TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI TỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên
Lớp
Khoá
Giáo viên hướng dẫn
: Th©n ThÞ Xu©n
: NhËt 6
: 44 H
: ThS. Vò ThÞ HiÒn
một phát biểu thời điểm đầu tháng 10-2008 đã bày tỏ lo ngại sẽ diễn ra đại suy thoái
kinh tế toàn cầu. Một chấn động nhƣ vậy, một quả bom kinh tế nổ ra ở một loạt
nƣớc mà giới quản lý và khoa học về kinh tế khó có thể nhận biết một cách rõ ràng
và dự báo đƣợc. Sự tàn phá dữ dội của cuộc khủng hoảng này đã khiến rất nhiều
nền kinh tế lớn trên thế giới gặp nhiều khó khăn. Và đƣơng nhiên đó chính là các
đối tác quan trọng của Việt Nam.Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng
đang đứng trƣớc khó khăn và những thách thức lớn lao gây ra bởi cuộc khủng
hoảng. Một quốc gia mà đóng góp vào GDP chủ yếu là nhờ vào hoạt động xuất
khẩu thì rõ ràng chúng ta phải nghiên cứu cũng nhƣ xem xét lại nghiêm túc khách
quan chính sách kinh tế đối ngoại của mình, đặc biệt là cơ chế điều hành xuất nhập
khẩu để từ đó tìm ra hƣớng đi đúng nhằm hạn chế tối đa ảnh hƣởng tiêu cực của
cuộc khủng hoảng đồng thời đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
trong điều kiện mới có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Trên cơ sở tham khảo mô hình “ các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát
sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính”, của GS.TS Nguyễn Thiện Nhân để hiểu rõ
các yếu tố tiền đề của nguy cơ khủng hoảng. Và từ đó có thể phân tích nguyên nhân,
tìm hiểu nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính lần này ở những nƣớc bị khủng
hoảng nặng nề và qua đó rút ra bài học quí giá cho Việt Nam.
2.2 Phân tích tác động và mức độ ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng tới hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam nhằm đề ra một số giải pháp đề phòng ảnh
hƣởng tiêu cực và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn
mới.
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
+ Thời gian:Khủng hoảng tài chính tiền tệ trên phạm vi thế giới ( nghiên cứu
sâu và bắt nguồn từ Hoa Kỳ ) đến đầu năm 2009. Hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam đƣợc nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ 2001 – 2009.Dự báo về tình
hình của khủng hoảng và sự phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
trong thời gian tới ( năm 2009 và 2010)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Là phƣơng pháp phân tích và tổng hợp tài liệu. Phân tích các quan hệ kinh tế
vi mô và vĩ mô, đồng thời vận dụng phƣơng pháp sơ đồ khối, mô phỏng của điều
khiển học.Sự kết hợp này nhằm mục đích đơn giản và rõ ràng cho việc lý giải quá
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 3
trình khủng hoảng bằng chữ công thức và bảng số liệu, đồ thị. Phƣơng pháp lập giả
định đƣợc sử dụng để xác định giới hạn và phạm vi nghiên cứu hỗ trợ cho việc hệ
thống hóa những tác động cụ thế của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập
khẩu của Việt Nam.
6. Bố cục của nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu chi tiết:
Đề tài nghiên cứu: “ Một số giải pháp hạn chế ảnh hƣởng tiêu cực của khủng
hoảng tài chính thế giới tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam” gồm có ba
chƣơng:
mối quan hệ giữa chúng. Trong nền kinh tế thị trƣờng luôn có sự luân chuyển các
luồng vốn tiền tệ và trong quá trình đó hình thành các quỹ tiền của tất cả các chủ thể
trong xã hội mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hƣởng lẫn nhau tạo nên
một hệ thống tài chính.
Có thể định nghĩa về khủng hoảng tài chính tiền tệ là tình trạng tài chính
(quĩ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn tới sụp đổ quĩ. Nói cách khác, khủng
hoảng tài chính- tiền tệ là sự thất bại của một số nhân tố của nền kinh tế trong việc
đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Nhƣ vậy, khủng hoảng tài
chính – tiền tệ là khái niệm bao trùm đƣợc sử dụng chung cho mọi loại khủng
hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thƣờng là khi nghĩa vụ phải thanh toán
lớn hơn nhiều phƣơng tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó.
Tham khảo mô hình mà GS.TS Nguyễn Thiện Nhân đã xây dựng về khủng
hoảng kinh tế - tài chính chúng ta có thể tiếp cận một cách hợp lí và có đƣợc tầm
nhìn bao quát, với phƣơng pháp luận khoa học hiện đại.
Mô hình kinh tế mà cho phép mô phỏng quá trình khủng hoảng kinh tế - tài
chính nói chung, trƣớc tiên có đƣợc sự xây dựng mô hình cho quá trình tích lũy ba
nguy cơ là:
- Nguy cơ đồng tiền bị phá giá
- Nguy cơ phá sản ngân hàng và công ty tài chính
- Nguy cơ phá sản doanh nghiệp
Ngoài ra còn có một vấn đề chi phối mạnh đến thời điểm nổ ra các cuộc khủng
hoảng là: nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán, cũng cần phải đƣợc đề cập trƣớc
khi xem xét mô hình kinh tế để nghiên cứu khủng hoảng kinh tế - tài chính.
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
đƣợc vốn vay nƣớc ngoài khi đến kì hạn, do đó mặc dù có thể tiếp tục vay nƣớc ngoài
trong tƣơng lai song tổng nợ nƣớc ngoài không vƣợt qua mức an toàn cho phép.
b. Mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá giá”
Trên cơ sở mối quan hệ nhân quả tác động của tỉ giá hối đoái cố định và các
quá trình tiếp diễn sau đó, ta có thể quan sát mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá
giá” theo sơ đồ dƣới đây:
Khi lạm phát trong nƣớc cao hơn ở các nƣớc có đồng tiền mạnh và tỉ giá hối
đoái đƣợc giữ cố định thì hàng trong nƣớc xuất khẩu sẽ bị khó khăn hơn, do trở nên
đắt hơn ở nƣớc nhập khẩu, và hàng nhập khẩu vào nƣớc sở tại sẽ dễ hơn, vì trở nên
rẻ hơn. Kết quả là cán cân thƣơng mại sẽ có xu hƣớng xấu hơn, lâu dài có thể
chuyển thành thâm hụt thƣơng mại.
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 6
vào nhiều (ngắn
hạn, dài hạn)
(phát triển 3.7)
Nợ nƣớc
ngoài
tăng
Tăng lãi suất
để thu hút vốn
nƣớc ngoài
Ngân hàng Trung
ƣơng không có khả
năng can thiệp
(bán ngoại tệ) để
duy trì tỷ giá cố
định, thả nổi tỷ giá
Rút vốn vì
sợ mất tài
sản bằng
tiền nội địa
(pt 3.8)
Tỷ giá hối đoái
tăng đột ngột
Rút tiền gửi
mua ngoại tệ
Ngƣời dân sợ
mất tài sản bằng
tiền nội địa
Thâm hụt cán
cân thƣơng
mạ i
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 7
Nhƣ vậy quá trình cạnh tranh tất yếu sẽ làm cho các doanh nghiệp kém hiệu quả
nhất bị phá sản và trong trƣờng hợp này nguồn lực trong xã hội ngày càng đƣợc sử
dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế không có khả năng loại bỏ các doanh
nghiệp kém hiệu quả (chi phí cao) thì có nghĩa là khuyến khích việc sử dụng tài
nguyên một cách kém hiệu quả. Việc sử dụng tài nguyên kém hiệu quả có thể trở
thành một căn bệnh chung trong xã hội và số doanh nghiệp kém hiệu quả (chi phí
cao) gia tăng hay lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp giảm sút.
Quá trình này dẫn tới sự tích lũy, sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế. Nếu vì một lí do nào đó mà chi phí đầu vào tăng lên hay giá cả
đầu ra giảm xuống đột ngột sẽ dẫn đến hàng loạt doanh nghiệp hoạt động kém hiệu
quả phải phá sản. Nhiều doanh nghiệp phá sản sẽ dẫn tới tình trạng thất nghiệp gia
tăng và nhƣ thế thì tổng cầu lại giảm, các đơn đặt hàng sẽ giảm và doanh nghiệp
khác lại phá sản. Các doanh nghiệp phá sản sẽ không trả đƣợc nợ ngân hàng và có
thể dẫn đến các ngân hàng phá sản.
Nguy cơ phá sản doanh nghiệp do sự kém hiệu quả của doanh nghiệp và các
điều kiện bên ngoài doanh nghiệp có thể đƣợc phân tích dƣới sơ đồ sau:
Sơ đồ 2. Mô hình “Nguy cơ phá sản doanh nghiệp”
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Thiện Nhân-Khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á 1997-1999)
1.1.3. Mô hình “Nguy cơ phá sản ngân hàng và các công ty tài chính”
Các ngân hàng kinh doanh và các Công ty Tài chính là những mắt xích quan
trọng trong nền kinh tế của quốc gia, và chức năng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi
của các cá nhân và doanh nghiệp để sử dụng một cách có hiệu quả. Vì mục tiêu lợi
nhuận, các Ngân hàng và các công ty Tài chính chỉ cho các tổ chức, cá nhân vay tiền
khi họ có thể hoàn trả vốn vay với lãi suất nhất định.
Nếu một doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, các ngân hàng và các công
Quản lý của
Chính phủ
Môi trƣờng cạnh tranh trong
nƣớc không lành mạnh
Cạnh tranh quốc
tế
Kiểm soát hệ thống
ngân hàng kém
Cho DN kém
hiệu quả vay
ƣu đãi
DN thiếu quan tâm
hiệu quả kinh doanh,
nợ gia tăng
Áp lực cạnh
tranh tăng liên
tục
Nợ tăng, lợi
nhuận thấp
Tỷ giá
hối
đoái
tăng
đột
ngột
Doanh
nghiệp
phá
sản
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
Thân Th
Sự quản lý yếu kém của bản thân các Ngân hàng, công ty tài chính
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 10
Mô hình “ Nguy cơ phá sản Ngân hàng”
doanh và Công ty
tài chính
Sự hiện đại hoá và
toàn cầu hoá dịch vụ
Ngân hàng - Tài
chính toàn cầu
- Ngân hàng
Công ty Tài
chính nƣớc ngoài
- Dân chúng
- Cổ đông
- Ngân hàng KD
và Cty Tài chính
trong nƣớc
Ngân hàng KD, Công ty
Tài chính:
- Cho các DN kém hiệu
quả vay.
- Đánh giá bất động sản
thế chấp giá cao.
- Nguồn vốn hoạt động
chi phí cao rủi ro cao
Doanh
nghiệp kinh
doanh kém
hiệu quả,
sơ đồ 3.2
Rút vốn khi mất niềm tin
vào khả năng chi trả của
Ngân hàng KD, Công ty Tài
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 11
1.1.4. Mô hình “ Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán”
Đầu tƣ nƣớc ngoài và đầu tƣ từ ngân sách quốc gia là các công cụ, tiền đề để
phát triển. Song trong những điều kiện nhất định, các loại đầu tƣ này có thể tạo ra
nguy cơ mất khả năng thanh toán của một quốc gia.Nếu tỉ giá hối đoái gần nhƣ cố
định, lãi suất tín dụng trong nƣớc cao hơn đáng kể ở nƣớc ngoài thì đầu tƣ tài chính
vào nƣớc chủ nhà sẽ có hiệu quả cao với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Nhƣ vậy, đầu
tƣ tài chính của nƣớc ngoài càng tăng thì số lãi suất phải trả và đƣợc chuyển qua
ngoại tệ ra nƣớc ngoài sẽ càng cao, có tác dụng làm giảm dự trữ ngoại tệ một quốc
gia, đồng thời nợ quốc gia sẽ gia tăng. Điều này tạo ra nguy cơ mất khả năng thanh
toán của quốc gia.
Nếu các doanh nghiệp vay ngoại tệ ngắn hạn, lại đầu tƣ vào các công trình
xây dựng nhà ở, văn phòng, đƣờng xá, viễn thông là các ngành chỉ đem lại doanh
thu ngoại tệ rất ít, thì khi nợ tới hạn phải trả, sẽ không có nguồn ngoại tệ. Đây chính
là nguy cơ mất khả năng thanh toán do cơ cấu đầu tƣ bằng vốn vay không hợp lý.
Nếu vay nƣớc ngoài qua con đƣờng chính thức (ODA) mà nƣớc chủ nhà lựa
chọn các dự án kém hiệu quả thì khả năng hoàn vốn sẽ kém. Đến hạn phải trả,
Chính phủ phải xuất ngoại tệ để trả hoặc vay tiếp để trả nợ cũ. Kết quả là dự trữ
ngoại tệ giảm hoặc nợ nƣớc ngoài của Chính phủ sẽ tăng.
Tỷ giá hối đoái
cố định
Lãu suất tín dụng
trong nƣớc cao
Lựa chọn dự án
ODA kém hiệu quả
Thẩm định dự án
đầu tƣ kém
Đầu tƣ từ ngân
sách kém hiệu quả
Cho vay theo chỉ
định của chính phủ
Nguy cơ
quốc gia
mất khả
năng
thanh
toán
Nợ trong
nƣớc của
chính
phủ
Lạm phát, lãi suất
tín dụng tăng
Sơ đồ 4. Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Thiện Nhân-Khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á 1997-1999)
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 13
1.1.5. Mô hình “các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 14
Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài rút vốn (Ngân
hàng, công ty tài chính, doanh nghiệp)
Phá giá nội tệ
Các nƣớc bị khủng hoảng
4
3
2
1
Tác
động
chậm
Tác
động
nhanh
Tác động nhanh
Ảnh hƣởng do
các nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài và
các nƣớc khủng
hoảng gây ra
Tác
động
dây
chuyền
Tác
ông Alan Sreenspan, cựu chủ tịch Cục Dự Trữ Liên Bang (FED), đã đƣợc dự báo từ
năm 2006. Tuy nhiên, dự đoán cũng nhƣ phân tích của nhiều nhà kinh tế đã không
đủ sức thuyết phục để các cơ quan tài chính quyền lực nhất tại Mỹ và Châu Âu có
biện pháp đề phòng. Nguyên nhân trực tiếp của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ
khủng hoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ. Bong bóng bất động sản càng lúc càng
phình to đã đặt thị trƣờng nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng nhƣ nhiều quốc
gia châu Âu vào thế nguy hiểm. Cho vay dƣới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho
quả bong bóng tại thị trƣờng nhà đất. Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản
mà không quan tâm tới khả năng chi trả của khách hàng. Dƣ nợ trong lĩnh vực này
tăng mạnh từ 160 tỷ USD năm 2001 lên 540 tỷ USD vào năm 2004 và bùng nổ
thành 1.300 tỷ USD vào năm 2007. Theo ƣớc tính vào cuối quí III năm 2008 hơn
một nửa giá trị thị trƣờng nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản nợ là
khó đòi. Trƣớc đó, để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào
giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực
quá lớn đối với ngƣời mua nhà. Họ không thể trả đƣợc nợ vay và nhà thì bị tịch biên.
Thị trƣờng bất động sản bắt đầu đóng băng và giá nhà đất bị sụt giảm mạnh. Cuộc
khủng hoảng từ đó lan từ thị trƣờng bất động sản sang thị trƣờng tín dụng và cuối
cùng dẫn tới khủng hoảng tài chính tại Mỹ và tràn sang nhiều nƣớc châu Âu, khiến
nhiều công ty lớn phá sản.
Nạn nhân đầu tiên của cơn bão tài chính là Country Financial, tập đoàn tài
chính từng nắm giữ 20% thị trƣờng cho vay bất động sản Mỹ, chỉ trong vài tháng,
đã bị đẩy đến sát bờ vực phá sản do nợ khó đòi vào tháng 8/2007. Đến tháng 1/2008,
ngân hàng lớn nhất nƣớc Mỹ về giá trị vốn hóa và tiền gửi, Bank of America, đã
mua lại Country Financial với giá 4 tỷ USD. Sau đó một tháng đến lƣợt Northern
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra ngày 7/9/2008 khi hai tập đoàn chuyên
cho vay cầm cố khổng lồ Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải đƣợc chính
phủ tiếp quản để trán khỏi nguy cơ phá sản. Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho vụ
đổ vỡ với những tên tuổi lớn khác. Ngày 15/9/2008, ngân hàng đầu tƣ lớn thứ 4 Mỹ
Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản. Đúng 10 ngày sau,
Washington Mutual Inc, một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ, đã tạo nên vụ phá
sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng giá trị tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ
USD. Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, Ngân hàng đầu tƣ số một nƣớc Mỹ,
Merill Lynch bị thâu tóm bởi Bank of America. Chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ
USD vào AIG, Tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để tránh cho thị trƣờng tài
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 17
chính nƣớc này một kết cục tồi tệ hơn.
Tháng 9 và 10/2008 trở thành giai đoạn đen tối với phố Wall khi chỉ số Dow
Jones sụt tới 25% giá trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9/2008. Biến động tại phố
Wall trở nên khó lƣờng hơn với nhiều kỷ lục cả tăng và giảm tồn tại trong hàng chục
năm đã bị phá. Không chỉ ở phố Wall, tuần lễ từ 15 đến 21/9/2008 thị trƣờng chứng
khoán của cả thế giới chao đảo, từ Tokyo đến Thƣợng Hải, Seoul và Hồng Kông, các
chỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh.Tại Châu Âu, các thị trƣờng chứng khoán Paris,
Luandon, Franfurt, Amsterdam cùng chung số phận. Thị trƣờng chứng khoán
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 18
hoạch trên đƣợc thông qua, vào các ngày 13-14/10/2008, các quốc gia châu Âu đã
công bố gói giải pháp hỗ trợ kinh tế khổng lồ có trị giá lên tới 2.300 tỷ USD.
Bƣớc vào quý IV/2008, suy thoái kinh tế toàn cầu biểu hiện rõ sau khi các
trung tâm kinh tế lớn nhƣ Mỹ, Nhật Bản, EU cùng lần lƣợt rơi vào suy thoái. Kinh
tế Mỹ lâm vào suy thoái với tốc độ nhanh, khoảng âm 0,3% trong quý III/2008.
Mức chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, vốn đóng góp tới hai phần ba vào sự tăng trƣởng
kinh tế Mỹ, suy giảm mạnh nhất kể từ năm 1980. Thâm hụt ngân sách liên bang
trong năm tài khóa 2008 tăng mạnh với mức kỷ lục 454,8 tỷ USD, cao gấp ba lần
mức thâm hụt 161,5 tỷ USD trong tài khóa năm 2007, chủ yếu do chi phí quốc
phòng tăng mạnh, nhất là phục vụ cho hai cuộc chiến tranh Iraq, Afghanistan. Dự
báo thâm hụt ngân sách liên bang trong tại khóa năm 2009 có thể lên tới 1000 tỷ
USD. Theo Bộ Lao động Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay của nƣớc này lên đến 6,5%
cao nhất trong 14 năm qua. Theo dự báo, kinh tế Mỹ tiếp tục suy thoái trong năm
2009, tỷ lệ thất nghiệp có thể lên 8%, trong khi cac khoản tiền dự trữ và giá trị bất
động sản giảm mạnh, chỉ số lòng tin của ngƣời dân Mỹ giảm xuống tới mức kỷ lục.
Điều này càng làm cho nền kinh tế số một thế giới lâm vào suy thoái trầm trọng hơn.
Tiếp theo Mỹ, nền kinh tế thứ hai thế giới là Nhật Bản đã chính thức công bố
suy thoái kinh tế vào ngày 18-11-2008 sau khi tăng trƣởng âm liên tiếp trong hai quý
II và III/2008. Nhƣ vậy, đây là lần đầu tiên kể từ năm 2001, kinh tế Nhật Bản rơi vào
suy thoái. Trƣớc đó, khu vực đồng tiền chung Euro cũng lần đầu tiên rơI vào suy
thoáI kể từ khi hình thành năm 1999. Số liệu thống kê cho thấy GDP của 15 nƣớc sử
dụng đồng tiền chung Euro đã tăng trƣởng âm liên tiếp trong hai quý II và III/2008.
vƣợng nhờ giá dầu lửa cao đã chấm dứt. Nền kinh tế Nga vốn ổn định và mạnh lên
trong thời gian khá dài nhờ xuất khẩu dầu lửa đƣợc giá, nhƣng hiện đứng trƣớc
nhiều khó khăn do khủng hoảng tài chính và giá dầu thế giới giảm mạnh, xuống
dƣới 50USD/ thùng- đây là mức thấp nhất trong 4 năm qua. Nga đang thực hiện các
giải pháp nhằm thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng hiện nay.
Chính phủ dự định chi khoảng 190 tỷ USD nhằm hỗ trợ hệ thống tài chính và ngân
hàng, các ngành kinh tế then chốt cũng nhƣ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hầu hết các nền kinh tế lớn nhƣ Đông- Nam á đều định hƣớng xuất khẩu và
phụ thuộc nhiều vào thƣơng mại quốc tế và đầu tƣ nƣớc ngoài. Do vậy, dù ở mức độ
khác nhau các nƣớc trong khu vực Đông- Nam á dễ bị tác động của xu hƣớng giảm
sút thƣơng mại và đầu tƣ trên thế giới hiện nay. Trƣớc mắt, lĩnh vực xuất khẩu, thị
trƣờng chứng khoán và thị trƣờng tiền tệ khu vực đang chịu ảnh hƣởng mạnh của
cuốc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Singapore là quốc gia đầu tiên ở Đông- Nam á
rơi vào suy thoái năm 2008, ba lĩnh vực trụ cột của kinh tế nƣớc này là xuất khẩu
hàng công nghiệp chế tạo, dịch vụ tài chính – ngân hàng và du lịch đều bị ảnh
hƣởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dự báo tốc độ tăng trƣởng
kinh tế cả năm khoảng 3%. Chính phủ đã phải tạm thời đình chỉ kế hoạch từng bƣớc
tăng giá đồng nội tệ SGD. Các biện pháp kích thích cả gói có thể làm cho thâm hụt
ngân sách năm 2008 tăng lên gấp ba lần. Kinh tế Hàn Quốc cũng báo động đỏ khi
đồng Won mất giá hơn 40% kể từ đầu năm và hiện ở mức thấp nhất kể từ cuộc
khủng hoảng tài chính năm 2007. Chính phủ Hàn Quốc đã phải thực hiện một số
biện pháp khẩn cấp nhƣ cắt giảm lãi suất và bơm tiền vào hệ thống tài chính. Thái
Lan cũng có những biểu hiện của suy thoái kinh tế. Trong bối cảnh đó Pakistan là
nƣớc châu Á đầu tiên kêu gọi IMF trợ giúp 6,5 tỷ USD.
Tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính tiếp tục dẫn đến sự giảm sút
trong các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, cũng nhƣ chi tiêu của ngƣời dân .
Hệ quả của tình trạng trên là nhiều doanh nghiệp phá sản và đẩy tỷ lệ thất nghiệp tại
nhiều quốc gia tăng cao, chỉ số lòng tin của ngƣời tiêu dùng rơi xuống mức thấp
Khoá lu
ậ
trệ kéo dài (một phần lớn bị tác động bởi sự kiện 11/09/2001 nƣớc Mỹ bị khủng bố
và Mỹ tấn công Afghanistan, Iraq), nguyên Thống đốc Hệ thống Dự trữ liên bang
Mỹ (Fed) Alan Green Span đã liên tục điều chỉnh hạ thấp lãi suất Federal Funds từ
6% xuống còn 1% vào ngày 25/06/2003, từ đó dẫn đến các ngân hàng thƣơng mại
cũng hạ lãi suất cho vay (từ 9-10%/năm xuống còn 4-5%/năm). Chính sách tiền tệ
của NHTW đƣợc nới lỏng, dƣ nợ tín dụng của hệ thống NHTM cũng đƣợc mở rộng
theo, nhiều khoản vay mua nhà dƣới chuẩn đƣợc thực hiện với sự tiếp sức của các
môi giới tín dụng và môi giới bất động sản (BĐS).
Nhờ vậy thị trƣờng bất động sản trở nên nhộn nhịp cũng giống nhƣ ở nƣớc ta
năm 2007 và bong bóng BĐS đã hình thành với sự giúp sức của những nhà đầu cơ
chuyên nghiệp. Theo ƣớc tính của các chuyên gia (trên Báo Thanh niên ngày
16/10/2008) thì dƣ nợ cho vay dƣới chuẩn tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ
vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007. Điều đó cho chúng ta thấy rằng khoản
cho vay dƣới chuẩn đã tăng lên một cách nhanh chóng. Cũng theo ƣớc tính của
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 21
nhiều chuyên gia (Thời Báo Kinh tế VN ngày 03/10/2008) trong 22.000 tỷ USD giá
trị bất động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12.000 tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng
4.000 tỷ USD là nợ xấu. Điều lƣu ý là phần lớn các hợp đồng vay dài hạn thƣờng
đƣợc tính theo lãi suất khả biến và điều chỉnh theo tín hiệu thị trƣờng.
Khoá lu
ậ
n t
ố
t nghi
ệ
p
Thân Th
ị
Xuân - Nh
ậ
t 6 K44H 22
kiệm của thế giới để giải quyết vấn đề khủng hoảng của mình, rõ ràng khủng hoảng
sẽ lan rộng và tăng cấp.
Theo Joseph E.Stiglitz, nguyên kinh tế gia trƣởng của WB và là ngƣời đã đạt
giải Nobel kinh tế năm 2001, Mỹ đã xuất khẩu món nợ dƣới chuẩn độc hại của
mình đi khắp thế giới, dƣới dạng các loại giấy tờ có giá đƣợc đảm bảo bằng tài sản.
Mỹ đã xuất khẩu triết lý kinh tế thị trƣờng tự do ở mức mà ngay cả vị tu sỹ cao cấp
nhất của trƣờng phái đó là Alan Greenspan giờ cũng phải thừa nhận là sai lầm. Mỹ
đã xuất khẩu một thứ văn hóa doanh nghiệp vô trách nhiệm đối với xã hội mà rõ
nhất là việc mua bán quyền chọn cổ phiếu một cách thiếu minh bạch, thứ văn hóa
đã khiến ngƣời ta làm sai lệch sổ sách kế toán doanh nghiệp, mà đỉnh điểm là những
vụ scandal nhƣ Enron hay Worldcom mấy năm trƣớc đây. Và cuối cùng, Mỹ đã xuất
khẩu cả sự suy thoái kinh tế đi bốn phƣơng.
Cũng do nổ ra tại Mỹ, nên có nhiều ý kiến cho rằng cuộc khủng hoảng này
đánh dấu sự suy yếu vị thế kinh tế tài chính của Mỹ, cùng với những khó khăn và
thách thức khác đang làm giảm vị thế và hình ảnh của Mỹ trên trƣờng quốc tế. Điều
này sẽ đẩy nhanh sự chuyển dịch kinh tế thế giới sang một hệ thống đa cực hơn,
thúc đẩy xu hƣớng dần hình thành thế giới đa cực trong thời gian tới.
Thứ hai, cuộc khủng hoảng tài chính lần này tiến triển bất ngờ, nhanh và
khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đã đánh dấu sự sụp đổ của tƣ tƣởng tự do kinh tế,
lý thuyết kinh tế tự điều chỉnh với “bàn tay vô hình” là thị trƣờng bị thất bại, dẫn
đến sự ra đời của lý thuyết kinh tế “chủ nghĩa tƣ bản có điều tiết” của John Maynard
Keynes năm 1936, với chủ trƣơng nhà nƣớc can thiệp, điều tiết nền kinh tế. Sau
cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1974 - 1975, với những căn bệnh trầm trọng của chủ
nghĩa tƣ bản nhƣ lạm phát gắn với suy thoái, khủng hoảng cơ cấu đã làm cho học
thuyết của J.Keynes rơi vào khủng hoảng.
Suốt trong thời gian dài từ những năm 80 của thế kỉ 20 đến nay, lý thuyết chi
phối sự vận hành của nền kinh tế Mỹ bắt nguồn từ lý thuyết kinh tế thị trƣờng tự do
mới của Ronald Reagan và Magaret Thatcher. Cuộc khủng hoảng tài chính trầm
trọng lần này tại chính nƣớc Mỹ đã khiến ông Greenspan sau hơn 18 năm làm chủ
tịch FED, một ngƣời vốn tin tƣởng tuyệt đối vào điều tiết của thị trƣờng tự do, đã
thừa nhận sự thất bại của mô hình chủ nghĩa tƣ bản kinh tế thị trƣờng tự do mới.
Ông đề nghị chính phủ Mỹ xem xét ban hành các qui định quản lý kinh tế chặt chẽ
hơn, để các định chế tài chính không thể mạo hiểm bỏ vốn vào các khoản đầu tƣ rủi
ro, sau đó chính phủ lại phải đứng ra cứu trợ, thiếu sự kiểm soát của nhà nƣớc trong
hoạt động của thị trƣờng tài chính sẽ tiềm ẩn nguy cơ và dẫn đến khủng hoảng.
GS. Joseph E. Stiglitz cũng thừa nhận thực tế nêu trên khi phát biểu rằng:
“Thế giới dƣờng nhƣ đang tỏ ra không mặn mà với chủ nghĩa tự do mới, một chiếc
túi chứa đầy những ý tƣởng dựa trên nền tảng cơ bản là thị trƣờng luôn luôn tự điều
tiết, phân bổ hiệu quả các nguồn lực và phục vụ lợi ích chung”. Theo ông sau một
phần tƣ thế kỉ thử nghiệm ở các nƣớc đang phát triển, đã xuất hiện nhiều trƣờng hợp
thất bại: không chỉ các nƣớc áp dụng chính sách tự do mới thất bại trong cuộc chạy
đua thúc đẩy tăng trƣởng, mà ngay cả khi đã đạt đƣợc tăng trƣởng thì lợi ích từ kết
quả này lại đƣợc phân chia một cách không công bằng, chủ yếu tập trung vào những
ngƣời giàu. Trong một thế giới thừa thãi, vẫn có hàng triệu ngƣời ở các nƣớc đang
phát triển không đƣợc hƣởng khẩu phần dinh dƣỡng tối thiểu. Đang tồn tại một
khoảng cách rất lớn giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân. Nếu hai lợi ích này không
hài hòa, kinh tế thị trƣờng không thể phát triển. Và ông nhận định thêm: “Tƣ tƣởng
tự do mới là một học thuyết chính trị phục vụ cho lợi ích cá nhân, nó không dựa
1.3. Cơ chế tác động của khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu:
Để phân tích cơ chế ảnh hƣởng của khủng hoảng kinh tế tới xuất khẩu trƣớc
hết chúng ta hãy xem xét 2 vấn đề đó là chu kỳ kinh tế và các yếu tố tác động tới
xuất khẩu:
Chu kỳ kinh tế bao gồm 3 giai đoạn : suy thoái. phục hồi, hƣng thịnh
Hình 1: Chu kì kinh tế
(Nguồn: Wikipedia)