông trại; gia tăng lượng cacbon trong đất và giảm nạn phá rừng (Young, 1997).
1.2.3. Tiềm năng và triển vọng phát triển nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Sự đa dạng về sinh thái môi trường ở Việt Nam tạo điều kiện cho việc áp dụng các
hệ thống NLKH: Đó là sự dạng về điều kiện lập địa (đất đai, địa hình và tiểu khí hậu) và đa
dạng sinh học (cảnh quan và hệ sinh thái, loài và các biến bị di truyền dưới loài)
Sự phong phú và đa dạng về các kiến thức kỹ thuật bản địa về nông lâm kết hợp:
Sự kết hợp giữa cây rừng, hoa màu và vật nuôi trong sử dụng đất ở Việt Nam đã được
nông dân của các cộng đồng dân tộc ở các vùng khác nhau trong cả nước áp dụng từ lâu và
sẽ là cơ sở vững chắc cho phát triển cải tiến các hệ thống NLKH
Nhu cầu phát triển nông lâm kết hợp của nhân dân: Dưới áp lực của dân số gia
tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây
rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất, và áp dụng các kỹ
thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương (Bene và
các cộng sự, 1977)
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và
trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra
các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương (PCARRD,
1979).
Nông lâm kết hợp là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu
năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp ) được trồng có suy tính
trên cùng một đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng
xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống Nông Lâm Kết Hợp có mối tác
động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng
(Lundgren và Raintree, 1983). Xem hình ở trang để thấy rõ sự phối hợp của 3 thành
phần trên.
Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa
màu và/hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức
phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và
vật nuôi một cách vững bền trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có
kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn (Nair, 1987).
Các khái niệm trên đơn giản mô tả NLKH như là một loạt các hướng dẫn cho một sự
sử dụng đất liên tục. Tuy nhiên, NLKH như là một kỹ thuật và khoa học đã được phát triển
thành một điều gì khác hơn là các hướng dẫn. Ngày nay nó được xem như là một ngành
nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài
nguyên tự nhiên một cách bền vững. Trong nỗ lực để định nghĩa NLKH theo ý nghĩa tổng
thể và mang đậm tính sinh thái môi trường hơn, Leaky (1996) đã mô tả nó như là các hệ
thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối
hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất
giúp gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các nông trại nhỏ. Vào năm
1997, Trung Tâm Quốc Tế Nghiên Cứu về NLKH (gọi tắt là ICRAF) đã xem xét lại khái
2.2. Các Đặc Điểm của Nông Lâm Kết Hợp
2.2.1. Các đặc điểm để nhận biết một hệ thống nông lâm kết hợp
Với định nghĩa trên của ICRAF, một hệ canh tác sử dụng đất được gọi là nông lâm kết
hợp có các đặc điểm sau đây:
- Kỹ thuật nông lâm thường bao gồm hai hoặc nhiều hơn hai loại thực vật (hay thực
vật và động vật) trong đó ít nhất phải có một loại thân gỗ đa niên.
- Có ít nhất hai hay nhiều hơn sản phẩm từ hệ thống.
- Chu kỳ sản xuất thường dài hơn là một năm .
- Đa dạng hơn về sinh thái (cấu trúc và nhiệm vụ) và về kinh tế so với canh tác độc
canh.
- Cần phải có một mối quan hệ hỗ tương có ý nghĩa giữa thành phần cây thân gỗ và
thành phần khác.
Trong các hệ thống Nông lâm kết hợp sự hiện diện của các mối quan hệ hỗ tương bao
gồm về sinh thái và kinh tế giữa các thành phần của hệ thống là đặc điểm cơ bản.
2.2.2. Các đặc điểm chính của hệ thống nông lâm kết hơp
Theo Nair (1987), các đặc điểm mấu chốt của hệ thống nông lâm kết hợp đã được đa số
các nhà khoa học chấp nhận như sau:
8
- Nó là tên chung để chỉ các hệ thống sử dụng đất bao gồm việc trồng các cây lâu
năm kết hợp với hoa màu và/hay gia súc trên cùng một đơn vị diện tích;
- Phối hợp giữa sự sản xuất các loại sản phẩm với việc bảo tồn các nguồn tài nguyên
cơ bản của hệ thống;
- Chú trọng sử dụng các loài cây địa phương, đa dụng;
- Hệ thống đặc biệt thích hợp cho điều kiện hoàn cảnh dễ bị thoái hóa và đầu tư thấp;
- Nó quan tâm nhiều hơn về các giá trị dân sinh xã hội so với các hệ thống sử dụng
đất khác.
- Cấu trúc và chức năng của hệ thống thì phong phú đa dạng hơn so với canh tác độc
canh.
hoạch, thiết kế và thực hiện các hệ thống Nông lâm kết hợp.
9
2.3. Vai trò của Nông lâm kết hợp
Cơ hội đóng góp quan trọng của nông lâm kết hợp được đặt trên hai cơ sở sau:
2.3.1. Hoàn cảnh tự nhiên
Nông lâm kết hợp dựa vào các lợi ích của rừng và cây lâu năm đối với đất và môi
trường như:
- Bảo tồn và cải thiện đất đai
- Bảo tồn nước
- Cải thiện điều kiện tiểu khí hậu
- Các lợi ích khác.
2.3.2. Dân sinh kinh tế
Nông lâm kết hợp lấy tiền đề hỗ trợ các điều kiện dân sinh kinh tế của nông dân
nghèo và không có đất canh tác ở vùng cao. Họ là nhóm đối tượng thiếu tài nguyên và hỗ
trợ, thất nghiệp và thường bị đẩy canh tác ở các vùng đất đai cằn cỗi. Do vậy, Nông lâm
kết hợp tập trung giải quyết:
- Công ăn việc làm
- Nguồn nguyên liệu cho tiểu thủ công nghiệp
- Nguồn lương thực, năng lượng (gỗ củi), thức ăn cho gia súc, vv., và
- Nguồn vật liệu để xây nhà, nông trại, vv.
Câu hỏi thảo luận
1. Tại sao kỹ thuật nông lâm kết hợp là cần thiết cho phát triển nông thôn miền núi ở Việt
Nam?
2. Các đặc điểm để đánh giá một hệ thống canh tác đồi núi là một hệ thống nông lâm kết
hợp?
- Cơ sở chức năng: dựa trên chức năng chủ yếu hay vai trò của các thành phần trong
hệ thống, chủ yếu là thành phần thân gỗ (thí dụ nhiệm vụ sản xuất như là sản xuất thực
phẩm, thức ăn gia súc, củi chất đốt hay nhiệm vụ phòng hộ chẳng hạn như đai cản gió,
rừng phòng hộ chống cát bay, bảo vệ đất chống xói mòn ,bảo vệ vùng đầu nguồn nước, bảo
dưỡng đất đai).
- Cơ sở kinh tế xã hội: dựa trên các mức độ đầu tư vào quản lý nông trại (thấp hay
cao) hay cường độ hay tầm mức của sự quản trị và mục đích thương mại (tự cung tự cấp,
sản xuất hàng hóa hay cả hai).
- Cơ sở sinh thái: dựa vào điều kiện sinh thái và sự tương thích sinh thái của các hệ
thống do nhận định rằng một vài loại hệ thống thích hợp hơn cho một số vùng sinh thái
như vùng khô hạn, bán khô hạn, nhiệt đới ẩm, vv.
Các nguyên tắc phân loại trên rõ ràng có quan hệ lẫn nhau, chẳng hạn như các nguyên
tắc dựa vào cấu trúc tầng và dựa vào chức năng thường được đặt làm cơ sở để phân chia hệ
thống, còn các nguyên tắc khác như là dân sinh kinh tế, vùng sinh thái được sử dụng làm
nền tảng để chia các nhóm theo mục đích.
3.2. Phân loại các hệ thống Nông Lâm kết hợp
Dựa trên cơ sở phân lọai các hệ thống và kỹ thuật Nông lâm kết hợp của Nair đưa ra
năm 1989 (Bảng 3.1), có thể phân loại các hệ thống NLKH trên thế giới như sau:
3.2.1. Phân loại theo cấu trúc của hệ thống
a/ Dựa trên tính chất của các thành phần
Trong hệ thống nông lâm điển hình có ba thành phần chính là : cây thân gỗ, cây hoa
màu và vật nuôi. Nó dẫn đến sự phân loại sau đây:
- Phương thức kết hợp cây lâu năm và hoa màu (ví dụ hệ Nông Lâm có sự phối hợp
hoa màu và cây hay bụi đa niên )
- Phương thức kết hợp cây lâu năm, đồng cỏ và gia súc (ví dụ hệ Lâm và đồng cỏ có
sự phối hợp đồng cỏ, chăn nuôi với rừng cây lâu năm).
11
- Phương thức kết hợp hoa màu, đồng cỏ gia súc và cây lâu năm (Ví dụ hệ Nông Lâm
và đồng cỏ).
sản xuất như:
Sản xuất hàng hóa: khi mà hệ thống cho đầu ra là các sản phẩm khác nhau để bán ra
thị trường để lấy lời
Tự cung tự cấp: khi hệ thống sử dụng đất sản xuất cung cấp các sản phẩm dùng
trong gia đình như thỏa mãn các nhu cầu về lương thực thực phẩm cho nông hộ.
Trung gian cả hai thứ: hệ thống sản xuất để thỏa mãn cả nhu cầu tại chỗ của nông
hộ và sản xuất hàng hóa cho thị trường.
12
Hơn nữa các yếu tố dân sinh xã hội và văn hoá cũng ấn định những nét riêng lẽ cho
từng hệ thống kỹ thuật Nông Lâm kết hợp. Tại một địa điểm đồng nhất về các yếu tố tự
nhiên, sinh thái, một kỹ thuật như VAC có thể được phân biệt khác nhau do được áp dụng
bởi tình trạng kinh tế (giàu, trung bình hay nghèo) của nông hộ hoặc do các nhóm dân khác
nhau ( dân tộc ít người ở địa phương, người Kinh ở đồng bằng, người di cư ở các vùng
khác vv )
Câu hỏi thảo luận
3. Trình bày quan điểm và nguyên tắc để phân loại các hệ thống NLKH trên thế giới ?
4. Nêu sự khác biệt khi phân loại các hệ thống nông lâm kết hợp?
5. Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội của một địa điểm đã chi phối đến sự xếp loại một hệ
thống nông lâm kết hợp như thế nào?
Hình 3.1:
Gi
ản đồ phân loại theo cấu tạo các
thành phần
13
Bài 4. VAI TRÒ CỦA CÂY LÂU NĂM VÀ RỪNG
ngoài trảng trống. Một thí nghiệm tương tự khác được tiến hành ở India đã phát hiện rằng
hàm lượng carbon hữu cơ ở đất dưới tán cây Prosopis sp. cao hơn so với vùng kế cận
không có cây (Singh và Lal, 1969).
- Tăng thêm vào đất các chất dinh dưỡng: điều này khiến cần lưu ý vai trò của các
cây họ Đậu cố định đạm. Một cách tổng quát, cây lâu năm đã đóng góp các chất dinh
dưỡng vào đất chủ yếu thông qua vật rụng của chúng (Nair, 1984). Trong một thí nghiệm
so sánh đất dưới rừng cây Byrsohima sp. và đất ở trảng bụi, kết quả phân tích cho thấy do
sự đóng góp của vật rụng mà đất dưới rừng cây trên có hàm lượng các chất Ca, K, Mg, Na,
và phần trăm lượng bazơ gia tăng cao hơn so với đất trảng cỏ bụi. Kellman (1978) cũng đã
chứng tỏ rằng các dinh dưỡng Ca, Mg, K, Na, PO
4
và N gia tăng khi khảo sát đất ở vùng
dưới tán rừng từ các vùng trống trải xung quanh. Tương tự như vậy Singh và Lal, 1969
14
cũng đã có kết quả về tổng số N, P, và K cao hơn ở dưới tán cây so với các vùng trống trải
xung quanh.
Juo và Lal (1977) được trích bởi Sanchez (1987) đã so sánh các ảnh hưởng của hệ
thống hưu canh dùng cây keo dậu so với cây bụi hoang dã trên đất Alfisol ở Tây Nigeria về
một số chỉ tiêu hóa tính của đất. Sau 3 năm, trong đó cây keo dậu được cắt xén hàng năm
để làm chất tủ và bồi dưỡng cho đất, đất hưu canh với cây keo dậu cho khả năng hoán
chuyển cũng như mức độ trao đổi của các cation Ca
++
và K
+
cao khi so sánh với đất hưu
canh bằng cây cỏ bụi hoang dại.
Nghiên cứu của Beer (1988), cho thấy: Cây lâu năm còn có tác dụng bổ sung đạm
qua lá rụng và lá cành được rong tỉa hàng năm . Ví dụ như cây Erythrina poeppiana, lượng
cây họ Đậu làm gia tăng độ phì nhiêu của đất đã được chứng tỏ bởi nhiều thí nghiệm của
Young, 1987; Vergara, 1982. Nhiều tác giả cũng nhấn mạnh đến tiềm năng của các loài
cây này trong các hệ thống nông lâm kết hợp. Đạm tự do trong không khí được cố định
thành đạm hữu dụng nhờ các loài cây họ Đậu và các loài vi sinh vật cố định đạm. Các chất
đạm này sẽ cấu tạo sinh khối của thực vật và sẽ trả lại cho đất qua vật rụng và rễ bị phân
15
hủy để cung cấp dinh dưỡng lại cho các loài thực vật khác.
Cơ chế quan trọng khác là hiện tượng “ bơm chất dinh dưỡng lên “ hay di chuyển
chất dinh dưỡng từ tầng đất sâu lên lớp đất mặt ( Avery, 1987; Young, 1987). Hiện tượng
này giải thích rằng cây có hệ rễ sâu có thể hấp thu chất dinh dưỡng bị rửa trôi xuống sâu và
chuyển chúng thành hữu hiệu ở tầng đất mặt thông qua vật rụng cho các loài hoa màu có rễ
cạn (nông). Tuy vậy, cần lưu ý rằng chưa có đủ kết quả thí nghiệm để giải thích cặn kẽ
hiện tượng này một cách khoa học (1987). Một số hoài nghi đã được Avery, 1987 tổng kết
như sau:
- Không phải tất cả các cây lâu năm đều có rễ sâu hơn cỏ hay các loại cây tầng thấp,
- Điều kiện của rừng tự nhiên và rừng trồng có thể khác so với từng cá thể cây,
- Hiện tượng này có thể có ý nghĩa khi cây được trồng qua một thời gian dài.
Cơ chế sau cùng về phân xanh được đề cập nhiều trong các hệ thống trồng xen hoa
màu với cây bụi họ Đậu hay kỹ thuật SALT sẽ được giới thiệu chi tiết trong các chương
sau.
4.1.1.2. Cây ngăn chặn xói mòn đất và cải thiện bảo tồn nước
Bảng 4.1: Mức độ xói mòn của các phương thức sử dụng đất khác nhau
( Theo Ohigbo và Lal, 1977)
MỨC XÓI MÒN ( tấn / ha)
Địa điểm Độ dốc (%) Lượng mưa
(mm)
Rừng Hoa màu Đất trống
Thượng Volta
Senegal
tỉ lệ xói mòn thấp nhất trong khi đất làm rẫy có lượng xói mòn cao nhất (Pacardo và
Samson, 1986).
4.1.1.3. Cây cải tạo tiểu khí hậu trong các vườn nông lâm kết hợp
Cây lâu năm cải tạo tiểu khí hậu nhờ vào ảnh hưởng che chắn của tán cây, giảm
lượng bốc thoát hơi nước, cung cấp chất hữu cơ cho đất, cải thiện độ thấm nước của đất,
vv. Vì vậy cây thường được trồng để hỗ trợ tạo bóng che thích hợp cho hoa màu và các cây
trồng khác.
Vận tốc gió cao có thể gây ra nhiều tác hại cho hoa màu. Bên cạnh các thiệt hại cơ
giới, gió mạnh sẽ dẫn đến bốc hơi nhiều tạo nên các khủng hoảng thiếu nước cho cây hoa
16
màu, nhất là ở các vùng khô. Cây có thể làm giảm vận tốc gió do tạo nên các hàng rào chắn
gió.
4.1.1.4. Cây làm hàng rào sống
Ở vùng nông thôn cây hàng rào sống quanh nông trại, vườn nhà ở.
Hình 4.1: Chu trình hoàn trả chất dinh dưỡng và khả năng kiểm soát chống xói mòn
trong môt hệ thống trồng xen theo băng. Kang và Wilson (1987)
Hình 4.2: C
ác ti
ến tr
ình mà cây lâu n
ăm có th
ể cải thiện đ
ư
ợc điều kiện đất
.
- Nhiều tầng tán ;
- Chu trình chất dinh dưỡng kín và nhanh;
- Diễn thế tự nhiên theo từng đám (patch succession)
- Có sự cộng hưởng giữa các hệ thống "nông lâm giống rừng tự nhiên" với các hệ
sinh thái rừng tự nhiên xung quanh.
Hệ thống lô rừng nhỏ của dân Ifugao ở Philippin (woodlot) là một thí dụ điển hình của
đặc tính này nơi mà cây gỗ, tre, mây và cây thuốc v.v. đã được trồng chung với nhau. Sự
đa dạng của nó có lúc phong phú hơn cả rừng tự nhiên. Kỹ thuật cố gắng mô phỏng theo
các đặc tính của rừng tự nhiên có đặc điểm nổi bật về mặt sinh thái môi trường. Thực tế, có
nhiều trường hợp hệ thống bền vững do có được hỗ trợ phối hợp lẫn nhau, thích ứng, và đa
dạng nhất là khi xen nối tiếp với hệ sinh thái rừng tự nhiên tại chỗ với các hệ canh tác nông
lâm (Oldeman,1983). Hơn nữa, có đề nghị rằng hệ sinh thái tự nhiên có thể được vận dụng
làm cơ sở để chọn lọc xây dựng các kỹ thuật nông lâm kết hợp từ các kết quả nghiên cứu
về kiểu rừng trong đó các tập đoàn thực vật sống liên kết hỗ trợ với nhau, hoặc lấy hệ sinh
thái tự nhiên làm kiểu mẫu cho hệ thống canh tác hoa màu trong nông nghiệp (Hart, 1980).
18
Lasco,1987 cũng đã nghiên cứu và nhận định rừng mưa nhiệt đới đã được xem như là cơ
sở của việc xây dựng hệ thống nông lâm kết hợp bền vững, đặc biệt là các hệ thống
nhiều tầng.
Hart, 1980 cũng đã đưa ra một thí dụ về kỹ thuật canh tác liên tiếp hoa màu dựa vào
nguyên tắc thay thế tự nhiên liên tiếp của rừng. Từ đó tác giả này đã đề xuất hai giai đoạn
tiến hành. Giai đoạn thứ nhất gồm trồng các loại đậu, bắp, khoai mì, và cây mã đề trên đất
mới khai phá. Giai đoạn hai sau đó bằng trồng dừa, cacao, và cao su xen với cây mã đề.
Kiểu bố trí này được đặc trên cơ sở của các nghiên cứu kết luận rằng trong quá trình thay
thế tự nhiên của rừng, không bao giờ các loài cây con dạng bình ổn (climax) xuất hiện ở
giai đoạn tiên phong của rừng (Janzen,1975 được liệt kê bởi Hart, 1980). Nhận định này
tuy còn đang ở giai đoạn phôi thai nhưng nó chứng tỏ một một hướng phát triển kỹ thuật
nông lâm kết hợp là vận dụng các hiểu biết về rừng tự nhiên làm cơ sở cho thiết kế cả các
hệ thống nông nghiệp lẫn nông lâm kết hợp. Yêu cầu trước mắt hiện nay là cần nghiên cứu
19
4.2.1.4. Rừng phòng hộ và tạo bóng cho cây trồng
Một vài loại hoa màu đòi hỏi bóng che ở trên hay ít nhất chúng có thể chịu đựng để
phát triển dưới bóng che. Rừng tự nhiên đã được dùng trong các hệ thống nông lâm kết
hợp vì giá trị che bóng của nó. Cây cà phê thường dùng được trồng dưới tán rừng thông
(Pinus kesiya) (Penafiel và Botengan, 1985) hay dưới tán rừng thứ sinh (Ronquillo và
nhiều người khác, 1987), (Lasco, 1987c), cây quế cũng được trồng dưới bóng của cây khác
hay rừng thứ sinh thí dụ ở Trà Mi Quảng Nam, Văn Chấn Yên Bái. Hệ thống Ifugao cũng
được trồng xen bằng nhiều loại cây hoa màu và thực vật có lợi dưới tán rừng. Hình 4.3: Cây keo dậu (Leucaena leucocephala) che bóng cho cây cà phê chè
4.2.2. Vai trò kinh tế, văn hóa và xã hội của rừng
4.2.2.1. Kinh tế
Rừng là nơi cung cấp các nguồn lợi kinh tế cho người dân và xã hội như gỗ các loại,
các nguyên liệu giấy sợi và nguyên liệu cho công nghiệp. Hơn nữa, rừng còn cung cấp các
loại sản phẩm ngoài gỗ như thực phẩm cho các bộ lạc người dân tộc khiến rừng trở thành
6. Vai trò của vật rụng từ cây lâu năm đối với vòng quay dưỡng chất kín trong một hệ
thống nông lâm kết hợp?
7. Vai trò về mặt sinh thái của rừng trong các hệ thống nông lâm kết hợp? 21
Bài 5. CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP
TRUYỀN THỐNG
5.1. Khái niệm:
Hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống là những hệ thống canh tác đã được phát
triển và sử dụng qua nhiều thế hệ, được chứng thực qua thời gian. Chúng thường phổ biến
ở các cộng đồng người dân tộc sống ở gần hay ngay tại rừng. Một cách đơn giản hơn, hệ
thống NLKH truyền thống là các kiểu canh tác nông lâm kết hợp được phát triển bởi chính
người dân ở tại địa phương.
§Êt phôc håi
22
chuyển, thay thế nhau trên từng đám đất. Mấu chốt cho sự vững bền của kiểu canh tác này
là thời gian bỏ hóa, ở nơi có áp lực cao về dân số, quỹ đất bình quân trên đầu người càng
giảm thì thời gian bỏ hóa ngày càng ngắn lại, đất không có đủ thời gian để phục hồi. Điều
này dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống. Có khá nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam
có kiểu canh tác nương rẫy có thời gian bỏ hóa khá dài so với thời gian canh tác. Người
Stieng, Chil, K’hor, M’nông, Jarai, K’tu ở Tây Nguyên thường xem rẫy bỏ hóa của họ
như nơi dự trữ rau, trái cây, lương thực, thuốc trị bệnh và họ thường xuyên lui tới để thu
lượm sản phẩm trên đất bỏ hóa.
Tuy nhiên trong bối cảnh đất canh tác càng ngày càng ít khi dân số càng đông đúc,
các cộng đồng dân cư thường cải tiến kiểu canh tác của họ để đối phó. Hệ thống cải tiến bỏ
hóa của người Naalad là một ví dụ. Hệ thống đã được thực hiện hơn 80 năm nay tại một số
cộng đồng ở huyện Naga, đảo Cebu, Philippin. Để khắc phục tình trạng thiếu đất, độ phì
của đất suy giảm nhanh, bỏ hóa ngắn lại, kéo dài thời gian canh tác, Nông dân địa phương
đã trồng thành công loài cây keo dậu (Leucaena leucocephala) trong giai đoạn bỏ hoá. Họ
thường chia đất canh tác ra nhiều lô để trồng luân canh cây hoa màu và cây keo dậu để cải
tạo đất. Thời gian canh tác thay đổi từ 2 - 4 năm tùy theo số lô luân canh và tổng diện tích
rẫy của hộ gia đình, đặc biệt là phụ thuộc sức sinh trưởng của keo dậu. Keo dậu được gieo
trực tiếp ngay sau khi đất nghỉ canh tác. Với cách làm này người dân rút ngắn được thời
gian bỏ hóa, ngoài ra còn khai thác keo dậu lầm cột nhỏ và củi đun, lá và cành nhánh nhỏ
dược giữ lại tại chỗ làm phân xanh và xây dựng các rào chắn cơ giới theo đường đồng
mức. Chức năng chủ yếu của rào cản cơ giới là chống xói mòn và được xác định như là
một chỉ tiêu thời gian canh tác (chừng nào hàng rào này bị mục nát thì dừng canh tác). Kết
quả của kỹ thuật này được thể hiện bởi sức sinh trưởng và năng suất cao hơn của các loại
hoa màu nông nghiệp trồng xen.
Lợi ích:
- Trồng cây thân gỗ họ đậu cố định đạm vào đất bỏ hoá nhờ đó rút ngắn đáng kể thời
Hình 10. Hệ thống rừng - ruộng bậc thang
Hình 5.2: Hệ thống rừng và ruộng bậc thang trên đất dốc
Lợi ích:
- Tạo ra một hệ thống sử dụng đất bền vững
- Cho sản phẩm lương thực rất ổn định ở vùng cao
Hạn chế:
- Rất tốn công lao động trong việc xây dựng và duy trì hệ thống
- Chỉ áp dụng được ở những vùng có nguồn nước tự nhiên.
5.2.2.2. Vườn rừng
Vườn rừng là những khu đất được sử dụng để trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả
theo hướng thâm canh để cung cấp nhiều loại sản phẩm có giá trị hàng hóa cao. Vườn rừng
có diện tích biến động từ 0,3 - 0,5 ha, gần với đất thổ cư của gia đình.
Vườn rừng thường có cấu trúc một tầng cây gỗ chính được trồng thuần loài. Ngoài ra
còn có tầng thấp được trồng xen dưới tán hay tầng thảm tươi tự nhiên được duy trì bảo vệ
giữ lại.
Tầng cây chính: tùy theo điều kiện sinh thái, tập quán và kinh nghiệm truyền thống
của từng vùng cũng như nhu cầu của thị trường, người nông dân thường chọn lựa một
trong những loài sau đây để trồng trong vườn rừng của mình: Các loại tre trúc để cung cấp
vật liệu làm nhà, đồ dùng và nguyên liệu cho một số sản phẩm thủ công: tre diễn ở Phú
Thọ; luồng ở Thanh Hóa, Hòa Bình; trúc cần câu ở Cao Bằng, Bắc Cạn; tre gai và vầu
được trồng ở nhiều nơi. Các loại cây đặc sản có giá trị cao, cung cấp tinh dầu, dầu nhựa
phục vụ công nghiệp và xuất khẩu như quế ở Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam; trám ở