Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
1
T
T
R
R
Ư
Ư
Ờ
Ờ
N
N
G
GĐ
Đ
Ạ
Ạ
I
IH
H
Ọ
Ọ
K
K
H
H
O
O
A
AK
K
I
I
N
N
H
HT
T
Ế
ẾN
N
G
G
-
-
-
-
-
-
O
O
0
0
O
O
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
T
Ố
Ố
T
TN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
P
M
M
Ộ
Ộ
T
TS
S
M
MN
N
Â
Â
N
N
G
GC
C
A
A
O
OK
K
H
H
Ả
ẢC
C
Ủ
Ủ
A
AV
V
I
I
Ệ
Ệ
T
TN
N
A
A
M
MV
V
Đ
Đ
I
I
Ề
Ề
U
U Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Xuân Nữ
Sinh viên thực hiện : Vũ Thu Huyền
Lớp : A6 – K38B
đổi trong chiến lược của ngành điều ở các nước Châu Phi: thay vì
chỉ xuất khẩu hạt điều thô như trước đây, tiến tới các nước này sẽ xuất khẩu
hạt điều đã qua chế biến. Như vậy, Ngành điều Việt Nam sẽ có thêm nhiều
đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới. Với những hạn chế trên thì nâng
cao năng lực c
ạnh tranh và hiệu quả của Việt Nam về xuất khẩu hạt điều là
tất yếu khách quan và cũng là yêu cầu cấp bách để Việt Nam hội nhập một
cách có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
Nhận thức được điều này, em đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam về xuất khẩu h
ạt điều” làm
khoá luận tốt nghiệp của mình.
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
3
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm củng cố, bổ xung và vận dụng
những lý thuyết đã học vào giải quyết một vấn đề thực tiễn trong đời sống kinh
tế - xã hội . Phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của Việt Nam về xuất khẩu hạt
điều trên thị trường thế giới trong thời gian qua, qua
đó chỉ ra được những thành tựu
đạt được và những tồn tại cần khắc phục. Từ đó tìm ra những phương hướng, biện
pháp nhằm tăng cường sức cạnh tranh của hạt điều xuất khẩu trong thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khả năng cạnh tranh của Việt Nam về
xu
ất khẩu hạt điều trong thời gian qua.
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi là hoạt động sản xuất và xuất khẩu hạt điều
1.Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây điều
Cây điều có tên khoa học là Anacardium occidentale L. là loài cây
thuộc chi Anacardium họ Anacardiaceac bộ Rutales, có nguồn gốc từ vùng
Bắc của Nam Mỹ, hiện nay đã có mặt ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới.
Điều là một loài cây lâu năm, xanh quanh năm, cao từ 5 – 10 m. Là
một loại cây tuơng đối dễ trồng, tốn ít chi phí. Thời gian để một cây điều cho
ra quả lần đầu tiên k
ể từ lúc trồng phụ thuộc vào từng loại giống, có giống
điều chỉ sau 2 – 3 năm đã cho ra quả nhưng cũng có giống phải sau 5 - 6 năm
mới cho ra quả.[1], [6].
Nếu trong điều kiện thuận lợi và không bị sâu bệnh, điều có thân
thẳng, có thể cao đến 15m, tán lá đối xứng có dạng cái ô. Còn nếu trong điều
kiện bất lợi, điều sẽ có cây thấp, thân bị
vặn vẹo. Điều kiện sinh thái ảnh
hưởng rất nhiều đến dạng cây nhưng cũng có dạng cây đặc biệt do tác động
của yếu tố di truyền.
Cây con phát triển rất nhanh, sau 1 tuần cây con có chiều cao 10cm và
có 5 lá, sau 10 ngày cao 15cm và có 8 – 9 lá. Cây bắt đầu phân cành ở ngay
gần mặt đất, các cành thấp có thể nằm sát mặt đất.Ở các cây điều lớn tuổi, các
cành thấp bò lan trên mặt đất một khoảng xa, đôi khi còn
đâm rễ ngay chỗ
tiếp xúc của cành với đất (Davis T.A. – 1961). Chồi sinh trưởng phát triển
suốt năm nhất là khi mưa phân bố đều, thường có 2 – 3 thời kỳ sinh trưởng
mạnh tuỳ theo mùa, phát triển chồi non rộ vào cuối mùa mưa hay đầu mùa
khô. Theo Galang F.G. và Lazo F.D. cây điều ở châu Phi có nhiều đợt đâm
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
5
u gặp mưa, hoa quả sẽ rụng nhiều, năng suất giảm.[6]
Ở Miền Nam và Tây Nguyên nước ta có mùa mưa kéo dài từ tháng 5
đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Đây là điều kiện rất
phù hợp với cây điều. Lượng mưa tập trung vào những tháng mùa mưa
thuận lợi cho thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây còn vào mùa khô tiếp
theo sẽ thuận lợi cho thời kỳ cây ra hoa kết trái.
- Về ánh sáng
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
6
Cây điều là loài cây ưa sáng nên các cây thường được trồng đơn lẻ hay
trồng với mật độ thưa thích hợp. Nếu đảm bảo được ánh sáng cây cho năng
suất khá cao. Đặc biệt trong thời kỳ nở hoa kết trái, cây cần nhiều ánh sáng
để thụ phấn và đậu quả.
Ở Miền Nam và Tây Nguyên, các tháng mùa khô ít mưa, nhiều nắng.
Trung bình các nơi vào thời gian này đều có số giờ nắng trên 2000 giờ nên
đều có thể đáp ứ
ng được yêu cầu về ánh sáng của cây.
- Về độ ẩm không khí
Cây điều ra hoa quả thuận lợi trong điều kiện độ ẩm không khí tương
đối thấp. Nếu độ ẩm không khí cao đều quanh năm và nhất là vào mùa ra hoa
quả sẽ làm cản trở quá trình mở bao phấn, đầu nhụy không được thụ phấn,
hoa sẽ bị thối và rụng. Những vùng trồng điều thuận lợi trên th
ế giới đều có
độ ẩm tương đối trung bình từ 46% – 50%, độ ẩm buổi tối cao trung bình từ
68% – 77%.[6]
Miền Nam nước ta có độ ẩm tương đối trung bình dao động từ 67% -
70% nên việc ra hoa quả của điều cũng khá thuận lợi.
hạt đạt kích thước tối đa sau thời gian 5 – 7 tuần. Sau đó h
ạt co lại, vỏ cứng
dần, màu lục trở thành màu xám.
Quả điều có chứa nhiều vitamin nhất là vitamin C và các loại muối
khoáng cần thiết cho cơ thể con người. Từ quả điều có thể chế biến thành
bánh, mứt, nước giải khát, rượu, làm dược liệu...[1], [6].
2.2. Hạt
Kích thước, hình dạng và tỷ lệ của hạt thay đổi nhiều. Có nhiều giống
khác nhau về kích thước và trọng l
ượng hạt, nhân và vỏ. Giống hạt lớn, nặng
10 – 13 g, có giống hạt nhỏ chỉ nặng 3 –4 g. Có giống vỏ hạt nhẵn, có giống
vỏ hạt lại xù xì hoặc nháp. Có giống nhân chiếm 25% trọng lượng hạt, có
giống chỉ chiếm 20 – 21 %.[6]
Gần đây, các nhà khoa học Ấn Độ đã chế tạo được chất polyme từ chất
lỏng chiết tách từ hạt điều và sợi ami
ăng. Chất polime này có thể chịu được
nhiệt độ cao đến 3000
0
C trong 3 phút. Họ cho rằng các polyme làm từ chất
chiết ra từ hạt điều với khả năng mở ra triển vọng làm các chất chống cháy
cho tên lửa và tầu vũ trụ dùng nhiều lần.[1]
2.3 Nhân
Nhân điều chiếm trung bình 25% trọng lượng hạt, có hình hạt đậu, màu
trắng, là thức ăn ngon, có giá trị dinh dưõng cao nhất là hàm lượng đạm, chất
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
8
béo và đường. Thành phần chung của nhân điều gồm protein, chất béo và
Saccharose 5,70 - -
Tinh bột 19,82 - -
Cellulose 3,97 - -
Nguồn: Cashew, Ohler J.G., Amsterdam
(chú ý : “-“ chưa có con số cụ thể)
Nhân điều là một loại thực phẩm cao cấp, bao gồm nhiều chất và tương
đối cân đối trong thành phần dinh dưỡng. Nhân điều có hàm lượng calo cao
hơn ngũ cốc, thịt và các loại hoa quả tươi. Nhu cầu về nhân điều trong tiêu
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
9
dùng ngày càng cao và có giá trị xuất khẩu lớn. Từ nhân điều người ta có thể
ép ra dầu rán, magarin là những sản phẩm có giá trị đồng thời là thức ăn hạn
chế và chữa được nhiều loại bệnh hiểm nghèo như chảy máu não, sơ cứng
động mạch, huyết áp, thần kinh...
2.4. Vỏ hạt điều
Trong vỏ hạt điều có một chất rất giá trị đó là dầu v
ỏ hạt điều. Dầu vỏ
hạt điều là chất lỏng giống như chất nhựa, tỷ khối cao khoảng 920 – 980
g/cm
3
. Màu từ vàng nhạt đến nâu sậm, có vị đắng, ăn da, làm dộp da, khi đun
lên bốc khói cay và ngạt thở. Dầu vỏ hạt điều có hàm lượng thay đổi nhiều ở
các vùng.
Dầu vỏ hạt điều có công dụng tương đối đa dạng và được dùng nhiều
trong các ngành công nghiệp quan trọng. Dầu vỏ hạt điều là một trong những
nguồn cho phenol thực vật quan trọng. Nó chứa đế
n 90% axit anacardic là
Nước 85,92 86,38
Tro 0,44 0,57
Đường 7,72 7,30
Đạm 0,68 0,52
Dầu béo 0,30 0,27
Hydroxit carbon 0,86 0,98
Tanin 0,42 0,48
Cellulose 3,46 3,34
Axit citric 0,20 0,16
Nguồn: Cây đào lộn hột, Phạm Văn Nguyên, Tổng công ty Vinalimex
2.6. Gỗ điều:
Theo tài liệu của Nair cho thấy gỗ điều có tỷ trọng 500kg/m
3
, sợi gỗ
dài gấp hai lần sợi gỗ thông hai và ba lá nên có thể làm nguyên liệu giấy sợi.
Gỗ điều không bị mối mọt nên có thể sản xuất đồ gỗ, ván sàn và trang trí nội
thất. Ngoài ra còn được dùng làm trục bánh xe, ách trâu bò, làm củi đun, đốt
than. Than gỗ điều có hàm lượng KOH cao nên được dùng làm phân bón cho
cây và bón cải tạo đất.
Tóm lại, có thể thấy rằng điều là loại cây có rất nhiều giá trị. Mỗi m
ột
bộ phận của cây đều đem đến những giá trị nhất định. Tuy nhiên, hiện nay
chúng ta chưa khai thác hết các tác dụng này. Hầu như ở các nước sản xuất
điều trên thế giới mới chỉ chú trọng vào việc chế biến nhân hạt điều thành
một thực phẩm bổ dưỡng chứ chưa chú trọng đến các tác dụng khác của nó.
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
11
Những năm gần đây số lượng nhập khẩu nhân điều ở các nước tăng
mạnh. Nước nhập khẩu lớn nhất là Hoa kỳ (năm 1994 nhập 59.671 tấn, năm
1997 nhập 61.236 tấn) tiếp đó là Hà Lan (năm 1994 nhập 6.282 tấn, năm
1997 nhập 14.288 tấn). Chính vì nhu c
ầu ở các nước nay tăng mạnh nên tổng
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
12
sản lưọng tiêu thụ nhân điều của thế giới cũng tăng lên đáng kể: năm 1994
lượng nhập khẩu là 120.862 tấn, năm 1997 tăng lên đến 147.647 tấn.[1], [8],
[35]
Bảng 3 :Số lượng nhập khẩu nhân điều của các nước trên thế giới
Đơn vị : tấn
Nước 1994 1995 1996 1997
Mỹ 59.671 52.663 59.309 61.236
Canada 4.785 4.150 4.536 4.990
Hà Lan 6.282 8.550 12.406 14.288
Đức 7.983 9.616 10.818 12.474
Anh 5.511 5.126 6.373 6.577
Pháp 2.087 2.880 3.924 4.990
Các nước Tây Âu 4.377 4.137 2.994 3.856
Trung Quốc 7.507 14.991 12.497 12.474
Nhật Bản 5.625 6.192 6.418 6.577
Các nước châu Á khác 4.536 5.602 5.239 4.763
Ểc 4.491 5.534 5.148 5.443
Trung Đông 3.493 3.901 4.491 4.536
Các nước khác 4.513 4.922 5.375 5.443
Thế Giới 120.862 128.301 139.255 147.647
đầu phát triển và nhiều nhà máy chế biến hạt điều được thành lập. Ấn Độ
chiếm vị trí độc tôn trong việc chế biến và xuất khẩu hạt điều. Nhờ có nhân
công rẻ nên trong giai đoạn đầu
Ấn Độ đã giữ vững vị trí này. Tuy nhiên, sản
lượng hạt điều tươi ở Đông Phi phát triển nhanh hơn ở Ấn Độ. Năm 1960
Mozămbich đã vượt Ấn Độ để được xem là nhà cung cấp hạt điều tươi chính
cho ngành chế biến điều. Các nước Đông Phi đã triển khai các kỹ thuật chế
biến với máy móc riêng. Năm 1960 các nhà máy chế biến hạ
t điều đã phát
triển triển ở Mozămbich và Tây Phi, Braxin cũng đã tăng nhanh khả năng chế
biến của mình. Trong thập niên 60 Mozămbich chiếm tới một nửa sản lượng
điều toàn thế giới với sản lượng 60.000 tấn năm 1964. Một thập kỷ sau, chính
phủ nước này đã cấm xuất khẩu điều thô và Mozămbich trở thành nước châu
Phi đầu tiên chế bi
ến điều với quy mô lớn. Năm 1980, Mozămbich có 14 nhà
máy chế biến điều. Đến năm 1992 lệnh cấm xuất khẩu gây nhiều tranh cãi
trên mới được dỡ bỏ theo một phần chương trình cải cách của Ngân hàng thế
giới. Tuy nhiên trong thời gian này các nhà máy chế biến điều hoạt động
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
14
không có hiệu quả làm giảm sức cạnh tranh của điều xuất khẩu. Để giúp
ngành điều phục hồi lại thời kỳ hoàng kim, chính phủ đã thành lập một cơ
quan nghiên cứu và marketing – Viện điều. Hiện nay, Viện điều đang nghiên
cứu các giống lai có khả năng kháng bệnh để đẩy mạnh sản lượng. Ngoài ra,
nỗ lực của chính phủ giúp nông dân tiếp cận
được với những khoản tín dụng
lãi suất thấp cũng có tác động tích cực. Năm 2002 lượng điều chào bán của
hạt điều đầu tiên. Ngay từ năm 1920, công nghiệp chế biến đã phát triển đến
mức các nhà sản xuất trong nước không đủ khả năng cung ứng hạt thô và
phải nhập từ Mozămbich. Năm 1980, khu vực dành cho cây điều khoảng
100.000 ha. Các kế hoạch 5 năm đã dành cho cây điều với diện tích rất lớn.
Xuất khẩu nhân điều qua các năm gần đây : năm 1994 xu
ất khẩu78.260 tấn,
năm 1997 xuất khẩu 72.576 tấn. Ấn Độ đã thành lập Cục phát triển cây điều,
đưa các chương trình cải tiến nông trường trồng điều, khuyến nông và sản
xuất bằng cách chiết ghép, tăng cường các kỹ thuật nông nghiệp như khai
hoang, trồng xen, bón phân xanh, phân hoá học và các biện pháp bảo vệ thực
vật, cây chiết lấy từ các giống chọn lọc để tă
ng sản lượng và tính thuần nhất
về chất lượng hạt.[8], [24]
Ở Braxin, cây điều mọc trên các vùng đất rộng lớn gồm các bang Para,
Marahao, Piaui, Ceara, Paraiba, Alagoas... Cho đến năm 1970, sản lượng chủ
yếu thu hoạch từ các cây mọc hoang và cây trồng quanh vườn nhà nông dân.
Ngay từ năm 1970, Nhà nước đã khuyến khích việc sản xuất hạt điều và tài
trợ cho những ai trồng được trên 100 gốc. Gondins A.D.F. và cộng sự (1973)
đã nghiên cứu tình hình s
ản xuất và chế biến điều đã nhận xét: tốc độ gia
tăng sản xuất điều đã tăng lên nhanh chóng, từ 5.500 tấn năm 1960 lên
37.000 tấn năm 1970 và năm 1972 là 90.000 tấn. Thị trường nội địa tiêu thụ
một phần đáng kể lượng sản phẩm làm ra. Nhân điều không những được xuất
khẩu sống mà còn được rang muối và đóng hộp.[8], [35]
Hiện nay, di
ện tích trồng điều trên thế giới là 1,2 triệu ha với mức sản
lượng điều của thế giới dao động ở mức trên 1.000.000 tấn mỗi năm trong đó
Ấn Độ và Braxin chiếm hơn nửa. Niên vụ 2001/2002, tổng sản lượng điều
của thế giới là 1.178.000 tấn trong đó Ấn Độ chiếm tới 32%. Ấn Độ cũng là
nước chế biến
Braxin 23.088 31.888 36.220 38.556 36.540
Việt Nam 9.526 18.257 23.791 33.000 25.700
Các nước khác 14.598 5.516 8.627 11.567 13.000
Thế giới 120.862 128.301 139.255 147.647 149.805
Nguồn :
Hiệp hội nghiên cứu và phát triển điều Ấn Độ - ICARD
Theo thống kê, Ấn Độ luôn là nước xuất khẩu điều đứng đầu thế giới
tiếp đó là Braxin và Việt Nam. Năm 1994 đã xuất khẩu 78.260 tấn chiếm
64,75% tổng lượng điều xuất khẩu của thế giới, Braxin xuất khẩu 23.088 tấn
chiếm 19,1%. Năm 1997, Ấn Độ xuất khẩu 72.576 tấn chi
ếm 49,15%, Braxin
xuất khẩu 38.556 tấn chiếm 26,12%. Những năm gần đây Braxin có lượng
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
17
xuất khẩu khá lớn : năm 2000 xuất khẩu 43.084 tấn, năm 2001 xuất khẩu
48.546 tấn. Kể từ năm 2000 đến nay mỗi năm Ấn Độ xuất khẩu khoảng
100.000 tấn điều, chiếm khoảng 60% tổng lượng điều xuất khẩu của thế giới,
luôn giữ vị trí số một thế giới về xuất khẩu điều. Mục tiêu củ
a Hội đồng xúc
tiến xuất khẩu điều Ấn Độ (CEPC) là năm 2003 sẽ xuất khẩu 110.000 tấn
điều với kim ngạch 19.700 triệu rupee và đến năm 2010 sẽ xuất khẩu
1000.000 tấn điều (ICARD).[8], [35], [24]
Các nước sản xuất điều khác ở châu Phi như Mozămbich, Tanzania,
Kenya hàng năm vẫn xuất khẩu điều với khối lượng khá cao chiếm khoảng
10% tổng lượ
ng điều thế giới. Tuy nhiên, xuất khẩu điều ở các nước này chủ
ẩn.
Đối với hạt điều chất lượng sản phẩm được quyết định do nhân tố di
truyền và quyết định bởi công tác chế biến, bảo quản. Muốn tăng chất lượng
hạt điều phải đồng thời thực hiện tốt hai nhiệm vụ: Thứ nhất là yếu tố
về
giống, cách thức gieo trồng. Thứ hai là phương thức chế biến bảo quản, yếu
tố này có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm cuối cùng.
Ngày nay trong bối cảnh quốc tế hoá mạnh mẽ của thời đại hậu công
nghiệp với sự ra đời của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và thoả ước về
hàng rào kỹ thuậ
t đối với thương mại, mọi nguồn lực, sản phẩm ngày càng tự
do vượt biên giới quốc gia. Sự phát triển mang tính toàn cầu này có một số
đặc điểm như: Hình thành thị trường khu vực tự do ở cấp khu vực và quốc tế.
Sự bão hoà của nhiều thị trường chủ yếu, đòi hỏi chất lượng cao trong khi sự
suy thoái kinh tế là phổ biến, các công ty và các nhà quản lý năng độ
ng hơn,
hàng hóa ngày càng được sản xuất ra nhiều hơn do công nghệ phát triển rất
nhanh dẫn đến sự cạnh tranh tăng lên. Mặt khác nhu cầu của con người ngày
càng cao và tăng với tốc độ nhanh hơn, điều kiện công nghệ, nhu cầu ở mỗi
nước là khác nhau.
Do những đặc điểm trên thì chất lượng sản phẩm ngày càng trở thành
yếu tố then chốt để cạnh tranh thắng lợi trên th
ị trường.
Khả năng cạnh tranh của chất lượng sản phẩm được thể hiện nếu một
sản phẩm có chất lượng tốt hơn thì sẽ có lợi thế hơn trong cạnh tranh so với
những sản phẩm cùng loại nhưng có chất lượng thấp hơn.
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
19
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
20
thô đem lại giá trị rất thấp lại phải chịu sự tác động rất nhiều của điều kiện tự
nhiên, mùa vụ...
Có rất nhiều yếu tố tác động đến khả năng cạnh tranh dựa trên công
nghệ của doanh nghiệp như chu kỳ sống của sản phẩm, mức độ thực hiện tổ
chức quản lý chất lượng sản phẩm...Tuy nhiên, theo các nhà kinh t
ế yếu tố tác
động cơ bản nhất là vai trò quản trị. Thực vậy, quản trị và công nghệ đã tạo ra
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp biểu hiện trên ba mặt của sản phẩm,
dịch vụ như giá thành hạ, nâng cao chất lượng và cung cấp đúng lúc cho thị
trường. Các tác động trên được thể hiện qua các sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Tác động của công nghệ và quản trị nhằm giảm giá
thành sản phẩm dịch vụ.
Sơ đồ 2: Tác động của công nghệ và quản trị nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm - dịch vụ
Công nghệ
Nâng
cao khả
năng
cạnh
tranh
Công nghệ
Đổi mới công nghệ
* Đổi mới cơ bản
* Đổi mới từng phần
* Đổi mới hệ thống
Nâng cao độ tin
cậy
của quá trình
sản xuất
Nâng
cao khả
năng
Nâng
cao chất
lượng
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
21
Đổi mới công nghệ
Cung
cấp
đúng
lúc
Sản
phẩm
mới
Nâng
cao khả
năng
cạnh
tranh
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
22
cạnh tranh dựa trên công nghệ các doanh nghiệp phải kết hợp chặt chẽ giữa
công nghệ và quản trị để hình thành chiến lược sử dụng công nghệ phù hợp.
Qua đó ta thấy công nghệ và quản trị công nghệ đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm - dịch vụ của
các doanh nghiệp.
3. Hình ảnh và uy tín doanh nghiệp trên thị trường
Uy tín của doanh trên thị trường thể hi
ện sự tin tưởng của khách hàng
vào chính doanh nghiệp đó. Đây cũng là nhân tố rất quan trọng để đánh giá
khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp . Hiện nay, trên thị
trưòng điều thế giới, các doanh nghiệp như Alphonsa Cashew Industries,
Achal Cashew Private Limited (Ấn Độ), Lafacoo (Việt Nam)... là những
hóa gồm 5 m
ức độ quen thuộc:
Nhãn hiệu bị loại bỏ
Nhãn hiệu không được chấp nhận
Chấp nhận nhãn hiệu
Nhãn hiệu ưa thích
Nhãn hiệu nổi tiếng
Một ưu điểm của mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu đó là nó mang tính
dây chuyền. Khi một thương hiệu đã nổi tiếng thì các sản phẩm mới mang
thương hiệu đó cũng dễ dàng đế
n với khách hàng. Hiện nay, trên thị trường
điều thế giới nổi tiếng với hai thương hiệu hạt điều của Ấn Độ đó là “King of
Cashew” và “Jumbo”.
Trên thực tế thì mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu có ảnh hưởng rất lớn
đến quá trình mua sắm và ra quyết định của khách hàng. Thể hiện, nhãn hiệu
ở thứ bậc cao, khả năng cạnh tranh càng tốt.
Muốn đạ
t được thương hiệu nổi tiếng không phải bất cứ một quốc gia
nào, sản phẩm nào đều có thể đạt được. Thương hiệu nổi tiếng là tổng hợp
của rất nhiều các chỉ tiêu về nguồn lực, quản lý, tổ chức.... được thực hiện
hợp lý tối ưu cùng với những lợi thế riêng có trong cả một quá trình dài.
Chính vì vậy để nâng cao khả năng c
ạnh tranh của sản phẩm mang một
thương hiệu nào đó là mục tiêu và thách thức lớn của các sản phẩm trong đó
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
24
có mặt hàng điều xuất khẩu. Trong đó mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu sản
vị trong kinh doanh. Và từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thu Huyền – A6 K38B
25
Tổ chức quản lý trong kinh doanh xuất khẩu hạt điều đó là việc quản lý
các nguồn sản xuất, tổ chức thu gom hàng hóa từ các nguồn, tổ chức bộ máy
dây chuyền sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm phải đồng bộ
và thông suốt. Do đặc điểm của hạt điều là một loại hàng nông sản nên tổ
chức và quản lý ph
ải liên đới quan hệ chặt chẽ với nhau phù hợp với từng
thời vụ.
6. Cơ chế vận hành
Cơ chế vận hành là cách thức đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng
sao cho có lợi nhất, giảm các chi phí một cách hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất.
Trong kinh doanh thương mại thì phương thức đưa sản phẩm tới người
tiêu dùng cuối cùng thể hiện trình độ quản lý, tổ chứ
c điều hành doanh
nghiệp, làm cho khách hàng biết rõ hàng hóa, nhãn hiệu của doanh nghiệp,
chinh phục khách hàng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa kinh doanh.
Thực hiện một cơ chế vận hành tốt sẽ tạo ra một môi trường thương
mại thuận lợi giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được uy tín của mình trên thị
trường thông qua.
- Làm tăng nhanh tốc độ cũng như khối lượng hàng hoá luân chuyển.
Hàng hóa luân chuyển nhanh làm cho tốc độ quay vòng vốn nhanh doanh
nghiệp s
ẽ thu được nhiều lợi nhuận mở rộng quy mô của sản xuất, đầu tư
chuyên sâu hơn ngày càng tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
- Làm giảm thiểu các chi phí lưu thông thông qua việc thiết lập các