Câu 1: Những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Công
sản Việt Nam
Tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập một chính đảng duy nhất của Việt
Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long - Hương Cảng (Trung Quốc) được tiến
hành trong thời gian từ ngày 6-1-1930 đến ngày 7-2-1930 (sau này tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ III của Đảng ngày 10-9-1960 quyết nghị "từ nay trở đi sẽ lấy ngày 3
tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng".
Thành phần dự Hội nghị gồm 2 đại biểu của Đông Dương cộng sản Đảng (Trịnh Đình
Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm và
Nguyễn Thiệu), dưới sự chủ trì của Nguyễn ái Quốc-đại diện của Quốc tế Cộng sản. Đại
diện của Đông Dương Cộng sản liên đoàn không đến kịp, do vậy đến ngày 24-2-1930 xin
gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Nội dung Hội nghị: Thông qua các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đó là
Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều
lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam . Lấy tên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau này Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng được xem là Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, đã phản ánh những nội
dung cơ bản nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con
người trên đất nước Việt Nam.
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được Hội nghị thống
nhất thông qua là:
1- Khẳng định phươnghướng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đó là: "chủ trương
làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".(Sau
này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa). Tính chất giai
đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của
Đảng: cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị để tiên lên cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Đây là con đường cứu nước mới, khác với những chủ trương, những con đường
cứu nước của những nhà yêu nước đương thời đã đi vào bê tắc và thất bại. Như vậy, ngay
từ đầu Đảng ta đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận MÁC-LÊNIN vào hoàn cảnh cụ
thể của đất nước. Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam được phản ánh trong Cương
lĩnh đã thiện được tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghiã xã hội. Việc xác định
1
/
4- Về phương pháp cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đã khẳng định: phương pháp cách
mạng cơ bản của Việt Nam là dùng sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân để đánh
đổ đế quốc phong kiến, đó là bạo lực cách mạng. Phương pháp bạo lực cách mạng được
nêu lên với những biểu hiện cụ thể: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến,
đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, đánh trúc bọn đại địa chủ và
phong kiến. Chính sự thất bại của khuynh hướng cải lương hoà bình ở Việt Nam những
năm đầu thế kỷ XX đã cho thấy cách mạng muốn giành thắng lợi, không có con đường
nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng. Việc nêu lên phương pháp cách mạng bạo
lực trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã thể hiện sự thấm nhuần và tiếp thu tư
tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa MÁC-LÊNIN.
5- Xác định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, phải thu phục và lãnh đạo được dân chúng.
Để thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, Cương lĩnh đã khẳng định vai trò quyết
định của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp. Để lám tròn sứ mệnh lịch sử
là nhân tố tiên phong quyết đinh thắng lơi của cách mạng Việt Nam, Đảng phải: "thu
phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân
chúng". Khẳng định bản chất giai cấp của Đảng, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
và chiến lược đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công - nông là những vấn đế then
chốt bảo đảm cho Đảng ta trở thành nhân tố duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh cũng nêu lên sự gắn bó, quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng. Đây là
điều kiện tạo cho Đảng có nguồn súc mạnh vĩ đại và trở thành lãnh tụ chính trị cho cả dân
tộc. Sự lãnh đạo của.Đảng là yếu tố quyết định nhất cho thắng lợi của cách mạng Việt
Nam.
6- Phát huy tinh thần tự lực tự cường, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân
tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Vấn đề đoàn kết quốc tế cũng là một nội dung quan trọng của Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng. Đoàn kết quốc tế là một vấn đề có tính nguyên tắc của cách mạng Việt
Nam: "Trong khi tuyên truyền cái khấu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên
trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái nhưng không
thành công vì thiếu một đường lối đúng". "Năm 1930, kế thừa "Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên" và các tổ chức cộng sản tiền thân, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu
bước ngoặt của cách mạng Việt Nam".
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Điều đó nói lên quy luật ra đời
của Đảng và cũng chứng tỏ giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt
Nam đã trưởng thành và có đủ những yếu tố cơ bản nhất để khẳng định sự đảm nhiệm vai
trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đánh
dấu bước phát triển vế chất của cách mạng Việt Nam.
- Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập khẳng định dứt khoát con đường đi lên của dân tộc
Việt Nam từ 1930 là con đường cách mạng vô sản. Đó là sự lựa chọn của chính nhân dân
Việt Nam, chính lịch sử dân tộc Việt Nam trong quá trình tìm con đường giải phóng dân
tộc.
Sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh được thông qua ở Hội nghị thành lập
Đảng, từ năm 1930 cách mạng Việt Nam có được đường lối chính trị toàn diện đề ra mục
tiêu và phương pháp đấu tranh thích hợp, giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản của
xã hội, đồng thời có được tổ chức Đảng cách mạng để lãnh đạo và tổ chức phong trào
cách mạng. Sự ra đời của Đảng đã tạo những tiền đề và điều kiện để đưa cách mạng Việt
Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trên con đường giải phóng dân tộc, thống nhất
Tổ quốc và xây dựng đất nước .
Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi quá trình khảo
nghiệm của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên
CNXH của dân tộc ta từ khi Đảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta
trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu "dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh".
Câu 3: trình bày nội dung cơ bản cương lĩnh chính trị của đảng:
Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng "thu phục cho
được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng
phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ
mạng 8-1945
Phân tích thời cơ bùng nổ cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945? Những nguyên nhân thắng
lợi, ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm?
1. Nguyên nhân thắng lợi :
* Nguyên nhân khách quan: Cách mạnh tháng 8 nổ ra trong hoàn cảnh quốc tế vô cùng
thuận lợi. Đó là lúc phe phát xít đã bại trận. Kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam là
phát xít Nhật đã phải đầu hàng đồng minh. Quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh
thần chiến đấu. Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang, rệu rã.
* Nguyên nhân chủ quan:
- Đó là kết quả của 15 năm đấu tranh gian khổ, đầy hy sinh của nhân dân ta dưới sự lãnh
đạo của Đảng, là kết quả tổng hợp của 3 cao trào cách mạng.
- Đó là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng là điều kiện cơ bản, quyết định thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945.
2. Ý nghĩa lịch sử:
* Đối với dân tộc:
- Cách mạng Tháng Tám đã đập tan ách thống trị của đế quốc và phong kiến, lập ra nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà.
- Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã đánh dấu một trang sử vẻ vang của dân tộc ta, đánh
dấu sự đổi đời của một dân tộc. Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta từ một nước
thuộc địa trở thành một nước độc lập dân chủ, đưa Đảng ta từ một Đảng không hợp pháp
trở thành một Đảng nắm chính quyền, đưa dân tộc ta lên hàng các dân tộc tiên phong trên
thế giới.
- Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho cách mạng nước ta- kỷ
nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
- Cách mạng tháng Tám là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo của giai cấp công
nhân Việt Nam với đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Đây là một cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi đầu tiên của
chủ nghĩa Mác- Lênin ở một nước thuộc địa.
* Đối với quốc tế:
- Cách mạng Tháng Tám đã nâng cao vị thế quốc tế của dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên
âm mưu thâm độc thực hiện chính sách chia để trị, chính sách ngu dân, chính sách độc
quyền về kinh tế, ra sức vơ vét tài nguyêm bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ,
cừng nhiều hình thức thuế khoá năng nề, vô lý.
- Trước những áp bức bóc lột dã man của thực dân Pháp, nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy
cầm vũ khí chống bọn cướp nước. Nhưng tất cả những cuộc đấu tranh đó đều không
giành được thắng lơi. Giai cấp địa chủ phong kiên mà tiêu biểu là triều đình nhà Nguyễn
đã bất lực và hèn nhát nhanh chóng đầu hàng thực dân Pháp và trở thành phản động, phản
bội lại lợi ích của dân tộc.
5
Phong trào chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến: phong trào Cần Vương đã thất bại khi
cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng chấm dứt năm 1896; phong trào khởi nghĩa nông
dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi.
Nguyên nhân là do thiếu đường lối đúng, thiếu một tổ chức cách mạng có khả năng dẫn
dắt dân tộc đến thắng lợi. Điều này chứng tỏ rằng, thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm
trong khuôn khổ ý thức hệ tư tưởng phong kiến đã chấm dứt. Cuộc đấu tranh của nhân
dân ta rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước, về giai cấp lãnh đạo cách
mạng.
- Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam cũng như một số nước phương Đông
khác đã ít nhiều chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản. Đặc biệt cách mạng Minh Trị ở
Nhật Bản (l868), cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã có tác động nhất định
tới phong trào yêu nước ở Việt Nam, làm dấy lên ở nước ta một phong trào yêu nước
rộng rãi theo khuynh hướng tu sản nhưng đều thất bại. Tiêu biểu là phong trào của cụ
Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, phong trào Duy Tân của vua Duy Tân. Điều này
chứng tỏ sự bất lực của giai cấp tư sản Việt Nam, rằng giai cấp tư sản Việt Nam không
đủ khả năng giương cao ngọn cờ lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
Tình hình khủng hoảng, bế tắc về con đường cứu nước giải phóng dân tộc, yêu cầu lịch
sử đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cách mạng đúng đắn
dẫn đường, mới có khả năng đưa phong trào cứu nước đi đến thắng lợi.
Câu 6: nội dung cơ bản và ý nghĩa đường lối kháng chiến của mỹ cứu nước 1965-
1975
dân ta là chiến đấu chống một kẻ thù mạnh nhất và nguy hiểm nhất của loài người là đế
quốc Mỹ, làm cho mọi người tin tưởng vững chắc rằng với đường lối đúng đắn của Đảng,
với tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân ta, chúng ta có thể đánh bại bất cứ loại
chiến tranh nào của đế quốc mỹ
6
- Giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho nhân dân, nhất là cho bộ đội và thế
hệ thanh niên, làm cho mọi người sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh, khắc
phục mọi khó khăn để hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, chiến đấu anh dũng với
bất cứ kẻ thù nào, đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch.
- Làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân ta ở miền Bắc là phải tích cực tham gia sự nghiệp giải phóng miền
Nam, phục vụ không điều kiện cho tiền tuyến miền Nam và hết sức giúp đỡ cách
mạng Lào, làm cho mọi người hăng hái dốc sức ra làm tròn bất cứ nhiệm vụ nào
của Đảng và chính phủ giao phó.
Như vậy, chủ trương "chuyển hướng tư tưởng" ở miền Bắc được Đảng ta xác định
từ Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và tiếp tục được khẳng định, bổ sung,
cụ thể hoá ở Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965) cùng các chỉ thị, nghị
quyết sau đó của Trung ương về công tác tư tưởng. Nội dung cơ bản của chủ
trương là chuyển hướng công tác tư tưởng của Đảng theo hướng: Làm cho toàn
thể nhân dân miền Bắc hiểu rõ tình hình miền Bắc không còn ở trong thời bình
nữa mà đã chuyển sang thời chiến; nhiệm vụ thiêng liêng nhất của toàn Đảng toàn
quân và toàn dân ta lúc này là nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước; toàn Đảng, toàn
quân và toàn dân ta phải quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ trong bất kể tình huống
nào. Nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhất được Trung ương nhấn mạnh nhiều lần,
đó là công tác tuyên truyền của Đảng phải tập trung khơi dậy và phát huy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân; giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng và
tư tưởng quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân, dù phải hy sinh, gian khổ đến mấy.
Đó là một chủ trương đúng đắn và có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo công tác
tuyên truyền, cổ động của Đảng ở miền Bắc thời gian này. Từ chủ trương này,
cách mạng và khoa học và đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính trị
của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội.
Đại hội đã đánh giá những thành tựu, những khó khăn của đất nước do cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra, những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ
trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh hướng
tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt là sai lầm về kinh tế là bệnh chủ
quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện
vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không
chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởng vừa tả
khuynh vừa hữu khuynh. Báo cáo chính trị tổng kết thành bốn bài học kinh
nghiệm lớn:
- 7
- Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân
làm gốc".
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy
luật khách quan.
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện
mới.
Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo
nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Báo cáo xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại
của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế- xã hội, tiếp tục
xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa trong chặng đường tiếp theo.
Mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội cho những năm còn lại của chặng đường đầu
tiên là:
- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ.
- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú trọng ba ch-
ương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu, coi đó là sự cụ thể hóa nội dung công nghiệp hoá trong chặng đường đầu
nền kinh tế dựa vào công nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sáng
tạo và các chính sách liên quan đến chúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển
cho tất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khác nhau"
Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21. Đặc trưng của nền
kinh tế tri thức là thị trường chất xám. Trong đó, con người là vốn quý nhất. Tri
thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới là động lực thúc đẩy sản
xuất phát triển. Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc
nâng cao năng suất, chất lượng, công nghệ thông tin được ứng dụng một cách
rộng rãi. Muốn nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản
phẩm phải có tri thức, phải làm chủ được tri thức, phải biết vận dụng, quản lý tri
thức mới có thể cạnh tranh và đồng thời đảm bảo phát triển bền vững.
Có người còn cho rằng: Kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay
của nền kinh tế hàng hóa, trong đó công thức hoạt động cơ bản Tiền-Hàng-Tiền
được thay thế bằng Tiền- Tri Thức- Tiền và vai trò quyết định của Tri thức.
- 8
- Vậy kinh tế tri thức là gì? Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra,
phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh
tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Câu 9 : chủ trương của đảng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa:
Kinh tế thị trường định hướng XHCN trên địa bàn tỉnh từng bước được hình
thành và phát triển. Đã khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tốc
độ tăng trưởng kinh tế năm sau luôn cao hơn năm trước. Cơ cấu kinh tế chuyển
dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ ngày càng cao. Văn hóa, xã hội
có nhiều tiến bộ, công tác giải quyết việc làm, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo đạt nhiều
kết quả. An ninh, quốc phòng được giữ vững. Đời sống người dân không ngừng
được nâng lên.
Việc cụ thể hóa, triển khai thực hiện thể chế kinh tế thị trường ngày càng chặt
chẽ, bảo đảm cơ chế pháp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Chế độ sở hữu
và cơ cấu các thành phần kinh tế được đổi mới cơ bản từ sở hữu toàn dân, tập thể,
hướng vững chắc. Quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội ở
những vùng khó khăn, có tỷ lệ hộ nghèo cao. Tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước,
cộng đồng cho người nghèo. Hỗ trợ vốn, kỹ thuật, bảo hiểm, đào tạo nghề, giới
thiệu việc làm giúp người nghèo vươn lên, nhất là các đối tượng thuộc diện
chính sách, khắc phục tư tưởng ỷ lại, trong chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
Tuyên truyền về bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội. Xử lý rác ở
các chợ, khu dân cư, bệnh viện, chăn nuôi gia súc, gia cầm Kiên quyết xử lý các
hành vi vi phạm về gây ô nhiễm môi trường. Di dời các cơ sở sản xuất gây ô
nhiễm ra khỏi nội thị.
Nâng cao vai trò, đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và hiệu lực,
hiệu quả quản lý của Nhà nước về kinh tế, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bên cạnh việc tăng cường sự lãnh đạo của
các cấp ủy Đảng về công tác tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
và các tầng lớp nhân dân về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, thì
Đảng ủy Liên cơ có kế hoạch tập trung củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả
hoạt động của tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp, nhưng đồng thời Ban Tổ
chức Tỉnh ủy cũng nghiên cứu đề xuất việc thành lập Đảng ủy khối doanh nghiệp
trực thuộc Tỉnh ủy.
- 9
- Điều kiện dẫn đến thắng lợi trọn vẹn là các cấp ủy Đảng, Ban cán sự Đảng UBND
tỉnh, sở, ngành, huyện, thị tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết của Trung ương và
chương trình hành động của Tỉnh ủy thành chương trình, kế hoạch cụ thể. Tổ
chức triển khai quán triệt và thực hiện đồng thời theo dõi, kiểm tra đôn đốc từng
lúc thì công việc sẽ đạt kết quả cao.
Câu 11: chỉ đạo và chủ chương xây dựng và phát triển nền văn hóa trong
thời ký đổi mới:
Dân chủ hoá xã hội
Xã hội ta là xã hội dân chủ: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn
đều của dân", "quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân". Cuộc vận động xây dựng
và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, ở cơ quan, ở doanh nghiệp đã
cộng, tư vấn, bảo hiểm, kiểm toán, kể cả một số công việc dịch vụ trong các cơ
quan hành chính, sự nghiệp của Nhà nước. Đây là một chủ 1 trương, biện pháp
thúc đẩy tiến trình xã hội hoá, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ công đi
đôi với chính sách bảo đảm cho người nghèo có điều kiện hưởng thụ các dịch vụ
phúc lợi thiết yếu.
Có lẽ đã đến lúc cần phải thay đổi tư duy cũ bằng một tư duy mới là trong tất cả
mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, các thành phần kinh tế đều có thể tham gia
theo khả năng và theo pháp luật, không có một lĩnh vực nào là "vùng cấm địa",
hoặc chỉ dành riêng cho hoạt động của cơ quan Nhà nước.
Câu 12 : đường lối đối ngoại hội nhập kinh tế thời kỳ đổi mới
Để chủ động hội nhập đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế, Đảng ta đã tiến
hành một loạt các giải pháp :
+ Thứ nhất, Xây dựng, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật nhất là các luật, đạo
luật liên quan đến kinh tế, thương mại, đầu tư nước ngoài .
+ Thứ hai, Xây dựng nguồn lực mà trước hết là nguồn lực con người, thực sự xem
giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu nhằm đào tạo, bồi
dưỡng một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, doanh nghiệp có kiến thức về kinh
tế đối ngoại, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý, ngoại ngữ và luật pháp cũng như
thông lệ quốc tế nhằm hạn chế rủi ro khi tham gia HNKTQT.
+ Thứ ba, ổn định chính trị- xã hội, có chính sách đối ngoại linh hoạt, mềm dẽo,
năng động tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
+ Thứ tư, Xây dựng cơ sở hạ tầng mà trước hết là giao thông, điện, sân bay, bến
cảng để tạo sự hấp dẫn đầu tư đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế đất nước.
- Vận dụng linh hoạt và sáng tạo sách lược theo phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn
biến" mà Bác Hồ đã dạy, từ khi nước ta giành được độc lập đến nay chủ trương
HNKTQT đã phản ánh nhất quán đường lối của Đảng ta là kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh của thời đại, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với mở
rộng hợp tác quốc tế song phương cũng như đa phương.
Để giảm bớt những thiệt thòi trong quá trình HNKTQT chúng ta cần ổn định về
chính trị, tăng cường an sinh xã hội đặc biệt đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế để có