Lời mở đầu
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp
nhau từ thấp lên cao, ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế xã hội phù
hợp với nó. Sự phát triển của các hình thức kinh tế xã hội nối tiếp nhau là một
quá trình lịch sử tự nhiên. Quá trình này đợc C. Mác phân tích nghiên cứu và
khẳng định rằng sự ra đời và phát triển của một hình thái kinh tế xã hội nhất
định bắt nguồn đầu tiên từ sự vận động, phát triển của lực lợng sản xuất - nhân
tố vận động nhất của phơng thức sản xuất.
Trong quá trình tìm kiếm con đờng đa nền kinh tế phát triển đi lên, Đảng
và Nhà nớc ta đã lựa chọn đờng lối đổi mới, công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm
1986 chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc theo định hớng XHCN. Đồng thời những giá trị cơ bản mới cũng đã
đợc Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam (1986) lựa chọn và xác nhận.
Điều đó đã tạo ra những động lực lành mạnh, làm nhộn nhịp các hoạt động
kinh tế, làm tơi tỉnh bộ mặt xã hội, là nguyên nhân trực tiếp làm cho đất nớc
có những bớc ổn định và phát triển trong những năm gần đây.
Công cuộc đổi mới đã làm thay đổi mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội,
đặc biệt là sự thay đổi hệ thống giá trị xã hội đồng thời tạo ra những chuẩn
mực xã hội mới. Từ đó nảy sinh nhiều vấn đề, trong đó việc làm những vị trí
của nhân cách và sự ảnh hởng của cơ chế thị trờng trong quá trình hình thành
và phát triển nhân cách con ngời là đòi hỏi cấp thiết cả về mặt lý luận, thực
tiễn quản lý đất nớc cũng nh công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia.
Về bản chất, con ngời muốn tồn tại với t cách là thành viên của xã hội
nên bao giờ cũng tuân theo một cơ chế xã hội mà anh ta đang sống. Nói cách
khác, chính con ngời tạo ra cơ chế hoạt động xã hội nhng không phải tùy tiện
theo ý muốn chủ quan mà bị quy định bởi những quy luật phát triển khách
quan của xã hội. Và sự biểu hiện về thái độ, hành vi, phong thái, cách xử sự
đối với những vấn đề của xã hội chính là nhân cách của con ngời.
Nhân cách con ngời trong cơ chế thị trờng là một yếu tố quan trọng cần
giá trị xã hội có ít nhiều thay đổi cùng với những giá trị chuẩn mực mới đã
phần nào chi phối đến đời sống của từng cá nhân trong xã hội. Từ đó hình
thành nên những con ngời mới. Vì vậy việc hình thành nhân cách con ngời
trong nền kinh tế thị trờng đang là một vấn đề đợc sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu kinh tế xã hội.
3
Phần B : Nội dung nghiên cứu
I. Lý luận chung về nhân cách con ngời trong cơ chế thị trờng
1. Cơ sở lý luận
a) Nhân cách là gì ?
Nhân cách không nảy sinh từ cái phi vật chất, cứng không nảy sinh từ
mọi cấu trúc vật chất và cũng không phải là những yếu tố có sẵn trong cá thể,
cá nhân rồi lớn dần lên về số lợng trong thời gian và không gian. Nhân cách đ-
ợc hình thành và phát triển phụ thuộc vào những yếu tố dới đây :
Thứ nhất : Nhân cách phải dựa trên tiền tệ sinh học một t chất di truyền
học một cá thể sống, có cấu trúc phức tạp và phát triển cao, có các giác
quan, hệ thần kinh trung ơng, não bộ đoá hoá rực rõ nhất của vật chất.
Thứ hai : Môi trờng xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát
triển nhân cách. Đó là môi trờng gia đình, trờng học và xã hội tác động vào cá
nhân bằng vô vàn những sợi dây liên hệ trực tiếp và gián tiếp. Sự tác động của
xã hội vào cá nhân không diễn ra một chiều mà đó là sự tác động biện chứng.
Thứ ba : Hạt nhân của nhân cách đó là thế giới quan cá nhân bao gồm
toàn bộ những quan điểm, lý tởng, niềm tin, định hớng giá trị chung của cá
nhân. Đóng vai trò quyết định hình thành thế giới quan cá nhân là tính chất
của thời đại : lợi ích, vai trò, địa vị của cá nhân trong xã hội, mức độ từng trải,
khả năng thẩm định các giá trị đạo đức nhân văn, tầm hoạt động cá nhân
trong xã hội.
Trên cơ sở nền tảng thế giới quan đó, nhân cách còn bao gồm các thuộc
tính bên trong về năng lực, về phẩm chất xã hội của nhân cách nh năng lực, trí
nhiều tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hoá .Việc sử dụng đầy
đủ và đúng đắn quan hệ hàng hoá, tiền tệ đòi hỏi sản xuất phải gắn với thị tr-
ờng. Đờng lối đúng đắn đó một lần nữa đợc chỉ rõ trong Đại hội toàn quốc
lần thứ VIII : Để phát huy tiềm năng , của nền kinh tế nhiều thành phần phải
tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý của nhà nớc bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và công
cụ khác nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là hoàn toàn cần thiết để
giải phóng và phát huy đợc các tiềm năng sản xuất trong xã hội.
5
Đến đại hội toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định rõ hơn vai trò
của kinh tế thị trờng cơ chế thị trờng đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến
sự phát triển kinh tế xã hội. Nó chẳng những không đối lập mà còn là một
nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nớc theo con
đờng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trờng không đồng nhất với kinh tế TBCN,
không phải là thành quả riêng của CNTB. Kinh tế thị trờng đã từng xuất hiện
khá sớm trớc CNTB và là thành quả chung của văn minh loài ngời. Việc
chuyển đất nớc sang vận hành theo cơ chế thị trờng không đơn thuần chỉ là
quá trình thay đổi lại cấu trúc nền sản xuất xã hội với sự đổi mới cơ cấu sở
hữu t liệu sản xuất, cơ cấu sử dụng nhân lực, lao động mà còn đổi mới nhiều
mặt, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế xã hội nh cơ chế quản lý kinh tế và
quản lý xã hội, hệ thống giáo dục và đào tạo cán bộ, các thiết chế và chính
sách xã hội
b) Việc hình thành nhân cách con ngời trong cơ chế thị trờng
Sự chuyển biến nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
thị trờng sẽ dẫn đến những tác động lớn bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội trong đó có lĩnh vực đạo đức, nhân cách con ngời. Kinh tế thị tr-
ờng bản thân nó vốn có những giới hạn, những khuyết tật mang tính tự phát
hết sức bớng bỉnh. Hơn thế nữa, quan hệ thị trờng còn là môi trờng thuận lợi
để phát sinh nhiều tiêu cực và tệ nạn xã hội. Thực tế những năm qua cho thấy,
xã hội càng phát triển thì cá nhân nhận đợc ngày càng nhiều những giá trị vật
chất và tinh thần.
Vai trò của cá nhân ảnh hởng tới xã hội tuỳ thuộc vào trình độ phát triển
của nhân cách. Những cá nhân có tài năng, phẩm chất, kinh nghiệm cao, có
trách nhiệm cao đối với xã hội, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với xã hội sẽ góp
phần thúc đẩy xã hội phát triển. Những cá nhân bị thoái hoá biến chất về nhân
cách sẽ gây ảnh hởng xấu tới xã hội, cản trở sự phát triển của xã hội Ng ợc
lại, sự hình thành nhân cách của cá nhân cũng còn tuỳ thuộc vào trình độ văn
minh khác nhau của chế độ xã hội.
CNXH tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cá nhân Anghen viết
việc chuyển t liệu sản xuất thành sở hữu xã hội và nhờ sự sản xuất có tính
chất xã hội khả năng đảm bảo cho mọi thành viên của xã hội một đời sống
không những là hoàn toàn đầy đủ về phơng diện vật chất và ngày càng dồi dào
thêm lên, mà còn đảm bảo cho họ đợc phát triển tự do, đầy đủ và vận dụng đ-
7
ợc tự do, đầy đủ các năng khiếu về thể lực và trí tuệ của họ. Đồng thời
CNXH lại có những yêu cầu nhất định đối với cá nhân, giao trách nhiệm cho
mỗi cá nhân. Cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ của mình thì CNXH càng đợc
củng cố, phát triển và bảo vệ vững chắc. Ngợc lại CNXH càng đợc củng cố và
phát triển quyền tự do, các năng khiếu về thể lực và trí lực của cá nhân mới đ-
ợc đảm bảo.
Quá trình kết hợp lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội đòi hỏi phải có sự lãnh
đạo, tổ chức và quản lý một cách khoa học của Đảng và Nhà nớc XHCN. Mọi
trờng hợp viện cớ có vẻ chính đáng về sự quan tâm đến lợi ích tập thể của xã
hội, gạt bỏ lợi ích cá nhân, không quan tâm đến lợi ích cá nhân, làm mai một
hoặc thui chột tài năng cá nhân, hoặc ngợc lại đề cao quá đáng lợi ích xã hội
bị che lấp hoặc bị coi nhẹ đều gây những hậu quả xã hội tiêu cực trở ngại cho
sự phát triển xã hội.
II. Thực trạng vấn đề
Kinh tế thị trờng là kinh tế mở tính đa dạng và đa phơng hoá cao của
nó đã có tác dụng đẩy lùi sự níu kéo, tính trì trệ với bản chất bảo thủ của cơ
chế tập trung quan liêu. Đây là những tác động làm cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo và quản lý kinh tế sống động, kéo theo sự năng động t duy của các chủ thể
lao động.
Cơ chế thị trờng tạo điều kiện cần thiết cho con ngời vơn lên, đòi hỏi mỗi
ngời phải học tập, rèn luyện bản thana, rèn luyện tay nghề để có thể đứng
vững trong nền kinh tế thị trờng. Ngợc lại, nền kinh tế thị trờng cũng rất
nghiêm khắc đào thải những sự trì trệ, bảo thủ, sự lạc hậu, lỗi thời của những
con ngời có những sản phẩm kinh tế kém mang tính chất cổ hủ cả về nội dung
lẫn hình thức.
Kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay không chỉ tạo ra các điều kiện vật chất
để xây dựng phát huy nguồn lực con ngời, mà còn tạo ra môi trờng xã hội
thích hợp cho con ngời phát triển hài hoà, toàn diện cả về mặt vật chất lẫn tinh
thần. Kinh tế thị trờng tạo ra sự cạnh ranh, chạy đua quyết liệt điều đó buộc
con ngời phải năng động, sáng tạo, linh hoạt có tác phong nhanh nhạy, có đâù
óc quan sát để thích nghi và hành động có hiệu quả, từ đó nâng cao năng lực
hoạt động thực tiễn của con ngời góp phần làm giảm đi sự chậm chạp và trì trệ
vốn có của ngời lao động trong nền kinh tế lạc hậu của con ngời Việt Nam.
9
Kinh tế thị trờng tạo ra những điều kiện thích hợp để con ngời mở rộng
các mối quan hệ giao lu buôn bán, từ đó hình thành các chuẩn mực văn hoá,
đạo đức theo tiêu chí thị trờng nh chữ tín trong chất lợng, chữ tín trong giao
dịch Đây cũng là một h ớng tốt đẹp bù đắp những thiếu hụt trong hệ giá trị
của con ngời Việt Nam.
b) Mặt tiêu cực
Tuy cha áp dụng cơ chế thị trờng đợc lâu nhng những mặt trái của cơ chế
thị trờng đang làm cho chúng ta phải suy nghĩ. Khi đất nớc chuyển từ nền kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trờng có sự quản lý, điều tiết
tình trạng tha hoá bản chất là môi trờng thuận lợi làm nảy sinh và phát triển
những hiện tợng lợi dụng chức quyền ngày càng trầm trọng. Thật không sai
khi hình dung kinh tế thị trờng là con dao hai lỡi, nêú dùng không cẩn thận rất
dễ bị đứt tay.
Nền kinh tế hàng hoá đòi hỏi phải mở rộng quan hệ với các nớc và thông
qua mở rộng quan hệ với các chúng ta đã tăng nhanh xuất khẩu và có những
bớc tiến mới trong kinh tế đối ngoại. Trong quá trình mở rộng hợp tác kinh tế
và giao lu với các nớc, một mặt, chúng ta tiếp thu đợc nhiều thành tựu văn
minh của nhân loại làm phong phú thêm nền văn hoá dân tộc. Mặt khác quá
trình xâm nhập của nền văn hoá ngoại lai đã làm cho văn hoá truyền thống
dần bị mai một. Do công tác quản lý văn hoá cha tốt nên trong hoạt động văn
hoá, văn nghệ nảy sinh khuynh hớng coi nhẹ văn hoá, văn nghệ dân tộc, chạy
theo thị hiếu không lành mạnh, để cho các văn hoá phẩm độc hại phổ biến
tràn lan. Những lối sống thực dụng đồi trụy có dịp lan rộng trong xã hội, gây
tác hại lớn đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Khi mà đạo đức và tinh thần có nhiều
vấn đề mới nảy sinh, đạo lý bị sa sút, thế giới nội tâm nghèo đi, một số vấn đề
định hớng giá trị, chuẩn mực xã hội truyền thống có thể bị đảo lộn. Một số tàn
d của xã hội cũ đã có thời kỳ lắng xuống, nay trong điều kiện kinh tế thị trờng
đang có nguy cơ phục hồi.
Nh vậy, kinh tế thị trờng cùng với những tác động tích cực còn có những
tác động tiêu cực với sự phát triển nhân cách, cá tính con ngời. Nó sẽ tạo ra sự
phát triển nhân cách, cá tính con ngời phiến diện vì hoạt động của con ngời bị
định hớng vào mục tiêu làm giàu bất chính. Tính thực dụng sẽ cản trở thậm
chí loại trừ những giá trị văn hoá, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Tất
11
cả những điều này sẽ dần dần làm cho nhiều giá trị văn hoá nói chung, giá trị
đạo đức của dân tộc nói riêng bị phai nhạt, bị phá huỷ.
2. Những nguyên nhân cơ bản của sự ảnh hởng tiêu cực của cơ chế
thị trờng trong việc hình thành nhân cách.
Mấy năm gần đây nhờ mở cửa thị trờng, giao lu kinh tế mà chúng ta ngày
càng phát triển cả về tinh thần lẫn vật chất. Đời sống con ngời đợc nâng cao
Nhng t tởng tiểu nông trong phong thái sinh hoạt, trong bề lối làm việc vẫn
còn đó. Tất cả các mặt này đều trực tiếp hay gián tiếp làm xói mòn đạo đức,
kỷ cơng xã hội. Vì vậy chúng ta cần phải xoá bỏ những cản trở vớng mắt trên
con đờng phát triển kinh tế đa nớc ta tiến dần lên một xã hội văn minh xã hội
chủ nghĩa.
III. Những giải pháp khắc phục
Để khắc phục những mâu thuẫn của sự hình thành và phát triển nhân
cách trong cơ chế thị trờng chúng ta cần phải thống nhất giữa phát triển kinh
tế và phát triển xã hội. Chú trọng đầu t phát triển con ngời nhất là đầu t cho
giáo dục, nâng cao dân trí, phải làm tốt việc quản lý lĩnh vực t tởng. Cụ thể là
phải xây dựng cho đợc ở mỗi ngời một thế giới quan khoa học, một ý thức đạo
đức mới. Tuy vậy, để xây dựng nhân cách đạo đức, trớc hết cần phải tính đến
những nhân tố cơ bản quy định sự hình thành và phát triển nhân cách đạo đức
để từ đó có những biện pháp khả thi sau :
1. Giải quyết quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội vấn đề công
bằng xã hội.
Vì con ngời luôn luôn theo đuổi lợi ích cá nhân nên khi họ vơn tới những
giá trị đạo đức cao cả thì buộc họ từ bỏ việc theo đuổi lợi ích cá nhân. Sự tách
rời giữa đạo đức và lợi ích khiến cho sự hoạt động đạo đức cá nhân bị hạn chế
con ngời hớng vào sự trung đạo đức nhiều hơn là hành vi đạo đức thực tế.
Ngày nay, cơ chế thị trờng làm biến đổi tính chất của việc giải quyết quan hệ
lợi ích giữa cá nhân và lợi ích xã hội. Thực hiện cơ chế thị trờng nghĩa là thừa
nhận tính hợp lý của việc theo đuổi lợi ích cá nhân. Một trong những đặc trng
tiêu biểu của cơ chế thị trờng là ở chỗ : mục tiêu của việc tham gia hoạt động
thị trờng là nhằm thoả mãn tối đa lợi ích cá nhân, tính hợp lý hợp pháp của lợi
ích cá nhân kích thích tính tích cực của hoạt động nhân cách. Việc tham gia
13
14
tiện đợc. Sự đụng độ giá trị có thể làm huỷ hoại những chuẩn mực dân tộc,
truyền thống.
Bên cạnh việc xây dựng hệ chuẩn mực đạo đức xã hội, cần xây dựng
những bộ luật đạo đức nghề nghiệp. Tính đặc thù của nghề nghiệp và lĩnh vực
hoạt động cụ thể đòi hỏi phải có những chuẩn mực đạo đức cụ thể định hớng
cho hoạt động nhân cách. Những chuẩn mực này là sự cụ thể hoá những chuẩn
mực đạo đức xã hội trong các lĩnh vực cụ thể. Vì vậy để chủ động xây dựng
nhân cách đạo đức trong điều kiện hiện nay cần xác lập một hệ chuẩn mực
đạo đức mới, hiện đại, phù hợp với những yêu cầu của xã hội hiện đại.
3. Các biện pháp giáo dục và giáo dục đạo đức
Nhân cách khi hình thành một cách tự nhiên thì bao giờ cũng cha hoàn
thiện. Vì vậy giáo dục và giáo dục đạo đức là một trong những phơng thức giải
pháp quan trọng nhất, trực tiếp quyết định sự hình thành phát triển nhân cách
đạo đức.
Giáo dục nói chung có vai trò to lớn đối với sự phát triển phơng diện đạo
đức của nhân cách. Giáo dục thực chất là quá trình chuyển văn hoá xã hội
thành văn hoá cá nhân, biến những năng lực nhân tính đã đợc đối tợng hoá nh
là tài sản của xã hội thành sức mạnh bên trong của mỗi con ngời cụ thể. Giáo
dục toàn diện và có hệ thống sẽ làm phát triển hài hoà các phơng diện lý trí, ý
trí tình cảm cũng nh năng lực thực tiễn của con ngời. Sự phát triển toàn đó sẽ
là cơ sở cho sự phát triển đạo đức của nhân cách.
Giáo dục đạo dức trực tiếp biến các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức
xã hội thành niềm tin, nhu cầu và động cơ bên trong mỗi con ngời nghĩa là
thành sức mạnh đạo đức của nhân cách. Trong điều kiện hiện nay, khi cơ chế
thị trờng cha hoàn thiện, khi các giá trị và phản giá trị đạo đức còn đan xen lẫn
nhau thì giáo dục đạo đức càng trở nên cấp thiết. Giáo dục đạo đức sẽ góp
phần tích cực vào việc khắc phục tình trạng tự phát trong lĩnh vực đạo đức
cũng nh giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức đòi hỏi tiến hành một cách
tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Để thực hiện tốt vấn đề này, chúng
ta cần có những chính sách cụ thể :
- Thống nhất giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội chú trọng đầu t,
phát triển con ngời, lợi ích và hạnh phúc của con ngời, nhất là đầu t cho đào
tạo, giáo dục, nâng cao dân trí.
16
- Để phát triển kinh tế, đi đôi với thực hiện các mục tiêu xã hội, chúng ta
cần xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách xã hội cũng nh việc xây dựng
cơ chế nhằm đảm bảo việc thực hiện phát triển kinh tế và xã hội.
Để tạo ra động lực cho sự phát triển, chúng ta cần khuyến khích các tài
năng trong các tầng lớp xã hội, những nông dân làm ăn giỏi, những công dân
có trình độ kỹ thuật cao, những trí thức có uy tín lớn, những nhà quản lý kinh
doanh có tài. Trong điều kiện cơ sở vật chất và trình độ kinh tế còn thấp, nếu
đòi hỏi sự phát triển đồng đều của tất cả mọi thành viên mọi tầng lớp xã hội
thì chỉ dẫn đến chủ nghĩa bình quân, triệt tiêu đông lực của sự phát triển.
Chính sách xã hội với t cách là bộ điều chỉnh trong guồng máy hoạt
động của toàn xã hội phải giải quyết một cách công bằng vấn đề lợi ích và xử
lý một cách đúng đắn mối quan hệ xã hội để vừa đảm bảo tính ổn định xã hội,
vừa kích thích con ngời sáng tạo không ngừng. Một mặt, chính sách xã hội
góp phần tạo ra động lực thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế, mặt khác phải dự
đoán trớc những hậu quả xã hội của những giải pháp kinh tế, chủ động khắc
phục những bệnh lý xã hội.
Bên cạnh đó, nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đang đợc Đảng và Nhà nớc ta phổ
biến toàn diện trong đời sống nhân dân.
Đổi mới CNXH đổi mới cơ cấu tổ chức, hệ thống chính trị và cơ chế vận
hành, thực hiện nhà nớc là của dân, do dân và vì dân, biến sự nghiệp cách
mạng thành sự nghiệp toàn dân, thực hiện dân chủ Đó là biến đổi CNXH
thực sự thành môi trờng nảy sinh và phát triển mọi sức mạnh bản chất con ng-
Tài liệu tham khảo
1. Sách triết học Mác LêNin tập II
2. Về kinh tế thị trờng - Đinh Nguyễn Khiêm Tạp chí Nghiên cứu trao
đổi.
3.Sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trờng với việc xây dựng
đạo đức. Nguyễn Thế Kiệt Nguyễn Chí Mỹ.
4. Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp
hành trung ơng khoá VIII.
5. C. Mác F.Anghen toàn tập
6. Về nhân cách trọng đời sống đô thị hiện đại
Tạp chí triết học
7. Con ngời Việt Nam bớc vào nền kinh tế thị trờng Dơng Hiển. Tạp
chí nghiên cứu trao đổi.
19
Mục lục
Lời mở đầu 1
Phần A : Giới thiệu đề tài 3
Phần B : Nội dung nghiên cứu 4
I. Lý luận chung về nhân cách con ngời trong cơ chế thị trờng 4
1. Cơ sở lý luận 4
2. Cơ sở thực tiễn 5
II. Thực trạng vấn đề 8
1. Những tác động của cơ chế thị trờng đến nhân cách con ngời 8
2. Những nguyên nhân cơ bản của sự ảnh hởng tiêu cực của cơ chế thị tr-
ờng trong việc hình thành nhân cách. 12
III. Những giải pháp khắc phục 13
1. Giải quyết quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội vấn đề công bằng xã