MỤC LỤC
MỤC LỤC ...........................................................................................................1
..............................................................................................................................2
Lời mở đầu...........................................................................................................3
Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÔ LA HÓA.......................................5
1.1 Khái niệm....................................................................................................5
1.2. Phân loại đô la hóa....................................................................................5
1.2.1 Đô la hoá không chính thức....................................................................5
1.2.2 Đô la hoá bán chính thức ......................................................................5
1.2.3 Đô la hoá chính thức .............................................................................5
1.3. Nguồn gốc của đô la hoá...........................................................................6
1.4. Những tác động của đô la hoá..................................................................8
Ch¬ng 2 : Thùc Tr¹ng T×nh H×nh ‘§«la Hãa’ ë ViÖt Nam..........................12
2.1 Ảnh hưởng tích cực của tình trạng ‘Đôla hóa’ đến thị trường Việt
Nam..................................................................................................................12
2.1.1 Giai đoạn trước khi gia nhập WTO (1985-2007)..................................12
2.1.2 Giai đoạn kể từ sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Quốc Tế
WTO đến nay (2007-2009)............................................................................13
2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của tình trạng ‘Đôla hóa’ tại Việt Nam...............15
2.2.1Việc sử dụng quá mức đồng Đô gây hiện tượng mất cân xứng giữa cung
và cầu tiền(đặc biệt là cầu ngoại tệ)..............................................................15
2.2.2 Cũng từ việc ‘Đôla hóa’ quá mức như ở Việt Nam hiện nay làm thua lỗ
cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,hay dễ nhận thấy nhất là
việc cho vay vốn từ các Ngân hàng...............................................................16
2.2.3Khi tình trạng ‘Đôla hóa’ quá cao (ở Việt Nam trong vài năm gần đây)
sẽ như một con dao hai lưỡi:.........................................................................17
2.2.4 ‘Đôla hóa’ sẽ làm mất chủ quyền về tiền tệ..........................................18
2.2.5 ‘Đôla hóa’ cũng làm cho thị trường ngoại hối Việt Nam hoạt động kém
hiệu quả.........................................................................................................19
Ch¬ng 3 : Nh÷ng Gi¶i Ph¸p Chèng ‘§«la Hãa’ ë ViÖt Nam.......................22
3.1. Nguyên nhân tình trạng dollar hóa ở Việt Nam...................................22
yết giá bằng USD còn để tăng tính “hiện đại”, “thương mại điện tử”. Tuy nhiên, dưới
giác độ kinh tế học, đặc biệt là trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô, hiện tượng đồng dollar
Mỹ được sử dụng song song thậm chí nhiều hơn đồng nội tệ trong một nền kinh tế đã
được các nhà kinh tế xem xét và gọi đây là quá trình “Dollar hóa” (Dollarization) của
một nền kinh tế. Quá trình này bao gồm hai mặt, một mặt nó đem lại những lợi ích có
thực, tuy nhiên mặt khác nó cũng gây ra những vấn đề khó khăn hiện hữu cho nền kinh
tế tiến hành quá trình dollar hóa ( a dollarized economy).
Trước thực tế tình trạng dollar hóa đang diễn ra trong nền kinh tế Việt Nam,
cũng như thấy rằng dollar hóa là một vấn đề hay, có ý nghĩa tích cực trong nghiên cứu
phát triển kinh tế nói chung và bộ môn tài chính tiền tệ nói riêng, chúng em đã tiến hành
nghiên cứu tiểu luận với đề tài “Khái quát chung về quá trình Dollar hóa, thực trạng
dollar hóa trong nền kinh tế Việt Nam và một số giải pháp”. Tiểu luận này hướng đến
mục tiêu cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan cũng như những kiến thức cơ bản
nhất về Dollar hóa. Đồng thời đưa ra những quan sát thực tế về tình trạng dollar hóa
3
trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, phân tích nguyên nhân, những tác động tích cực
và tiêu cực đối với nền kinh tế nước ta. Và, cuối cùng, kiến nghị một số giải pháp khả
thi để khắc phục tình trạng dollar hóa trong nền kinh tế.
Do tính rộng lớn của đề tài, hạn chế về thời gian nghiên cứu, khuôn khổ tiểu luận
cũng như kiến thức cá nhân, tiểu luận này không thể tránh được những thiếu sót, những
sai lầm chủ quan, khách quan, chúng em kính mong thầy đọc và có những nhận xét để
hoàn thiện không chỉ cá nhân bài tiểu luận này mà có thể giúp chúng em hoàn thiện hơn
những đề tài tiểu luận, khóa luận trong tương lai, chúng em xin chân thành cám ơn.
Hà nôi, ngày 14/06/2009
4
Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÔ LA HÓA
1.1 Khái niệm
Đô la hoá có thể hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế khi ngoại
tệ được sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc một số
chức năng tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là đô la hoá toàn bộ hoặc một phần.
định kinh tế.
Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệ được
lưu hành hợp pháp. Tuy nhiên, các nước đô la hoá chính thức thường chỉ chọn một đồng
ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp.
Theo đánh giá của IMF năm 1998, 19 nước có mức độ đô la hoá cao với tỷ lệ
tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn 30%, bao gồm các nước: Argentina, Azerbaijian, Belarus,
Bolivia, Cambodia, Costa Rica, Croatia, Georgia, Guinea - Bissau, Laos, Latvia,
Mozambique, Nicaragua, Peru, Sao Tome, Principe, Tajikistan, Turkey và Uruguay.
35 nước có mức độ đô la hoá vừa phải với tỷ lệ tiền gửi/M2 khoảng 16,4%, bao
gồm các nước: Albania, Armenia, Bulgaria, Cộng hoà Czech, Dominica, Honduras,
Hungary, Jamaica, Jordan, Lithuania, Macedonia, Malawi, Mexico, Moldova, Mongolia,
Pakistan, Philippines, Poland, Romania, Russia, Sierra Leone, Cộng hoà Slovak,
Trinidad, Tobago, Uganda, Ukraine, Uzbekistan, Việt Nam, Yemen và Zambia.
Theo nghiên cứu của Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ, hiện tại người nước ngoài
nắm giữ từ 55 đến 70% tổng số đô la Mỹ đang lưu hành trên thế giới.
1.3. Nguồn gốc của đô la hoá
Trước hết, đô la hoá là hiện tượng phổ biến xẩy ra ở nhiều nước, đặc biệt là ở các
nước chậm phát triển . Đô la hoá thường gặp khi một nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao,
sức mua của đồng bản tệ giảm sút thì người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác,
trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín. Song song với chức năng làm phương tiện cất
giữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm
phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị.
Tình trạng đô la hoá bao gồm cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệ, đó là:
• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị.
• Chức năng làm phương tiện cất giữ.
• Chức năng làm phương tiện thanh toán.
Thứ hai, hiện tượng đô la hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong
đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng trong giao
lưu quốc tế làm vai trò của "tiền tệ thế giới". Nói cách khác, đô la Mỹ là một loại tiền
6
lên tới 6,5%/năm. Các ngân hàng thương mại trong nước tăng lãi suất huy động vốn đô
la lên tương ứng, đầu tư trên thị trường tiền gửi quốc tế, đem lại lợi ích thu nhập về lãi
7
suất cho người dân và cho hệ thống ngân hàng.
Cũng do tỷ giá ổn định, lãi suất vay vốn đô la Mỹ bình quân chỉ có 3% - 4%/năm, thấp
chỉ bằng 1/3 lãi suất vay vốn Việt Nam đồng, nên nhiều doanh nghiệp lựa chọn vay đô
la Mỹ, làm cho tỷ trọng và số tuyệt đối dư nợ vốn vay đô la Mỹ tăng lên.
Bên cạnh đó nhiều người có tâm lý do sợ sự mất giá của Việt Nam đồng, nên họ lựa
chọn đô la Mỹ để gửi ngân hàng. Thực trạng đó còn do nguyên nhân đồng tiền Việt
Nam mệnh giá còn nhỏ, cao nhất là tờ 500.000 đồng mới được đưa ra lưu thông vào
cuối năm 2003, song tờ 100 USD lại tương ứng với gần 1,6 triệu đồng. Bởi vậy việc sử
dụng đồng đô la tiện lợi trong các giao dịch lớn như: mua bán đất đai, nhà cửa, ô tô...
Các hoạt động kinh tế ngầm vẫn diễn biến phức tạp, việc sử dụng đô la Mỹ tiện lợi hơn
nhiều đối với họ.
- Thu nhập bằng đô la Mỹ trong các tầng lớp dân cư ngày càng được mở rộng và
tăng lên. Đó là thu nhập của những người Việt Nam làm việc cho các công ty nước
ngoài và các tổ chức quốc tế ở Việt Nam; tiền cho người nước ngoài thuê nhà và kinh
doanh du lịch; khách quốc tế đến và chi tiêu đô la bằng tiền mặt ở Việt Nam; người
nước ngoài sinh sống và làm việc ở Việt Nam tiêu dùng; tiền của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài gửi về; tiền của những người đi xuất khẩu lao động, đi học tập, hội
thảo, làm việc ngắn ngày mang về.
Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, lượng kiều hối chuyển về
nước ta các năm gần đây không ngừng tăng lên như sau: năm 1991: 35 triệu USD; 1992:
136,6 triệu USD; 1993: 140,98 triệu USD; 1994: 249,47 triệu USD; 1995: 284,96 triệu
USD; 1996: 468,99 triệu USD; 1997: 400 triệu USD; 1998: 950 triệu USD; 1999: 1.200
triệu USD; 2000: 1,757 triệu USD; 2001: 1.820 triệu USD; 2002: 2.150 triệu USD; năm
2003: 2.580 triệu USD và 9 tháng đầu năm 2004 ước tính khoảng 2,1 tỷ USD. Đó là con
số thống kê được qua hệ thống ngân hàng, chưa kể ngoại hối được chuyên ngoài luồng,
ngoại tệ tiền mặt người Việt Nam và Việt kiều mang trực tiếp theo người khi nhập cảnh.
- Lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng tăng nhanh, năm 1996 mới là 1,607
thương mại và đầu tư quốc tế. Các nền kinh tế đô la hoá có thể được, chênh lệch lãi suất
đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách tiảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng
và đầu tư.
- Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phí chính thức. Tỷ
giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt
động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính thức (thị trường
hợp pháp).
b. Những tác động tiêu cực:
9
- Ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô. Trong một nền
kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là
chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn biến kinh tế
quốc tế, nhất là khi xẩy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế.
- Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :
• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do đó
dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thông
kém chính xác và kịp thời.
• Làm cho đồng nội tệ nhậy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do đó
những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông qua
việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả.
• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể
thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể làm cho cầu tiền trong nước không ổn định,
do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô la Mỹ, làm cho cầu của đồng
đô la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá.
Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì
quốc gia bị đô la hoá sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất
khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái.
• Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định.
Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho
đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát. Khi người dân giữ một khối lượng
(VN), đặc biệt là ở thị trường tự do đang cảnh báo nguy cơ “đô-la hóa”.Nhằm tìm hiêu
rõ hơn những tác động tích cực cũng như tiêu cực của một đồng tiền rất mạnh trên thế
giới này đối với thị trường Việt Nam nói riêng cũng như nước Việt Nam nói
chung,chúng em xin đưa ra những cái nhin bao quát nhất về cái gọi là ‘Thực trạng Đola
hóa’ ở Việt Nam.
2.1 Ảnh hưởng tích cực của tình trạng ‘Đôla hóa’ đến thị trường Việt Nam.
2.1.1 Giai đoạn trước khi gia nhập WTO (1985-2007)
Hơn 20 năm kể từ Đại hội trung ương Đảng lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt
Nam,Nhà Nước và chính Phủ Việt nam có chủ trương chuyển đổi quản lí nền kinh tế từ
kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường;chuyển từ nền kinh tế đóng sang nền
kinh tế mở nhằm hội nhập với nền kinh tế thế giới.Để thực thi được sự chuyển đổi
này,hệ thống pháp luật và các hành lang pháp lí của Việt Nam có nhiều thay đổi mang
tính Cách Mạng:Xây dựng và hoàn thiện hàng trăm bộ luật,hàng ngàn các văn bản dưới
luật để vận hành nền kinh tế;đồng thời đó cũng thực thi rất nhiều biện pháp kinh tế vĩ
mô nhằm ổn định và phát triển kinh tế.Một trong số đó là việc chấp nhận đồng ‘ĐÔ’
như một đồng tiền thứ 2 trong nền kinh tế sau VNĐ.
VND được “neo” tự nhiên và ổn định vào USD từ cuối những năm 1980. Từ đó,
USD được coi như một đồng tiền pháp định thứ hai, khiến tỷ lệ đô-la hóa luôn ở mức
trên 20%, cao hơn nhiều so với Indonesia, Thái Lan, Malaysia... chỉ khoảng 7-10%. Có
thể nói đồng Đô đã có những tác động tích cực đến toàn bộ nền kinh tế,xin nêu ra vài
điểm cơ bản sau:
● Đồng Đôla giúp chúng ta thu hút được vốn đầu tư nước ngoài nhiêu hơn: Nhờ
tính lỏng và sức mạnh của mình mà đồng Đôla đã là một cầu nối rất hữu ich cho các
doanh nghiệp trong nươcs.Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
trong 11 tháng qua, cả nước đã thu hút tổng cộng gần 5,3 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, tăng hơn 40% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 11, đã có 36
12
lượt dự án tăng vốn, nâng tổng số lượt dự án tăng vốn đầu tư trong 11 tháng lên 439 dự
án, với tổng vốn đầu tư tăng là 1,68 tỷ USD.Trong tháng 11, cả nước cũng có thêm 43
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép với tổng vốn đăng ký 623,7 triệu