Financial and Monetary 09DKTC1
Thuyết trình môn : LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
(Theory of financial and monetary)
Đề tài : LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH LẠM
PHÁT Ở VIỆT NAM.
(Inflation and inflationary policies operating in Vietnam)
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
MỤC LỤC:
Phần 1: Những vấn đề chung về lạm phát.
1.1 Các quan niệm về lạm phát
1.2 Khái niệm về lạm phát
1.3 Phân loại lạm phát
1.3.1 Căn cứ định lượng
1.3.2 Căn cứ định tính
1.4 Nguyên nhân lạm phát
1.4.1 Nguyên nhân chính
1.4.2 Nguyên nhân khác
1.5 Tác động của lạm phát
1.5.1 Tác động chung
1.5.2 Tác động tiêu cực
1.5.3 Tác động tích cực
1.6 Chính sách và biện pháp kiềm chế lạm phát
1.7 Lạm phát mục tiêu
1.8 Giơí thiệu giảm phát.
Phần 2: Chính sách điều hành lạm phát qua các thời kỳ ở Việt Nam.
2.1 Việt Nam thời kỳ 1986 – 1990
2.2 Việt Nam thời kỳ 1990 – đầu 2007
2.3 Việt Nam thời kỳ cuối 2007 -2008
2.4 Việt Nam thời kỳ 2009-2010
2.5 Tình hình lạm phát ở Việt Nam Qúi 1/2011
+ Hiện tượng gia tăng quá mức của
lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến
đồng tiền bị mất giá.
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
+ Mức giá cả chung tăng lên.
Thông thường lạm phát được đo lường bằng hai chỉ tiêu cơ bản là chỉ số giá tiêu dùng
(CPI - Consumer price index) và chỉ số khử lạm phát GDP (GDP deflator).
1.2.1 Đo lường lạm phát (Measure of inflation): Lạm phát được đo lường bằng cách
theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một
nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc
dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này). Giá cả của các
loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một "mức giá cả trung bình",
gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá
trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở
thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của
mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc. Để dễ hình dung
có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng
kích thước của nó.
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này
phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ
thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép đo phổ biến của chỉ
số lạm phát bao gồm:
* Chỉ số giá sinh hoạt (Cost of Living Index ) là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt
của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định
một cách xấp xỉ. Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI
có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính. Điều này được xem như là "sự thiên
lệch" trong phạm vi CPI. CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản
ánh những khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng
dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung).
Thực và danh định trong kinh tế). Nó là phép đo mức giá cả được sử dụng rộng rãi nhất.
Các phép khử lạm phát cũng tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêu dùng cá
nhân. Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã chuyển sang sử dụng khử lạm phát tiêu dùng cá
nhân và các phép khử lạm phát khác để tính toán các chính sách kiềm chế lạm phát của
mình.
Trong đó GDP danh nghĩa đo lường sản lượng theo giá năm hiện tại; GDP thực
đo lường sản lượng theo giá năm gốc.
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
Ví dụ: chọn năm 2000 làm cơ sở , tính chỉ số giá giảm phát năm 2008 so với 2007; biết
năm 2007 GDP danh nghĩa là 82 tỷ , 2000 là 74 tỷ; năm 2008 GDP danh nghĩa là 88 tỷ ,
2000 là 78 tỷ.
Tính chỉ số GDP 2007 so 2000:
Tính chỉ số GDP 2008 so 2000:
Tính chỉ số lạm phát 2008 so 2007:
1.3 Phân loại lạm phát:
1.3.1 Căn cứ vào định lượng:
• Lạm phát vừa phải (Moderate inflation): Còn gọi là lạm phát một con số ,có tỷ lệ
lạm phát dưới 10% một năm .Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương
đối. Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường ,đời sống của
người lao động ổn định .Sự ổn định đó được biểu hiện : Giá cả tăng chậm ,lãi
xuất tiền gửi không cao ,không xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ hang hoá với
số lượng lớn …
Có thể nói đây là mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được ,những
tác động của nó là không đáng kể.
• Lạm phát phi mã (high inflation): Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá
trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã,
nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ
chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm
phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách.
Tiêu chí xác định siêu lạm phát:
(1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền;
(2) giá cả hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn
định;
(3) các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn;
(4) lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong
ba năm lên tới 100 phần trăm.
Tóm lại ,siêu lạm phát làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng
.Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra .
1.3.2 Căn cứ vào định tính:
• Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng .
- Lạm phát cân bằng (inflation equilibrium): Tăng tương ứng với thu nhập thực tế
của người lao động ,tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
nghiệp .Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và
dến nền kinh tế nói chung.
-Lạm phát không cân bằng (Inflation unbalanced):Tăng không tương ứng với thu
nhập của người lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra.
• Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường.
- Lạm phát dự đoán trước (Predicted inflation): là loại lạm phát xảy ra hàng năm
trong một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn .Loại lạm phát này
có thể dự đoán trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo.Về mặt tâm lý ,người
dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước.Do đó không gây
ảnh hưởng đến đời sống ,đến kinh tế .
- Lạm phát bất thường(Unexpected inflation): xảy ra đột biến mà có thể từ trước
chưa xuất hiện .Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý ,đời sống người dân vì họ
chưa kịp thích nghi .Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh
tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút .Đối với các nước đang
phát triển lạm phát thường kéo dài , do đó các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3
chính phủ.
Financial and Monetary 09DKTC1
Chúng ta bắt đầu với trạng thái cân bằng ban đầu trong dài hạn, tại đó đường
LAS cắt đường SAS và AD0 ở mức giá P0. Sự gia tăng tổng cầu từ AD0 đến AD1
làm mức giá tăng từ P0 lên P1 và GDP thực tăng từ Yp đến Y1.
• Lạm phát do chi phí đẩy (cost push - inflation): Lạm phát chi phí đẩy là loại lạm
phát do thu hẹp tổng cung hoặc do các doanh nghiệp buộc lòng phải nâng giá bán
khi chi phí đầu vào tăng cao. Sự thu hẹp tổng cung có thể xuất phát từ sự khan
hiếm về hàng hóa hay thiên tai bất ngờ làm cho quá trình sản xuất bị gián đoạn.
Chi phí đầu vào tăng cao khi giá nguyên liệu đầu vào tăng hoặc giá lao động
tăng.Điều này chỉ có thể đạt trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu
dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn .
• Lạm phát nguyên nhân tiền tệ (monetary inflation): Lạm phát do nguyên nhân
tiền tệ xảy ra khi tốc độ tăng trưởng cung tiền vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sự
của nền kinh tế. Sự mất cân đối này sẽ làm cho đồng tiền bị mất giá.
Công thức mối quan hệ giữa thu nhập danh nghĩa PY và lượng tiền M thể hiện
qua công thức:
MV = PY, công thức này biến đổi ra ta được : %ΔP = %ΔM +%ΔV - %ΔY (*)
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
- %ΔP là % tăng lên của giá hàng hóa hay còn gọi là lạm phát π (lạm phát π
được đo lượng bằng GDP deflator)
- %ΔM tăng trưởng của cung
tiền
- %ΔV- Thay đổi trong vòng
quay tiền
- %ΔY - Tăng trưởng thực
của nền kinh tế
Qua công thức đó chúng ta sự
tăng giá (%ΔP) vế trái của phương trình (*) phụ thuộc vào 3 biến số của vế phải,
Ngân hàng Trung ương lại phải mua vào các trái phiếu đó .Như thế mức cung tiền
lại tăng lên và dễ gây lạm phát.
• Tỷ giá hối đoái (exchange rate):
Khi tỷ giá tăng đồng bản tệ bị mất giá,
khi đó tâm lý những người sản xuất
trong nước muốn đẩy giá hàng lên
tương ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái
.Mặt khác khi tỷ giá hối đoái tăng ,chi
phí cho các nguyên vật liệu, hàng hoá
nhập khẩu sẽ tăng lên .Do đó giá cả
của các hàng hoá này tăng lên cao.
• Lạm phát do cơ cấu ( Inflation
caused by structural):
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động.
Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho
người lao động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh
doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh vì điều đó.
• Lạm phát do xuất khẩu ( Inflation by exporting): Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng
cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến
lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn
tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
• Lạm phát do nhập khẩu (Inflation due to imported): Sản phẩm không tự sản xuất
trong nước được mà phải nhập khẩu. Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp
nước ngoài tăng giá như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng
tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm
phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
• Lạm phát do cầu thay đổi (inflation due to change of demand): Giả dụ lượng cầu
về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên.
Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía
dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn
• Tác động đến lĩnh vực lưu thông: Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ, tích trữ
dẫn đến khan hiếm hàng hóa, làm mất cân đối quan hệ cung cầu trên thị trường.
Đồng thời do đồng tiền đang bị
mất giá nên không ai muốn
giữ tiền. Tiền nhanh chóng bị
đẩy ra kênh lưu thông. Do có
nhiều người tham gia vào lưu
thông nên lĩnh vực này trỏ nên
hỗn loạn, tốc độ lưu thông tiền
tăng vọt và điều này càng thúc
đẩy lạm phát gia tăng.
• Tác động đến lĩnh vực tiền tệ, tín
dụng: Lạm phát làm cho quan hệ thương mại, tín dụng, ngân hàng bị thu hẹp.
Lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của
người đi vay, cộng với việc giảm sút quá nhanh của đồng tiền, sự điều chỉnh lãi
suất tiền gửi không làm an tâm những các nhân, doanh nghiệp đang có lượng tiền
nhàn rỗi trong tay. Ngân hàng gặp khó khăn trong viêc huy động vốn, hệ thông
ngân hàng phải luôn cố gắng duy trì mức lãi suất ổn định. Lãi suất thực = lãi suất
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát. Khi tỷ lệ lạm phát cao, muốn lãi suất thực tế ổn định
thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên
cùng với tỷ lệ lạm phát. Trong khi đó,
người đi vay là những người có lợi từ sự
mất giá của đồng tiền. Do vậy hoạt động
của hệ thống ngân hang không còn bình
thường nữa, chức năng kinh doanh tiền
tệ bị hạn chế.
• Tác động đến cán cân ngân sách-
chính sách tài chính của nhà nước:
đầu cao hơn hoặc bằng cách quy định một tỷ lệ lãi suất biến đổi.
• Phạm vi đề phòng:Những công cụ chủ yếu để kiểm soát cung tiền là khả năng xác
định tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ mà ở đó các ngân hàng có thể mượn tiền của ngân hàng
trung ương, các hoạt động thị trường mở, đó là sự can thiệp của ngân hàng trung
ương vào thị trường trái phiếu với mục đích tác động đến tỷ lệ lãi suất danh nghĩa.
Nếu một nền kinh tế tự thấy nó đang ở trong giai đoạn suy thoái với tỷ lệ lãi suất
danh nghĩa thấp hoặc thậm chí bằng không, thì khi đó ngân hàng không thể giảm
những tỷ lệ này (bởi vì tỷ lệ lãi suất danh nghĩa không thể âm) để kích thích nền
kinh tế - tình trạng này được xem như là một bẫy tiền mặt. Một tỷ lệ lạm phát ở
mức vừa phải sẽ đảm bảo rằng tỷ lệ lãi suất danh nghĩa sẽ luôn lớn hơn không để
nếu nhu cầu tăng thì ngân hàng vẫn có thể giảm tỷ lệ lãi suất danh nghĩa.
• Hiệu ứng Tobin:Nhà kinh tế học James Tobin, người đã từng đạt giải Nobel cho
rằng một mức độ lạm phát vừa phải có thể tăng đầu tư trong một nền kinh tế , dẫn
đến tăng trưởng nhanh hơn hoặc ít nhất cũng đạt được một mức thu nhập ổn định
cao hơn. Đó là do thực tế lạm phát làm cho lợi nhuận từ những tài sản tiền tệ giảm
so với lợi nhuận từ bất động sản chẳng hạn như vốn hiện vật. Để tránh lạm phát,
các nhà đầu tư nên thay đổi từ việc nắm giữ các tài sản như tiền (hoặc một tài sản
có dạng tương tự, nhạy cảm với lạm phát) sang đầu tư vào các dự án vốn thực tế.
1.6 Chính sách và biện pháp kiềm chế lạm phát: Phải kết hợp đồng bộ các chính
sách về tiền tệ với chính sách tài khoá và chính sách tỉ giá để nâng cao hiệu quả đầu
tư của kinh tế nhà nước, giảm bớt sức ép của chính sách tiền tệ đến hoạt động của các
ngân hàng thương mại và doanh nghiệp, bảo đảm các doanh nghiệp có nguồn tín dụng
để mở rộng đầu tư, làm cho việc chống lạm phát không ảnh hưởng nhiều đến tăng
trưởng và việc làm.
1.6.1 Biện pháp đối phó với lạm phát:
1.6.1.1Những biện pháp tình thế:
*Chính sách đóng băng tiền tệ : giảm lượng tiền trong nền kinh tế bằng cách ngưng phát
hành tiền vào kênh lưu thông. Đồng thời, dừng các nghiệp vụ làm tăng lượng cung ứng
-Cần loại bỏ những dự án đầu tư kém hiệu
quả, thắt chặt những khoản chi chưa thực
sự cần thiết nhưng tạo mọi điều kiện cho đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài để thúc
đẩy tăng trưởng.
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
• Chính sách tiền tệ (monetary policy): Xuất phát từ nhận định lạm phát
thường xuất hiện khi lượng tiền trong lưu thông tăng, chúng ta cần hạn chế
lượng tiền trong lưu thông bằng cách:
-Tăng lãi suất cho vay vốn và lãi suất tái chiết khấu và hạn chế mức tăng tín dụng.
-Quy định dự trữ bắt buộc hợp lí để vừa bảo đảm an toàn hệ thống đồng thời nâng cao
được khả năng thanh khỏan trong hoạt động ngân hàng.
-Phát hành tín phiếu và phân hạn mức mua cho các Ngân hàng Thương mại để rút bỏ
bớt tiền khỏi lưu thông.
• Biện pháp cải cách tiền tệ (currency reform): Đây là biện pháp tình thế bắt
buộc khi lạm phát ở mức độ cao mà việc vận dụng các biện pháp trên không
đưa lại kết quả mong muốn. Ở đây nhà nước huỷ hoặc thu hồi tiền cũ, phát
hành tiền mới để lập lại trật tự mới trong lưu thông tiền tệ.
1.7 Lạm phát mục tiêu:
1.7.1 Giới thiệu lạm phát mục tiêu:
Tại nhiều nước lạm phát được coi là vấn đề kinh tế - xã hội rất nghiêm trọng. Một khi
nền kinh tế có lạm phát ở mức cao độ sẽ làm giảm tiết kiệm, sụp đổ đầu tư, các nguồn
vuốn trong nước sẽ chạy ra nước ngoài. Lạm phát còn làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh
tế, mất khả năng thực hiện những kế hoạch dài hạn và tạo nên sự căng thẳng quốc gia.
Trên thế giới có nhiều nước lấy khối lượng tiền (M2 hay M3) hoặc tỷ giá làm mục tiêu
trung gian để điều hành Chính sách tiền tệ của quốc gia. Tuy nhiên sang những năm 90,
nhiều nước công nghiệp phát triển đã phá lệ truyền thống trong việc xây dựng các mục
tiêu trung gian tương tự mà tập trung tâm điểm vào chỉ số lạm phát. Cách tiếp cận mới
này tập trung vào việc kiểm soát lạm phát và được gọi là lạm phát mục tiêu, một cơ chế
điều hành chính sách tiền tệ tương đối mới. Đi đầu áp dụng là ở Niu – Dilân ( năm 1990).
• NHTW cần có một mức độc lập tương đối để thực thi chính sách tiền tệ. Mắc dù trên
thực tế không có một NHTW nào có thể hoàn toàn dộc lập khỏi sự ảnh hưởng của chính
phủ. Để thực hiện yêu cầu này, quốc gia cần từ bỏ nguyên tắc “ngân sách chi phối” cũng
như các vấn đề thuộc chính sách tài khóa không được gây bất cứ ảnh hưởng nào đến
chính sách tiền tệ và các thị trường tài chính trong nước phải có đủ độ sâu để “nuốt
chửng” các đợt phát hành nợ của chính phủ. Chính phủ phải có cơ sở nguồn thu rộng rãi
và không đưa vào hệ thống nguồn thu bù đắp của chính phủ là nguồn thu từ in tiền.
• NHTW phải có khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu và không có trách nhiệm với bất
kỳ mục tiêu khác như: tiền lương, mức thất nghiệp hay tỉ giá
Lạm phát mục tiêu cũng có một số nhược điểm khi việc áp cụng không thỏa mãn một số
điều kiện của nó:
• Khi năng lực điều tiết của chính sách tiền tệ không cao sẽ đẩy NHTW vào vòng lẩn quẩn
trong việc lựa chọn ưu tiên giữa các cơ chế điều hành (tỷ giá, lạm phát và khối lượng
tiền) của chính sách tiền tệ.
• Khi áp dụng lạm phát mục tiêu , NHTW sẽ phải chịu trách nhiệm chính thức trong việc
thực hiện chính sách tiền tệ để đạt được chỉ số mục tiêu dựa trên dự báo chỉ số lạm phát
do chính phủ đưa ra. Khi đó dự báo lạm phát được xem như là mục tiêu trung gian của
chính sách tiền tệ, vì vậy không ít người đã không đề cập đến lạm phát mục tiêu mà chỉ
nói đến dự báo lạm phát mục tiêu.
1.7.3 Quy trình thực hiện lạm phát mục tiêu:
Quy trình của lạm phát mục tiêu khá đơn giản, bản chất của nó bao gồm: NHTW dự đoán
xu hướng lạm phát năm sau, dự báo này được so với chỉ số mục tiêu mà NHTW mong
muốn đạt được, khoảng cách chênh lệch giữa chỉ số dự báo và chỉ số mục tiêu sẽ nói lên
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
mức độ mà chính sách tiền tệ cần điều chỉnh. Tuy nhiên trên thực tế vẫn đề kỹ thuật thực
hiện quy trình này khá phức tạp và khác nhau ở các nước. Vấn đề kỹ thuật bao gồm:
*Công bố mục tiêu lạm phát
Khi tiếp cận với vấn đề công bố chỉ số lạm phát mục tiêu, có sự khác nhau rõ rệt giữa các
quốc gia. Chỉ số lạm phát mục tiêu có thể do NHTW tự mình công bố như ở Phần Lan,
điểm E'. E' là điểm cân bằng mới của nền kinh tế và so với điểm cân bằng cũ E, sản
lượng và mức giá chung đều giảm.
1.8.2 Tác động tích cực và tiêu cực của giảm phát:
• Tác động tích cực: giảm phát tốt xảy ra trong môi trường cởi mở hơn , các mức giá bị
nhà độc quyền đẩy lên cao nay phải giảm dưới áp lực cạnh tranh .
- Một tình huống khác là trong thị trường tự do, những người sản xuất với năng suất cao
hơn sẽ vươn lên , giá thành sản phẩm sẽ giảm xuống, giá hang giảm làm người tiêu dùng
mua nhiều hơn, kết quả là giá thành mỗi đơn vị sản phẩm càng giảm.
• Tác động tiêu cực: giảm phát không tốt xảy ra khi giá giảm nhưng số hàng bán được
không tăng. Các công ty phải giảm quy mô sản xuất và sa thải bớt công nhân. Trước nguy
cơ mất việc, mọi người sẽ tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn. Kết quả là giảm phát trở
nên trầm trọng.
-Dạng giảm phát tồi tệ hơn là khi các doanh nghiệp kém hiệu quả được trợ giá để tiếp tục
hoạt động. Để cạnh tranh với các doanh nghiệp này, các công ty khỏe mạnh phải hạ giá
bán và chẳng mấy chốc cũng trở nên ốm yếu.
-giảm phát là tồi tệ nhất khi quá nhiều vốn và vốn vay ào ạt đổ vào một cách lạc quan ,
làm cho cung vượt xa cầu. Hàng không bán được nhưng nợ vẫn phải trả, cả các công ty
tốt cũng có nguy cơ phá sản.
1.8.3Phòng và chống giảm phát:
Để thoát khỏi tình trạng giảm phát, cần thực hiện chính sách tái khuếch trương tiền tệ
thông qua các biện pháp như tăng lượng cung tiền, giảm thuế, hay điều chỉnh lãi suất.
Phần 2. Lạm phát và chính sách điều
hành lạm phát ở Việt Nam.
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
(inflation and inflationary policies
operating in VietNam)
Trong những thập kỷ qua, đặc biệt là sau năm 1970, hầu hết các nuớc công nghiệp phát
triển đều phải đuơng đầu với tình trạng lạm phát cao kéo dài trong một số năm và một số
buớc kém phát triển thậm chí còn trải qua siêu lạm phát. Một loạt các nuớc Mỹ La- Tinh
2.1 Việt Nam thời kỳ 1986 – 1990: Lạm phát ở Việt Nam đã có từ lâu song ở đây
chúng tôi muốn nói đến thời kỳ 1981-1988 trong thời kỳ 1976-1980, lạm phát ở Việt
Nam “ ngầm”, nghĩa là tuy chỉ số giá cả do nhà nước ấn định tăng không nhiều, nhưng
chỉ số giá cả ở thị trường tự do tăng khá cao, mức tăng giá cả đã vượt xa mức tăng giá trị
tổng sản lượng, cũng như thu nhập quốc dân.
2.1.1 Thực trạng:
Bước vào những năm 80, lạm phát đã bột phát “công khai”, và trở thànhlạm phát phi mã
với mức tăng giá 3 chữ số. Lạm phát ở Việt Nam đã ở mức phi mã, năm cao nhất đã đạt
tới chỉ sốtăng giá 557% vượt qua mức lạm phát phi mã. Song những biểu hiện và tác hại
của nó không kém gì siêu lạm phát.
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
Thứ nhất : từ bảng 2.1 ta thấy lạm phát ở việt nam thời kỳ này tăng cao và không ổn định.
Thứ hai:tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh vì dân chúng không ai muốn giữ tiền,
người ta bán xong hàng phải mua ngay hàng khác, hoặc vàng hoặc đô la, không ai dám
giữ tiền lâu trong tay, vì tốc độ mất giá của nó quá nhanh.
Thứ ba: Nhưng tiền lương thực tế vẫn giảm mạnh vì nhà nước đã không khống chế được
thị trường tự do. Giá nhà nước tăng một lần thì giá thị trường tự do tăng 1, 5 lần. Nhà
nước lại không cung cấp đủ hàng cho dân cư theo giá nhà nước, nên mọi người phải mua
hàng ngoài thị trường tự do với giá cao hơn, mặt khác những người được nhà nước bù giá
chỉ là những người làm trong khu vực nhà nước còn số đông dân cư thì không được bù giá
như vậy.
Thứ tư: các yếu tố của thị trường Việt Nam bị thổi phồng và bóp méo. Do giá cả nhà
nước định đã không phải là giá cả thị trường, luôn thấp hơn giá cả thị trường tự do, và lại
tăng theo từng chu kỳ, nên đã khuyếnkhích xu hướng đầu cơ và tích trữ hàng hoá kiếm lợi.
2.1.2 Nguyên nhân: Chính chế độ độc quyền và công hữu tràn lan cho đến cơ chế quan
liêu bao cấp đã là một trong những nguyên nhân chủ yếu đưa nền kinh tế Việt Nam tới
tình trạng kém hiệu quả và lạm phát cao.
- Nền kinh tế đóng cửa và phụ thuộc một chiều vào các nguồn tài trợ bên ngoài.
- Nền kinh tế mà cơ cấu của nó bao gồm những ngành kém hiệu quả được ưu tiên phát triển.
Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là cùng một bối cảnh thế giới như nhau, tại sao các nước
khác như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia lại có mức lạm phát thấp hơn so với
lạm phát của Việt Nam ?
2.2 Bức tranh lạm phát của một số nước châu Á (đến 6/2008)
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan: Các nguyên nhân chính từ nội tại nền kinh tế Việt Nam:
Nhóm 2
Financial and Monetary 09DKTC1
- Chi phí sản xuất tăng cao: Trước bối cảnh lạm phát toàn cầu gia tăng đã tác động làm
giá hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam gia tăng mạnh mẽ như xăng dầu, sắt
thép, phân bón, thuốc trừ sâu – là những nguyên nhiên vật liệu đầu vào chính của sản
xuất.Mặc dù nhà nước đã cố gắng kiềm chế giá các nguyên vật liệu này.
- Giá lương thực, thực phẩm tăng cao: biến đổi khí hậu toàn cầu trên thế giới không
những tác động đến nhiều quốc gia mà Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề làm cho
nguồn cung lương thực – thực phẩm bị sụt giảm.
- Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ liên tục mở rộng từ 2001-2006 nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế Với mục tiêu này đã khuyến khích cho “chính sách tài chính, tiền tệ
nới lỏng đã thực hiện trong nhiều năm liền nhưng quản lý chưa chặt chẽ” nhằm mục tiêu
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và đây cũng là nhân tố góp phần khiến lạm phát bình quân
từ 2005 đến 2007 tăng trên 8,01%.
- Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh→ cung tiền ở Việt Nam tăng → từ
đó buộc Ngân hàng Nhà nước phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng và đưa
thêm tiền đồng vào lưu thông:
2.3.3 Các chính sách kiềm chế lạm phát:
- NHNN đã thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ với mong muốn nhanh chóng đưa
chỉ số giá tiêu dùng giảm xuống, bao gồm:
+ Tăng dự trữ bắt buộc (DTBB) 2 lần từ 5%-10%-11% đối với VND và từ 8%-10%-11%
đối với ngoại tệ.
+ Tăng tất cả các mức lãi suất cơ bản từ 8,25%-8,75%, lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%-7,5%,
lãi suất tái chiết khấu từ 4,5%-6%.
+Liên tục hút tiền về trên Thị trường mở; NHNN phát hành tín phiếu bắt buộc khoảng