Tiểu luận: Phân tích những tác động của tình trạng đôla hóa ở Việt Nam và các biện pháp khắc phục - Pdf 21

ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

BÀI TIỂU LUẬN
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài:
Phân tích những tác động của tình trạng đôla
hóa ở Việt Nam và các biện pháp khắc phục

1
MỤC LỤC
3.2. Giai đoạn 2001 đến 2006 17

2
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng
với sự phát triển không ngừng của quan hệ thương mại giữa các quốc gia
dẫn tới sự xâm nhập mạnh mẽ của các ngoại tệ mạnh vào một số nền kinh tế
dẫn tới hiện tương đô la hóa. Có thể nói đôla hóa là hiện tượng phổ biến ở
các nước đang phát triển đang trong quá trình chuyển đổi trong đó có Việt
Nam. Ở Việt Nam hiện nay đôla hóa đang là vấn đề nóng bỏng thu hút sự
quan tâm của các nàh nghiên cứu kinh tế đồng thời cũng là mối lo ngại của
các nhà hoạch định chính sách. Việc tìm ra những giải pháp hiệu quả nhằm
hạn chế những tác động tiêu cực của hiện tượng này lên nền kinh tế là một
nhiệm vụ cấp bách.Chính vì vậy đề tài “Phân tích những tác động của tình
trạng đôla hóa ở Việt Nam và các biện pháp khắc phục’’ đã được chọn.

3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÔLA HÓA
I. Tổng quan về đôla hóa
1. Khái niệm đôla hóa

dạng tiền xu với mệnh giá nhỏ và không có nhiều ý nghĩa trong việc thực
hiện các chức năng của tiền. Trong khi đó ngoại tệ là tiền tệ chính thức được
sử dụng với cả 3 chức năng: phương tiện thanh toán, đơn vị đo lường và cất
trữ giá trị. NHTW của những quốc gia này chỉ tồn tại trên danh nghĩa không
có vai trò gì trong việc điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tiền tệ của
quốc gia phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách của Cục dự trữ liên bang Mỹ.
Hầu hết các quốc gia có nền kinh tế đôla hóa chính thức chỉ chọn một ngoại
tệ làm tiền tệ chính thức. Do mọi người đều coi đồng tiền quốc gia là biểu
tượng chủ quyền dân tộc, mất đi đồng tiền có nghĩa là giao quyền điều hành
chính sách tiền tệ cho NHTW nước ngoài vì vậy hiện tượng đôla hóa chính
thức không phổ biến thường chỉ xảy ra ở những nước có nền kinh tế nhỏ.
Một nước chỉ từ bỏ đồng nội tệ chấp nhận ngoại tệ là tiền tệ chính thức khi
chính phủ nước đó không còn cách nào khác để đưa nền kinh tế thoát khỏi
khủng hoảng suy thoái và tình trạng mất ổn định kéo dài.
Đôla hóa không chính thức là hiện tượng xảy ra khi người dân một
nước nắm giữ số lượng lớn tài sản bằng ngoại tệ, tuy nhiên nội tệ vẫn là
đồng tiền chính thứ, hợp pháp của quốc gia đó. Trong những nền kinh tế bị
đôla hóa không chính thức, ngoại tệ được công chúng ưa chuộng nắm giữ
dưới dạng tài sản như: ngoại tệ tiền mặt, trái phiếu nước ngoài, tài khoản
5
tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài, tài khoản tiền gửi ngoại tệ trong nước. Các
nhà kinh tế nhìn chung đồng nhất đôla hóa không chính thức với thay thế tài
sản có nghĩa là ngoại tệ được nắm giữ chủ yếu với chức năng cất trữ giá trị
nhằm giảm tác động của việc đồng nội tệ mất giá trong điều kiện lạm phát.
Tuy nhiên tùy thuộc vào mức độ đôla hóa trong nền kinh tế và tùy thuộc vào
những quy định hạn chế trong hệ thông pháp luật của từng quốc gia về vấn
đề sử dụng ngoại tệ mà có những quốc gia ngoại tệ còn được sử dụng trong
cả thanh toán và niêm yết giá hàng hóa dịch vụ. Thông thường, trong các
quốc gia này, các khoản mục như lương, thuế, những hàng hóa dịch vụ bình
thường vẫn được thanh toán bằng nội tệ còn những hàng hóa, dịch vụ xa xỉ

Nguyên nhân thứ nhất là sự sụp đổ của hệ thống Bretton Wood
Sau khi hệ thống này sụp đổ rất nhiều nước gặp khó khăn trong việc tìm
kiếm một chế độ tỷ giá phù hợp, việc điều hành tỷ giá lại càng khó khăn hơn
khi thị trường vốn và thị trường thương mại tự do hội nhập. Một trong
những cách giải quyết tương đối hiệu quả vấn đề này là từ bỏ đồng tiền
chính thống của mình và chấp nhận một tiền tệ ổn định hơn của quốc gia
khác. Cũng trong giai đoạn này các nước kém phát triển không xuất khẩu
dầu mỏ gặp nhiều khó khăn một mặt do giá dầu tăng cao một mặt do kinh tế
các nước phát triển suy thoái nên xuất khẩu vào những nước này có xu
hướng giảm sút. Kết quả là các nước này chịu thâm hụt cán cân thanh toán
với khối lượng khổng lồ và để cân bằng chính phủ các nước tiến hành vay
nợ nước ngoài dẫn đến đôla hóa tài khoản nợ bươc đầu mở đường cho đôla
hóa.
7
Nguyên nhân thứ hai là do nhu cầu phòng chống rủi ro. Khi nền kinh
tế trong nước gặp phải những bất ổn trầm trọng như khủng hoảng tài chính,
lạm phát cao thậm chí siêu lạm phát trong khi lãi suất tiền gửi nội tệ lại
không mấy hấp dẫn so với lãi suất tiền gửi ngoại tệ. Người dân sẽ tìm đến
các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín. Với
chức năng ban đầu làm phương tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ
cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm phương tiện thanh toán hay
làm thước đo giá trị.
Nguyên nhân thứ ba đô la hóa bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới
hiện đại, trong đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ,
được sử dụng trong giao lưu quốc tế làm vai trò của tiền tệ thế giới. Nói cách
khác, đô la Mỹ là một loại tiền mạnh, được tự do chuyển đổi đã được lưu
hành khắp thế giới và từ đầu thế kỷ XX đã dần thay thế vàng, thực hiện vai
trò tiền tệ thế giới. Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các
quốc gia khác cũng được quốc tế hóa như GBP, JYP, EUR , nhưng vị thế
của các đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ có đô la Mỹ là

tiền tệ xảy ra trong giao dịch giữa các quốc gia cùng sử dụng USD từ đó
thúc đẩy quan hệ thương mại giữa các nước. Những nền kinh tế đôla hóa
chính thức thường ổn định hơn và có tỷ lệ lạm phát thấp hơn, chính sự ổn
định này của nền kinh tế đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn
vào trong nước từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế .
9
Thứ hai đô la hóa chính thức góp phần làm tăng kỷ luật ngân sách nhà
nước. Với những quốc gia có chính sách tiền tệ độc lập khi ngân sách nhà
nước bị thâm hụt, chính phủ có thể yêu cầu NHTW phát hành tiền để bù đắp
thâm hụt. Ngược lại với những quốc gia bị đôla hóa hoàn toàn chính phủ
không thể yêu cầu NHTW phát hành tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách
do đó để khác phục tình trạng thâm hụt chính phủ nước này phải tiết kiệm
chi tiêu đồng thời gia tăng nguồn thu ngân sách.
Thứ ba đô la hóa không chính thức góp phần giảm lạm phát. Đôla hóa
làm tăng cung ngoại tệ dẫn đến sự giảm giá ngoại tệ. Khi đó giá cả hàng hóa
nhập khẩu từ nước ngoài trở nên rẻ hơn dẫn đến mặt bằng giá cả trong nước
giảm xuống.
2. Tác động tiêu cực
Ngoài sự đánh mất chủ quyền về tiền tệ, vị trí độc tôn của đồng nội tệ
bị giảm sút khi ngoại tệ được sử dụng rộng rãi lấn át nội tệ thì đôla hóa còn
gây ra nhiều tác động tiêu cực lên những nền kinh tế bị đôla hóa. Chính vì lý
do này mà chính phủ và NHTW các nước luôn tìm cách hạn chế và đẩy lùi
tình trạng này.
Tác động tiêu cực đầu tiên có thể dễ dàng nhận thấy là việc mất đi thu
nhập từ thuế in tiền. Đó chính là thu nhập từ việc phát hành tiền được tính
bằng chênh lệch giữa chi in tiền, chi phí đưa tiền vào lưu thông so với giá trị
hàng hóa mà tiền mua được.
Thứ hai, những quốc gia có nền kinh tế đôla hóa chính thức không có
chính sách tiền tệ độc lập khi đó các quốc gia này không thể chủ động trong
việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Đối với những nền kinh tế

tệ có lợi hơn, người dân sẽ mang ngoại tệ đổi lấy nội tệ, dẫn tới cầu nội tệ
tăng. Điều này sẽ gây khó khăn cho NHTW trong việc điều hành chính sách
tiền tệ. Ngoài ra, đối với các NHTM có tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ cao, khi
có biến động, người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ đó đã
được ngân hàng cho vay, và NHTW cũng không thể hỗ trợ được do dự trữ
ngoại hối còn mỏng có thể gây ra những bất ổn trong hệ thống NHTM trong
nước.
12
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ ĐÔLA HÓA TẠI VIỆT NAM
I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔLA HÓA Ở VIỆT NAM.
Việt Nam là một trong những nền kinh tế bị đôla hóa không chính
thức. Đôla hóa của Việt nam bao gồm: đôla hóa thay thế tài sản, đôla hóa
phương tiện thanh toán, đôla hóa trong niêm yết giá hàng hóa dịch vụ. Tình
trạng đôla hóa ở Việt Nam được đánh giá là khá trầm trọng.
Một trong những công cụ đo lường mức độ đôla hóa là tỷ lệ tiến gửi bằng
ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán FCD/M2. Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn
chưa phản ánh được một cách chính xác nhất về tình trạng đôla hóa của Việt
Nam do nó chỉ đo lường được lượng USD gửi trong các ngân hàng mà
không thể thấy được khối lượng lớn USD dân chúng nắm giữ.
Bảng 1: Tỷ lệ tiền gửi bằng đồng USD trên tổng phương tiện thanh toán
(FCD/M2)
Thờigian Tỷ lệ %
1989 28,2
1990 32,4
1991 41,2
1992 30,6
1993 22,9
1994 22,2
1995 21,0
1996 20,3

biên, đồng tiền sử dụng trong quan hệ thanh toán đối ngoại thường là đồng
Rúp chuyển nhượng và đồng Nhân dân tệ mậu dịch. Vì vậy, khả năng
chuyển đổi của VND rất hạn chế. Về cuối giai đoạn xuất hiện dấu hiệu của
khủng hoảng kinh tế, VND suy yếu mạnh sau thất bại của chính sách giá -
lương - tiền, lạm phát tới 3 con số và liên tục có các đợt tăng giá vàng.
Trong dân cư xuất hiện việc mua vàng, ngoại tệ để tích trữ, đầu cơ giá và sử
dụng làm phương tiện thanh toán. Tuy nhiên mức độ đôla hóa là không đáng
kể do độ mở của nền kinh tế còn rất nhỏ.
2. Giai đoạn bắt đầu mở cửa đến khủng hoảng tài chính khu vực
Hiện tượng nền kinh tế Việt Nam sử dụng rộng rãi đồng đôla Mỹ trong
giao dịch buôn bán , chỉ bắt đầu được chú ý đến từ cuối những năm 80 đầu
những năm 90, khi mà nền kinh tế nước ta phải đối mặt với lạm phát nặng
nề, tiền đồng trở nên mất giá so với USD dẫn đến tâm lý người dân chuyển
sang tích trữ USD hoặc vàng thay cho nội tệ.
Bảng 2: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam
Năm Lạm phát(%) Năm Lạm phát(%)
1986 774,7 2000 -0,6
1987 223,1 2001 0,8
1988 393,8 2002 1,5
1989 37,7 2003 3,0
1991 64,6 2004 7,71
1992 17,36 2005 8,29
1996 4,5 2006 7,48
1997 3,6 2007 8,3
1998 7,8 2008 22,97
1999 0,1 2009 6,88
15
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Ngân hàng Nhà nước và IMF)
Mặt khác, do thấy được điểm yếu về giá trị của tiền đồng, nên người dân
chuyển sang gửi ngắn hạn nội tệ thay cho việc gửi dài hạn, điều này đã ảnh

đã tăng cao trở lại đến gần 30%. Nguyên nhân là trong suốt một thời gian dài,
kinh tế Mỹ tăng trưởng cao và ổn định làm cho đồng USD hấp dẫn hơn các
ngoại tệ khác. Mặt khác, các chính sách mới ban hành đã tạo sự tin tưởng của
người dân, thu hút được một lượng lớn ngoại tệ từ thị trường tự do vào hệ
thống ngân hàng. Tâm lý đôla hóa trong giai đoạn này cũng một phần do tác
động của khủng hoảng tài chính khu vực và kỳ vọng của thị trường vào sự phá
giá của VND.
3.2. Giai đoạn 2001 đến 2006.
Tỷ lệ FCD/M2 liên tục giảm, đến năm 2003 còn 23,6%. Thanh toán và
kinh doanh ngoại tệ vẫn tiếp tục phát triển. Theo kết quả khảo sát năm 2002,
hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do có quy mô từ 4 - 6 tỷ USD/năm, tương
đương 1/3 kim ngạch nhập khẩu năm đó, số ngoại tệ trôi nổi ngoài thị trường
tự do ước khoảng 5 tỷ USD. Đôla hóa trong niêm yết, định giá bằng ngoại tệ
còn phổ biến. Tuy nhiên đến năm 2004 khi lạm phát ở mức 9,5% và lãi suất
tiền gửi VND không mấy hấp dẫn hơn lãi suất tiền gửi bằng USD khiến cho
người dân có tâm lý đổi VND lấy các đồng tiền khác có tính ổn định cao hơn
như USD, EUR để gửi vào NHTM khiến cho FCD/M2 tăng lên đến mức
24,3%. Với doanh số tiền gửi ngoại tệ không ngừng tăng lên, các NHTM
17
cũng phải tìm cách để cho vay số ngoại tệ này, tránh tồn đọng vốn. Đây
chính là hiện tượng đôla hóa nguồn vốn huy động và đôla hóa cơ cấu dư nợ
cho vay của hệ thống ngân hàng. Năm 2005 lãi suất cơ bản của Mỹ tiếp tục
tăng lên từ 3.75% lên đến 4.75%, theo hiệu ứng đó, các NHTM trong nước
đồng loạt tăng lãi suất tiền gửi USD, lãi suất tiền gửi VND cũng tăng nhưng
không đáng kể, trong khi lạm phát vẫn ở mức cao, từ đó thu hút lượng tiền
gửi ngoại tệ vào các NHTM. Năm 2006, đánh dấu sự tăng trưởng ngoạn mục
của đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đạt mức 10.2 tỷ USD mang lại một nguồn
thu ngoại tệ lớn và làm cho tỷ lệ FCD/M2 vẫn duy trì ở mức trên 20%.
3.3. Giai đoạn năm 2007 đến nay
Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức

công bố tỷ lệ dự trữ USD, thực hiện kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại
tệ (cấm mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do không đăng ký với các
NHTM), cấm mua bán USD thông qua ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm
nhập khẩu vàng và cho phép xuất khẩu vàng, bán ngoại tệ can thiệp thị
trường thông qua các NHTM lớn đã khắc phục tình trạng khan hiếm USD,
ổn định thị trường ngoại hối, đồng thời ổn định tỷ lệ FCD/M2 quanh mức
20%.
Những tháng cuối năm 2008, tỷ lệ lạm phát tăng lên đạt mức xấp xỉ 20 %
khiến cho người dân có tâm lý lo ngại về sự mất giá của VND, từ đó tăng
việc nắm giữ USD trong dân. Thời gian này cũng là lúc nhu cầu sử dụng
19
ngoại tệ để thanh toán của các doanh nghiệp nhập khẩu tăng lên, cũng như
nguồn kiều hối đổ về nước nhiều hơn khiến cho tình trạng đôla hóa trầm
trọng trở lại. Mặt khác, các ngân hàng thương mại tăng lãi suất tiền gửi bằng
USD lên 7,2% cao hơn gần 2% so với mức lãi suất trái phiếu Chính phủ kì
hạn 1 năm của Mỹ là 5,25%. Chênh lệch quá lớn so với thị trường quốc tế đã
tạo ra tâm lý coi trọng đồng đôla, tiếp sức cho nạn đầu cơ ngoại tệ, làm tăng
mức độ đôla hóa nền kinh tế.
Sau cú sốc khủng hoảng tài chính năm 2008, kinh tế thế giới đang phục
hồi chậm chạp. Đồng đôla Mỹ ngày càng mất giá, song USD tỷ giá
USD/VND ngày càng cao, vượt mức 20.000 VND/USD. Người dân ngày
càng mất lòng tin vào VND và xu hướng sùng bái đồng đô la càng trở nên
trầm trọng hơn, tỷ lệ đô la hóa ngày càng cao, theo thống kê mới nhất của
ADB tỷ lệ đôla hóa của Việt Nam hiện nay ở mức 20%. Mặc dù Nhà nước
không cho phép, nói một cách khác là bất hợp pháp, nhưng giao dịch ngoại
tệ tại một số trung tâm của các thành phố lớn (như Hà Trung ở Hà Nội) đã
diễn ra khá sôi động, kể cả khi Ngân hàng Nhà nước tăng cường kiểm soát,
vì chừng nào tồn tại tỷ giá thị trường chợ đen cao hơn tỷ giá chính thức thì
người bán ngoại tệ vẫn lựa chọn tỷ giá cao; hơn nữa, hoạt động trao đổi
ngoại tệ trên thị trường chợ đen còn có ưu điểm về tiện ích cho người dân,

2000 lên 8.85 tỷ USD năm 2005. Hiện nay, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ có xu
hướng giảm và tỷ trọng tín dụng ngoại tệ lại có xu hướng tăng do nhu cầu
găm dữ USD của người dân và nhu cầu vay ngoại tệ cho các hoạt động
thanh toán của doanh nghiệp.
21
Thứ ba, hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ diễn ra một cách tự do và
công khai trên thị trường ngầm (thị trường phi chính thức, thị trường chợ
đen).
Trong thông tư số 33/NH-TT ngày 15/03/1989 về hướng dẫn thi hành
Điều lệ quản lý ngoại hối đã nêu rõ: “Việc lưu thông ngoại tệ trong nước chỉ
được thực hiện thông qua ngân hàng và các tổ chức kinh doanh, dịch vụ
được phép thu ngoại tệ. Nghiêm cấm việc mua bán, trao đổi ngoại tệ trên thị
trường ngầm”. Như vậy thị trường ngầm là thị trường diễn ra hoạt động trao
đổi, mua bán ngoại tệ không được pháp luật công nhận. Sở dĩ tồn tại của thị
trường ngầm làm tăng tình trạng đô la hóa ở Việt Nam là do: NHNN luôn
khuyến khích người dân bán ngoại tệ cho NHTM đồng thời pháp luật Việt
Nam có một số quy định hạn chế đối với đối tượng được mua ngoại tệ tại
các NHTM nhằm hạn chế việc sử dụng rộng rãi việc sử dụng ngoại tệ trên
lãnh thổ Việt Nam nhưng do tỷ giá các NHTM luôn thấp hơn tỷ giá trên thị
trường ngầm nên để có lợi người dân đem ngoại tệ bán trên thị trường ngầm,
bên cạnh đó những đối tượng không đáp ứng được yêu cầu của các NHTM
thì cũng thực hiện việc mua USD trên thị trường ngầm. Ở Việt Nam, thị
trường ngầm tồn tại dưới các hình thức sau: các cửa hàng kinh doanh vàng
bạc đá quý đồng thời kinh doanh mua bán ngoại tệ tiền mặt; chuyển tiền
kiều hối chuyển tiền qua biên giới không thông qua hệ thống ngân hàng dưới
nhiều hình thức khác nhau; các sạp đổi tiền dọc biên giới nơi các hoạt động
buôn lậu; các hoạt động mua bán khác trong dân cư. Phương thức giao dịch
mua bán chủ yếu trên thị trường ngầm là phương thức trao tay. Đồng tiền
giao dịch chủ yếu là USD, ngoài ra còn một số ngoại tệ khác nhưng khối
lượng giao dịch rất nhỏ bé. Sự tồn tại của thị trường ngầm ở các quốc gia là

USD/năm, thì kiều hối là nguồn cung ngoại tệ đáng kể, có tác động tích cực
trong việc cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tỷ giá, là nguồn
ngoại tệ quan trọng cung ứng cho nhu cầu nhập khẩu hàng hóa. Tuy nhiên,
bên cạnh luồng kiều hối vào Việt Nam theo con đường chính thức, thì một
bộ phận lớn kiều hối chảy vào Việt Nam theo con đường không chính thức,
gọi là “kiều hối lậu”. Kiều hối lậu chuyển vào Việt Nam chủ yếu bằng tiền
mặt USD do Việt kiều thu gom ở nước ngoài chuyển về nước và được trao
tận tay cho người nhận. Cơ chế quản lý ngọai hối hiện hành ở Việt Nam
không cấm đưa kiều hối vào Việt Nam dười bất kỳ hình thức nào, miễn là
khi nhập cảnh có khai báo đủ với cơ quan hải quan theo quy định. Trên thực
tế người nhận “kiều hối lậu” rất ít khi gửi, bán ngoại tệ cho ngân hàng mà
chủ yếu là nắm giữ ngoại tệ tiền mặt hoặc bán trên thị trường ngầm. Bên
cạnh đó, đối với nguồn kiều hối chính thức, cơ chế quản lý ngoại hối cho
phép việc chi trả bằng ngoại tệ tiền mặt cho người thụ hưởng trong nước
cũng là nguyên nhân tạo nên lượng ngoại tệ trôi nổi trên thị trường ngầm.
Bảng 3: Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam trong các năm gần đây
24
(Nguồn: BVSC)
2. Khách du lịch đến Việt Nam
Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng. Khách du lịch
nước ngoài mang theo ngoại tệ và chi tiêu bằng ngoại tệ tiền mặt rất lớn tại
các cơ sở kinh doanh tư nhân. Khách du lịch cũng có hoạt động đổi tiền tại
các quầy đổi tiền nhưng thông thường chi tiêu đến đâu họ đổi tiền đến đó và
khi việc đổi tiền không mấy thuận lợi do địa bàn, đường xá, họ thỏa thuận
với người bán hàng để thanh toán bằng đôla Mỹ.
Bảng 4 : Số lượng khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam
25

Trích đoạn Quản lý chặt các kênh dẫn ngoại tệ vào trong nước: đầu tư nước ngoài, kiều hối, vay nợ nước ngoài. Các giải pháp khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status