Tài liệu TIỂU LUẬN: Kế hoạch tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001-2005 ở Việt nam và các giải pháp thực hiện doc - Pdf 10

TIỂU LUẬN:

Kế hoạch tăng trưởng kinh tế thời
kỳ 2001-2005 ở Việt nam và các
giải pháp thực hiện
Lời giới thiệu.
Sau hơn 10 năm đổi mới đời sống kinh tế xã hội của nước ta đã có được
những bước chuyển biến rất rõ nét, cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý, Nhà nước
đã sử dụng ngày càng tốt hơn hệ thống chính sách kinh tế và công tác KHH trong
quá trình điều hành nền kinh tế. Không như ở các nước, ở Việt Nam công tác KHH


I . Kế hoạch tăng trưởng kinh tế và vị trí vai trò, nhiệm vụ của nó trong quá
trình phát triển kinh tế – xã hội.

1. Một số khái niệm cơ bản.
- Khái niệm: Tăng trưởng kinh tế ( TTKT )
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô khối lượng sản xuất và dịch vụ
thực hiện trong nền kinh tế quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định.
Tăng trưởng kinh tế được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu như: Mức tăng
trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế và được đo lường bằng một số tiêu thức
như: Tổng quy mô khối lượng của sản xuất và dịch vụ, GDP,GNP, thu nhập bình
quân đầu người. . .Thông qua các chỉ tiêu này nó cho ta thấy được rõ hơn sự tăng
trưởng của nền kinh tế và giúp cho ta so sánh với các nước khác.
- Khái niệm : Kế hoạch hoá tăng trưởng kinh tế (KHHTTKT).
Kế hoạch hoá tăng trưởng kinh tế là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch hoá
phát triển kinh tế xã hội, nó xác định các mục tiêu gia tăng về quy mô khối lượng
của sản xuất và dịch vụ thực hiện trong nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ kế hoạch
và những giải pháp chính sách cơ bản nhằm thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng
kinh tế trong sự khống chế và ràng buộc với các mục tiêu vĩ mô khác và các cân đối
chủ yếu trong mô hình cân đối tổng quát.

2.Vị trí vai trò của KHHTTKT.
Thông qua thực tế việc thực hiện KHHTTKT ở Việt nam cũng như các kinh
nghiệm đã đúc rút được từ các nước khác trong khu vực và trên thế giới,ta thấy
KHHTTKT có những vai trò sau:
- Trước tiên phải khẳng định rằng KHHTTKT là một bộ phận kế hoạch quan
trọng nhất trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển. Đây là bộ phận kế hoạch mục

Kế hoạch hoá tăng trưởng kinh tế là hệ thống kế hoạch mục tiêu, chính vì vậy
nó có nhiệm vụ:
- Xác định các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước bao gồm các mục
tiêu gia tăng về sản xuất, dịch vụ và các chỉ tiêu xã hội có liên quan trực tiếp đến
tăng trưởng kinh tế.
Các mục tiêu gia tăng về sản xuất và dịch vụ bao gồm: tốc độ tăng trưởng của
các ngành,tốc độ tăng trưởng của các vùng , các thành phần kinh tế và mức tăng
trưởng của từng ngành ,từng vùng, từng thành phần kinh tế trong thời kỳ kế hoạch.
Mặt khác, kế hoạch tăng trưởng kinh tế cũng xác định sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của nền kinh tế trong thời kỳ kế hoạch.
- Bên cạnh việc xác định các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước trong
thời kỳ kế hoạch thì kế hoạch tăng trưởng kinh tế còn có nhiệm vụ xây dựng các
chính sách, các giải pháp và thể chế của thời kỳ kế hoạch bao gồm các chính sách
nhằm khai thác nguần lực cho mục tiêu tăng trưởng, đồng thời khống chế các chỉ
tiêu tăng trưởng với các chỉ tiêu khác trong thời kỳ kế hoạch.
II. Nội dung của KHHTTKT
1. Kế hoạch tăng trưởng phù hợp
Kế hoạch tăng trưởng phù hợp là kế hoạch trong đó các chỉ tiêu được xây
dựng dựa trên cơ sở các giới hạn tối đa về nguồn lực cho phép.
Theo Harrod Domar thì kế hoạch tăng trưởng phù hợp là kế hoạch trong đó
các chỉ tiêu tăng trưởng được xác định dựa trên cơ sở giới hạn tối đa về khả năng
tiết kiệm, tích luỹ và đầu tư của nền kinh tế.
2. Kế hoạch tăng trưởng tối ưu
Kế hoạch tăng trưởng tối ưu là kế hoạch trong đó các chỉ tiêu tăng trưởng xây
dựng lên bảo đảm được huy động tối đa khả năng nguồn lực cho phép đồng thời đáp
ứng được nhu cầu tiêu dùng cao nhất của xã hội.
Theo Harrod Domar : Kế hoạch tăng trưởng tối ưu là kế hoạch trong đó các
chỉ tiêu được xây dựng trên cơ sở giới hạn tối đa về khả năng tiết kiệm, tích luỹ và
đền cao, từ giản đơn đến phức tạp nhằm tiếp cận đến những bí mật của sự tăng
trưởng. Mặc dù nhiều vấn đề trong đó ngày nay vẫn đang được làm rõ, song bằng
sự đo lường và kết quả thực tế, người ta đã phân các luồng đàu vào có ảnh hưởng
tới sự tăng trưởng làm hai loại: các nhân tố kinh tế và các nhân tố phi kinh tế.
2. Các nhân tố kinh tế
Đây là các luồng đầu vào mà sự biến đổi của nó trực tiếp làm biến đổi sản
lượng đầu ra. Trong nền kinh tế thị trường, các nhân tố đó đều chịu sự điều tiết của
quan hệ cung cầu. Một số luồng đầu vào thì ảnh hưởng tới mức cung, một số thì ảnh
hưởng tới mức cầu. Trên thực tế thì các yếu tố sản xuất đóng vai trò của các nhân tố
quyết tổng cung còn các yếu tố quyết định tổng cầu thực chất là các dữ kiện ảnh
hưởng đến kết quả sản lượng thông qua sự cân bằng cung cầu. Thực chất của việc
tiếp cận đến nguần gốc của tăng trưởng là xác định những nhân tố nào là giới hạn
của sự gia tăng sản lượng. Điều đó đưa tới một vấn đề trung tâm của sự tranh luận
trong các lý thuyết tăng trưởng mà cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất, đó là sự
giới hạn của tăng trưởng là do cầu hay cung quyết định.
Xuất phát từ thực tế ở các nước đang phát triển cung chưa đáp ứng được cầu,
việc gia tăng sản lượng phải bắt nguần từ sự gia tăng trong đầu vào trong điều kiện
trình độ kỹ thuật và công nghệ nhất định. Có thể nêu ra một số các yếu tố sản xuất
sau đây:
- Vốn sản xuất là bộ phận tài sản quốc gia được trực tiếp sử dụng vào quá trình
sản xuất hiện tại cùng với các yếu tố sản xuất khác, để tạo ra sản phẩm hàng hoá.
Nó bao gồm các máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà kho và phương tiện kỹ
thuật. Trong điều kiện năng xuất lao động và số lao động không đổi, thì tăng tổng số
vốn sẽ làm tăng thêm sản lượng
- Lao động là yếu tố sản xuất. Nguần lao động được tính trên tổng số người ở
độ tuổi lao động và có khả năng lao động trong dân số. Lao động với tư cách là yếu
tố sản xuất đặc biệt, do vậy lượng lao động không chỉ là số lượng mà còn bao gồm

- Mỗi ngành, mỗi khu vực sản xuất vật chất có năng xuất khác nhau. Sự đổi
mới cơ cấu kinh tế vĩ mô làm cho các khu vực, các ngành có năng xuất cao chiếm tỷ
trọng cao trong nền kinh tế tất yếu sẽ làm cho sản lượng tăng lên. Sự đổi mới trong
cơ cấu thể hiện ở sự bố trí lại nguồn lực cho cơ cấu mới, bố trí lại cơ cấu tích luỹ và
tiêu dùng và các biện pháp tạo cung tạo cầu…Điều đó làm cho các nhân tố tích cực
được nhân lên, giảm bớt một cách tương đối những chi phí, cũng đưa lại hiệu quả
như một sự đầu tư. Như vậy tổ chức và quản lý kinh tế được coi là một nhân tố làm
tăng thêm sản lượng và từ đó sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng.
Trên thực tế thông qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho chúng ta
thấy rằng, trong các nhân tố kinh tế ở trên thì vốn và công nghệ đóng vai trò chủ
chốt trong tăng trưởng. Nhưng vốn và công nghệ xét trên phạm vi vĩ mô phải do
quy mô thị trường tác động. Điều đó không còn là sự ảnh hưởng riêng của các nhân
tố kinh tế mà nó thuộc về bối cảnh kinh tế xã hội, đó là các nhân tố phi kinh tế.
3. Các nhân tố phi kinh tế
Khi đề cập đến vấn đề tăng trưởng, bên cạnh các yếu tố kinh tế thì các yếu tố
phi kinh tế cũng có ảnh hưởng đáng kể. Đặc điểm chung của các yếu tố phi kinh tế
là không thể lượng hoá được các ảnh hưởng của nó. Do vậy không thể tiến hành
tính toán và đối chiếu cụ thể được. Mặt khác, các nhân tố này có phạm vi ảnh hưởng
rộng và phức tạp trong xã hội, không thể đánh giá một cách cụ thể rõ rệt được và
không có ranh giới rõ ràng. Dựa trên những tiêu chuẩn thông thường về sự tăng
trưởng và dựa vào kinh nghiệm, người ta thấy những nhân tố phi kinh tế tiêu biểu
sau:
- Cơ cấu dân tộc:ở đây muốn đề cập đến các dân tộc người khác nhau sống
cùng nhau tạo nên một cộng đồng quốc gia. Sự phát triển của tổng thể kinh tế có thể
đem đến những biến đổi có lợi cho dân tộc này nhưng bất lợi cho dân tộc khác. Do
vậy phải lấy tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi cho tất cả các dân tộc, nhưng phải
bảo đảm được bản sắc riêng của mỗi dân tộc và sự ổn định chung của cả cộng đồng.

nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội, tránh bị tụt hậu xa hơn về kinh tế.
Xuất phát từ quan điểm trên, chúng ta đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế thời kỳ
này: thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững và có hiệu quả, ổn định vững
chắc kinh tế vĩ mô, chuẩn bị tiền đề cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000.
II . Đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch tăng trưởng thời kỳ 1996-2000
1. Những kết quả đã đạt được
Kế hoạch 5 năm 1996-2000 được xây dụng trong bối cảnh nền kinh tế nước ta
phát triển tương đối thuận lợi, hầu hết các chỉ tiêu của kế hoạch 1991-1995 đều đạt
và vượt mức kế hoạch đề ra, đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội và
chuyển sâng thời kỳ phát triển mới. Trong 5 năm qua, toàn Đảng toàn dân ta đã nỗ
lực phấn đấu vượt qua khó khăn thách thức, khắc phục những yếu kém trong nền
kinh tế, hạn chế những tác động tiêu cực từ các yếu tố khách quan và duy trì được
những kết quả tích cực.
1.1. Nền kinh tế giữ được nhịp độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế có sự
chuyển dịch tích cực.
Đại hội Đảng VIII đã xác định giai đoạn 1996-2000 là bước rất quan trọng của
thời kỳ phát triển mới. Đại hội đã xác định thực hiện các mục tiêu tăng trưởng cao,
bền vững và hiệu quả, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 9-10%, giá
trị sản xuất công nghiệp tăng 14-15%/năm, nông nghiệp tăng 4,5-5%/năm, dịch vụ
tăng 12-13%/năm.

Kết quả thực thực hiện các chỉ tiêu qua từng năm của thời kỳ 1996-2000 được
thể hiện qua bảng số liệu sau :

Một số chỉ tiêu tăng trưởng
1998 1999 2000

Bình
quân
1996
-
2000

Tốcđộ
tăngtrưởng
%

Tốc độ tăng
GDP

%
9-10 9,5 9,3 8,2 5,8 4,8 6,7 7,0
Khu vực I

%
4,8 4,4 4,3 3,5 5,2 4,0 4,3

n tỷ
195,
6
213,
7
231,
3
244,
6
256,
3
273,
6

GDP bình quân
đầu người
Lần
Gấp
đôi
1990

1,4 1,5 1,6 1,7 1,7 1,8

Năm 1996, phát huy những thuận của kế hoạch 5 năm trước, nền kinh tế tiếp
tục có những chuyển biến tích cực, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao 9,3%. Nhưng từ
giữa năm 1997 cho đến năm1999, nền kinh tế nước ta đã phải đối mặt với những
thử thách rất quyết liệt từ những yếu tố không thuận trong nội tại nền kinh tế và từ
bên ngoài, sản xuất kinh doanh có dấu hiệu trì trệ, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp,
tốc độ tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài bị chậm lại… Trước tình hình đó, chúng
ta đã lấy mục tiêu ổn định và phát triển bền vững làm cơ sở để xây dựng và điều

1996

1997 1998 1999 2000
Sản lượng lương thực có
hạt
Triệ
u tấn

30-32 29,2 30,6 31,8 34,3 34,5
Sản lượng lương
thực/người
Kg 360-370

386,
5
39,4 420 446 444
Tỷ trọng cây CN/ngành
trồng trọt
% 45 21 21,8 22,5 23 23,7
Tỷ trọng cây CN/ngành
% 30-35 16,5 16,7 16,9 17,1 17,3
NN
Bảo Vử rừng Triệ
u ha
9,3 9,3 9,3 9,3 9,3 11
Diện tích rừng tăng thêm Triệ
u ha

US
D
1-1,1
696,
5
782 858 979 1479
Diện tích tưới tăng thêm
trong 5 năm
100
0 ha
200 37,7 46,6 56 30 40
Diện tích tiêu tăng thêm
trong 5 năm
100
0 ha
250 70,5 65 100 40 30
Tạo nguồn tăng thêm 100
0 ha
500 36,5 80,6 74 60 100

Nét nổi bật là sản lượng thực quy ra thóc bình quân mỗi năm tăng 1,6 triệu
tấn, năm 2000 đạt 35,7 triệu tấn, đủ cho tiêu dùng trong nước, dự trữ và xuất khẩu
với trữ lượng lớn. Diện tích một số cây công nghiệp bình quân hàng năm tăng khá
cao như cao su 7,9%, chè 6,1%, cà phê 22,6%, Hạt tiêu 28,5%, mía 6,1%, cây ăn
quả 10,3%.
Chăn nuôi tiếp tục phát triển, sản lượng thịt lợn hơi năm 2000 khoảng trên 1,4
triệu tấn và bằng 1,4 lần so với năm 1995. Nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản

chọn các sản phẩm ưu tiên và có lợi thế, có nhu cầu của thị trường để đầu tư chiều
sâu, đổi mới công nghệ, đạt chất lượng cao hơn. Nhiều sản phẩm quan trọng có ý
nghĩa chiến lược, có tác động đến nhiều ngành kinh tế đều có tốc độ tăng trưởng
khá, đáp ứng được đầy đủ nhu cầu trong nước, không những đã thay thế được hàng
nhập khẩu, tiết kiệm được ngoại tệ mà còn đóng góp đáng kể vào việc tăng kim
ngạch xuất khẩu cho đất nước.
Một số chỉ tiêu của ngành

Tên chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Mục
tiêu 5
năm do
ĐH VIII
đề ra
199
6
1997 1998

1999

200
0
Thực
hiện
5 năm
1996-
2000
Điện phát ra

0,95 1,1 1,3 1,7 5,91
Phân lân các
loại

1000 tấn

1200 837 885 970
110
0
3792
Phân đạm

1000 tấn

400-900 130 65 50 75 320
Vải lụa các loại

Triệu m 800 285 300 315 322 376 1598
Giấy các loại

1000 tấn

300 220 263 260 338 377 1458
Xi măng

Triệu
tấn

Qua bảng số liệu trên ta thấy các sản phẩm của ngành công nghiệp tăng lên
đáng kể, như dầu thô tăng trên 16%, khai thác khí tăng 43%, điện tăng 14%, cán
thép tăng 30% Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể, hình
thành một số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều
cơ sở sản suất có công nghệ kỹ thuật cao. Đến năm 2000, công nghiệp khai thác dầu
khí chiếm khoảng 11,2% tổng giá trị sản xuất toàn ngành; công nghiệp sản xuất
thực phẩm và đồ uống chiếm khoảng 20%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện,
khí đốt, hơi nước chiếm khoảng 5,4%. Giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp 5 năm
đạt trên 34 tỷ USD, tăng từ 3 tỷ USD năm1995 lên10,1 tỷ USD năm 2000 và chiếm
66% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Ngành xây dựng tiếp nhận công nghệ mới, trang bị thêm nhiều thiết bị hiện
đại, đáp ứng được nhu cầu phát triển đáp ứng được nhu cầu phát triển trong lĩnh vực
vực xây dựng dân dụng và công nghiệp, có thể đảm đương được những công trình
có quy mô lớn, hiện đại về công nghệ; năng lực đấu thầu các công trình xây dựng cả
trong và ngoài nước được tăng cường.
c. Ba là: các ngành dịch vụ đã duy trì hoạt động trong điều kiện hết sức khó
khăn, chất lượng có được nâng lên đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và phục vụ
đời sống nhân dân. Giá trị các ngành dịch vụ tăng trên 6,7%/năm mà cụ thể là:
- Thương mại phát triển khá, đảm bảo ngày càng tốt hơn cá cân đối lớn về vật
tư hàng hoá thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón, lương thực…Thị
trường được hình thành thống nhất thông thoáng với sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế. Phương thức kinh doanh đa dạng, với nhiều hình thức kinh doanh linh
hoạt như đại lý, uỷ thác, trả góp, trả chậm…Thương nghiệp quốc doanh được sắp
xếp lai theo hướng tạo nguần hàng bán buôn, mở rộng mạng lưới trao đổi, mua bán
hàng hoá với thị trường nông thôn, miền núi và đô thị; tham gia kinh doanh bán lẻ
đối với một số mặt hàng thiết yếu nhu xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón, hoá
chất, giấy viết. Tổng mức bán lẻ xã hội tăng bình quân khoảng 12,7%/ năm.

khả năng tích luỹ vốn và đầu tư cho nền kinh tế Dịch vụ tài chính ngân hàng có
những đổi mới quan trọng. Các dịch vụ khác như tư vấn pháp luật, khoa học và
công nghệ đã bắt đầu phát triển.
d. Cơ cấu kinh tề có sự chuyển dịch tích cực.
- Cơ cấu thành phần kinh tế đã có sư chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại và
đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng của khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh. Khu vực kinh tế nhà nước đã tiếp tục được đổi mới, sắp xếp lại, bước
đầu hoạt động có hiệu quả hơn, đã phát huy được vai trò tích cực và chủ động trong
các hoạt động kinh tế xã hội. Trong năm 2000, khu vực kinh tế nhà nước đóng góp
khoảng 39% GDP. Khu vục kinh tế tập thể cũng đã đổi mới và thu hút đông đảo lực
lượng lao động ở cả thành thị và nông thôn, đóng góp khoảng 8,5%GDP thong năm
2000. Kinh tế cá thể phát triển mạnh đóng góp 32%GDP trong năm 2000, kinh tế
hỗn hợp đóng góp 3,9%GDP trong năm 2000. Khu vục kinh tế tư nhân được hình
thành và ngày càng được mở rộng hoạt động trên nhiều lĩnh vực, đóng góp
3,3%GDP trong năm 2000. Ku vực có vốn đầu tư nước ngoài đã có sự tăng trưởng
khá và đóng góp 13,3%GDP trong năm 2000.
- Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, phát huy lợi thế so sánh trong từng ngành. Tỷ trọng nông, lâm, ngư
nghiệp trong GDP giảm từ 27,2% năm1995 xuống còn 24,35 năm 2000; trong đó
nông nghiệp giảm từ 22,4% xuống còn 19,9%GDP, lâm nghiệp giữ ở mức
1,3%GDP và thuỷ sản khoảng 3%GDP. Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm
trong GDP đã từ 28,8% năm 1995 tăng lên 36,6% năm 2000; trong đó các ngành
công nghiệp khai thác từ 4,8%GDP tăng lên 9,5%GDP, công nghiệp chế tác từ
15%GDP lên 18,7%GDP, công nghiệp điện, ga, nước bình quân vào khoảng
2,9%GDP. Tỷ trọng các ngành dịch vụ trong GDP đã giảm từ 44,1% năm 1995
xuống còn 39,1% năm 2000; trong đó thương nghiệp chiếm khoảng 14,5%GDP,
khách sạn nhà hàng chiếm 3,2%GDP, vận tải thông tin chiếm 4%GDP; kinh doanh


năm do
ĐHVIII
đề ra
năm
1996-
2000
1.Thu ngân sách
cân đối với GDP
% 21-22 22,9

20,8

20,2

19,6

20,2

20,7
Thu thuế và phí/GDP

% 20-21 19,3

19,4

18,5

18,6


xuyên/GDP

% 14 15,8

15,7

13,8

13 12,3

14,1
Chi trả nợ/GDP

% 3,5 3,9 3 2,9 3,4 3 3,2
Bội chi NS/GDP

% 3,5-4,5 3 4,05

2,49

4,37

4,95

3,8
2.Tích luỹ tiêu dùng
Tích luỹ so với

28,3

28,7

29,1

29,5

28,8
Tiết kiệm trong
nước/GDP
% 24 16,4

20,1

21,4

24,6

23,5

21,2
3.Tổng đầu tư xã
hội

1000tỷ
Đ
79,4

96,9

440
Quy đổi USD, giá
1995

TỷUS
D
41-42 6,58

7,53

6,96

7,01

8,4 36,5
Trong đó:Vốn
trongnước

TỷUS
D
20-21 3,9 4,3 4,9 5,1 6,2 21,6
Vốn trong nước/tổng
vốn

% 51 58,7

56,9

69,9


với GDP được nâng lên từ 27,2% năm 1995 lên29,5% năm 2000 (bình quân 5 năm
là 28,4%). Tỷ lệ tiết kiệm trong nước so với GDP từ 18,2% năm 1995 lên 27% năm
2000 và gấp 4 lần so với năm 1990.
Tổng quỹ tiêu dùng tăng bình quân hàng năm khoảng gần 5%, tiêu dùng bình
quân đầu người tăng hàng năm khoảng 3,3% so với mục tiêu là 5,5-6%. Tiêu dùng
bình quân đầu người năm 2000 khoảng 4,2 triệu đồng.
Cơ cấu tích luỹ trong tổng tích luỹ- tiêu dùng năm 2000 chiếm khoảng 28,7%
(mục tiêu là 30%), bình quân 5 năm là 26,8%; cơ cấu tiêu dùng tương ứng là chiếm
71,3% (mục tiêu là 70%0, bình quân 5 năm là 73,2%
- Tài chính tiền tệ có những tiến bộ và đổi mới quan trọng, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế.
Tổng nguần thu ngân sách nhà nước tăng bình quân hàng năm là 9,4% cao hơn
mức tăng bình quân GDP, trong đó thu từ thuế và phí chiếm khoảng 96% tổng thu
ngân sách , mức động viên bình quân hàng năm chiếm khoảng 20,7%.
Tổng chi ngân sách nhà nước bình quân hàng năm bằng khoảng 24,2%GDP;
trong đó chi đầu tư phát triển tăng bình quân hàng năm khoảng 14,6%, tỷ trọng
được nâng dần từ 23% tổng chi năm 1996 lên khoảng 30% năm 2000, bình quân 5
năm chiếm 26,6% trong tổng chi ngân sách và chiếm 33% số thu từ thuế và phí; chi
thường xuyên tăng bình quân 6%, chiếm 59% trong tổng chi và khoảng 74% mức
thu từ thuế và phí; chi trả nợ, viện trợ hàng năm chiếm khoảng 14%.
Tỷ lệ bội chi ngân sách bình quân 5 năm là 3,87% GDP. Tổng phương tiện
thanh toán tăng bình quân hàng năm khoảng trên 27,3%, dư nợ tín dụng tăng
28,1%/năm.
- Đã có nhiều cố gắng trong việc huy động các nguần vốn đầu tư phát triển ,
nhất là các nguần vốn đầu tư trong nước góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế của đất nước.
Tổng nguồn vốn đầu tư xã hội thực hiện trong 5 năm khoảng 440 nghìn tỷ
đồng, tương đương gần 40 tỷ USD, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 8,6%; trong
đã xây dựng được một kế hoạch phát triển phù hợp, phát huy được các thế mạnh
trong nước cũng như việc tận dụng được các lợi thế, tranh thủ được sự giúp đỡ từ
bên ngoài. Trong nền kinh tế thị trường, các chính sách phát triển kinh tế đã ngày
càng phát huy tác dụng tích cực. Chúng ta đã mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều
quốc gia trên thế giới và dần cải thiện được cán cân thanh toán quốc tế. Mặt khác,
một lượng vốn đầu tư đáng kể đã được đầu tư từ những năm trước đến bây giờ đã
phát huy tác dụng góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng của đất nước. Tuy vậy
kế hoạch tăng trưởng kinh tế thời kỳ này vẫn còn một số hạn chế cần được điều
chỉnh cho phù hợp.
2. Những mặt còn tồn tại trong kế hoạch tăng trưởng thời kỳ 1996-2000
- Mục tiêu tăng trưởng của các ngành tuy có tăng song chất lượng và hiệu quả
của các ngành kinh tế còn thấp. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch
chậm. Nông nghiệp vẫn giữ một tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Tốc độ tăng
trưởng của các ngành tuy có tăng nhưng tốc độ tăng không cao và không ổn định .
Năng xuất , chất lượng và hiệu quả của các ngành công nghiệp không cao, nhịp độ
tăng trưởng của các ngành dịch vụ còn chậm lại chỉ đạt trên 50% kế hoạch đặt ra.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chưa phát huy được lợi thế so sánh của
từng ngành, từng vùng; chưa tạo được động lực thúc đẩy mạnh mẽ các thành phần
kinh tế phát triển.
- Các cân đối vĩ mô trong nền kinh tế vừa bị hạn hẹp vừa không vững chắc.
Nguần thu ngân sách chưa thật ổn định, tình trạng lãng phí còn nhiều, tỷ lệ tiết kiệm
và đầu tư cho phát triển kinh tế còn thấp, tiết kiệm nội địa chỉ đạt 21,5% GDP.
- Lĩnh vực xuất nhập khẩu chưa vượt được những thách thức gay gắt về cạnh
tranh và thị trường. Việc thu hút nguồn vốn đầu nước ngoài cho phát triển kinh tế
còn nhiều hạn chế và có xu hướng giảm sút trong thời gian gần đây, việc giải ngân
các nguồn vốn ODA còn chậm.
Nguyên nhân của những hạn chế trên một mặt là do chúng ta đã đặt một số chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status