Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
Lời Nói Đầu
Trong vài thập kỷ qua sự tăng trởng liên tục với tốc độ cao ( >7%) của khu
vực châu á mà nòng cốt là khu vực châu á - Thái bình dơng đã thu hút đợc sự quan
tâm rất lớn của cả thế giới. Tiếp theo sự thần kỳ của Nhật bản, các nớc NICs và
ASEAN đã biến khu vực này thành khu vực có nền kinh tế năng động nhất trên thế
giới. Nhiều nhà kinh tế và học giả phơng tây đã không tiếc lời ca tụng về sự phát
triển kinh tế của khu vực này và cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của những con rồng
châu á. Chính vì thế các nớc này luôn đợc coi là các mô hình kinh tế mẫu mực để
nhiều nớc đang phát triển trên thế giới học tập trong việc xây dựng chiến lợc phát
triển kinh tế của mình . Thế nhng, cơn bão tài chính - tiền tệ châu á xảy ra ở khu
vực này đã làm chấn động cả nền kinh tế khu vực và thế giới.Phạm vi và mức độ
thiệt hại của nó là rất lớn. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ Thái lan sau đó lan sang
các nớc khu vực Đông Nam á, sang Đông Bắc á và ảnh hởng đến hầu hết khu vực
trên thế giới. Thực chất của cuộc khủng hoảng này là một cuộc khủng hoảng mang
tính cơ cấu với sắc thái tài chính - tiền tệ rất đậm nét chứ không phải là khủng
hoảng chu kỳ hay sự đỗ vỡ của một mô hình phát triển nào.
Đối với nớc ta sau hơn mời năm đổi mới, đã đạt đợc rất nhiều thành tựu to lớn,
chúng ta đã từng bớc thực hiện thành công những mục tiêu nh : chuyển sang nền
kinh tế nhiều thành phần, thực hiện tự do kinh doanh đa dạng, đa phơng hoá quan
hệ kinh tế đối ngoại để từng bớc hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, ngày
càng khẳng định vị thế của mình trên trờng quốc tế . Là một nớc nằm trong khu
vực xảy ra khủng hoảng, chúng ta cũng gặp phải rất nhiều khó khăn và thử thách
do cuộc khủng hoảng gây ra. Chính vì lẽ đó, đề tài này với mong muốn là từ những
phân tích, đánh giá nguyên nhân, tác động của cuộc khủng hoảng đến thế giới, khu
vực và đặc biệt là Việt nam, trên cơ sở đó có thể rút ra các bài học kinh nghiệm và
đa ra các giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục những ảnh hởng tiêu cực của nó
đến công cuộc đổi mới và đờng lối mở cửa mà Đảng và nhân dân ta đang ra sức
thực hiện .
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề án này, song sự
ờng chung của toàn thế giới, do đó có hiện tợng lây lan khủng hoảng từ nớc này
sang nớc khác. Những nớc mà đồng tiền của họ có khả năng chuyển đổi đợc trên
thị trờng ngoại hối thì phải chịu lây lan và ảnh hởng nặng nề nhất, còn những nớc
đồng tiền không chuyển đổi đợc nh Việt Nam sẽ phải chịu ảnh hởng ít hơn.
1.4 Đặc điểm chung của các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Khởi nguồn của các cuộc khủng hoảng kinh tế biều hiện dới hình thức khủng
hoảng tài chính - tiền tệ đều từ các quốc gia và khu vực phụ thuộc quá nhiều vào thị
2
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
trờng quốc tế cả về mặt tiền vốn và thị trờng tiêu thụ. Những cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ này thờng mang những đặc điểm và nguyên nhân chủ yếu sau :
* Sự tách rời ngày càng xa giữa tiền vốn ký hiệu và tiền vốn thực tế
Lạm phát tiền vốn ký hiệu thực chất là sự mở rộng quá mức lợng tiền vốn này so
với lợng tiền vốn thực tế. Khi khủng hoảng xảy ra các loại tiền vốn ký hiệu đều
giảm giá nhanh, làm cho chúng trở lại với giá trị thực tế, điều này đợc biểu hiện
qua sự giảm giá, giảm giá bất động sản hoặc phá giá tiền giấy nền kinh tế rơi vào
tình trạng tiêu điều.
* Tác động của sự di chuyển tiền vốn quốc tế ngày nay
Di chuyển tiền vốn quốc tế là một trong những nội dung cơ bản của các giao
dịch quốc tế, tạo nên sự lu động của các yếu tố sản xuất và các loài tiền vốn trên thị
trờng thế giới. Từ những năm 80 đến nay, xu thế toàn cầu hoá thị trờng tiền vốn
quốc tế phát triển rất mạnh. Nó tăng cờng ảnh hởng của sự lu động tiền vốn quốc tế
đối với nền kinh tế thế giới. Một mặt nó thúc đẩy tăng trởng kinh tế của các nớc
cũng nh thơng mại quốc tế; song mặt khác cũng làm cho một số nớc đang phát
triển mắc sai lầm trong việc sử dụng tiền vốn nớc ngoài. Do lạm dụng tiền vốn nớc
ngoài, sử dụng kém hiệu quả đã làm cho một số nớc rơi vào tình trạng không trả
nỗi nợ, nền kinh tế bị phụ thuộc và trì trệ kéo dài. Tình hình Mỹ La tinh những năm
80 và Đông Nam á gần đây là những bài học kinh nghiệm.
Hơn nữa, do tiền vốn ký hiệu ngày càng phát triển, đặc biệt loại tiền vốn ngắn
hạn quá lớn trong tổng số vốn lu động trên thị trờng thế giới đã làm tăng tính biến
tệ đã thiếu lại càng thiếu hơn. Vì vậy, cần thận trọng trong việc tung ngoại tệ để
kìm giữ tỷ giá. Cùng với nó là việc duy trì một cơ cấu hợp lý về vốn đầu t trực tiếp
và gián tiếp để tránh tác động của đầu cơ và nguy cơ rút vốn đột ngột và ồ ạt của
các nhà đầu t nớc ngoài.
Ngân hàng là nơi nhạy cảm nhất đối với cuộc khủng hoảng, hơn nữa cuộc
khủng hoảng có thể đợc hạn chế hay trầm trọng hơn cũng do hệ thống ngân hàng
quyết định. Vì vậy, cần phải tăng cờng vai trò của chính phủ trong việc tạo ra
khung pháp lý và đề ra các chủ trơng chính sách để tăng cờng hệ thống ngân hàng
tài chính.
3.Diễn biến của khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu á
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á xuất phát từ Thái Lan, nó nằm
trong chuỗi các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ liên tiếp diễn ra ở các nớc
đang phát triển trong vòng 20 năm trở lại đây. Sau những gì đã xảy ra từ những
cuộc khủng hoảng trớc với quá nhiều bài học thu đợc ngời ta nghĩ rằng khó có thể
để xảy ra một cuộc khủng hoảng tơng tự. Vậy mà nó đã xảy ra ngay tại Đông Nam
á - nằm trong khu vực Đông á vốn đợc coi là nơi có sự phát triển thần kỳ, là động
lực tăng trởng của nền kinh tế thế giới trong nhiều năm qua.
4
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
Ngay từ năm 1996, đã xuất hiện những dấu hiệu về một khủng hoảng tiền tệ,
tài chính ở các nớc Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippin. Những dấu hiệu này
là : mức tăng trỡng xuất khẩu đã giảm mạnh trong năm 1996, ở Thái Lan chỉ còn
6% so với mức 20% mỗi năm trong thời kỳ 1985 - 1995. Nợ bằng USD của ngân
hàng nớc ngoài ở bốn nớc trên đến cuối năm 1996 đã chiếm từ 15-37% GDP, trong
đó số nợ phải đáo hạn trong mời hai tháng chiếm tỷ lệ khá cao khoảng 50-70%. D
nợ ngân hàng tăng cao 50-110% GDP do ngân hàng của bốn nớc trên vay USD với
lãi suất thấp và tái cho vay bằng nội tệ với lãi suất cao. Nhiều chuyên gia đã cảnh
báo với chiều hớng xấu đi này của nền kinh tế. Nhng vì trong năm 1996 tốc đọ tăng
trởng còn cao, dự trữ ngoại tệ cha suy giảm nên chính phủ các quốc gia này đã cha
rằng họ không thể sử dụng số dự trữ ngoại tệ ít ỏi ( tính đến tháng 4/1997 chỉ có
10.3 tỷ USD) cho việc bảo vệ đồng Pêsô. Sau khi nới rộng tỷ giá, tỷ giá Pêsô so với
USD tăng lên 28.1 Pêsô/USD và đạt đỉnh cao vào cuối tháng 9/1997 là 40
Pêsô/USD.
Đồng Ringgit của Malaysia vốn là đồng tiền tơng đối ổn định. Tuy nhiên cũng
giống đồng Baht của Thái lan, đồng Rupi của Inđônêsia, nó cũng rất nhạy cảm đối
với những biến động bất thờng bắt nguồn từ sự lo ngại về tốc độ tăng trởng quá
nóng của nền kinh tế cộng thêm thâm hụt cán cân vãng lai ở mức độ lớn và kéo dài.
Năm 1996, với sự thành công trong kinh tế của Malaysia, đồng Ringgit đã tăng
lên tới 2.53 RM/USD. Nguyên nhân của sự tăng này là do sự tăng lên của các đồng
vốn đầu t từ bên ngoài. Tuy nhiên vào giữa tháng 4/1997 ngân hàng Negra
Malaysia (BNM) đã can thiệp vào thị trờng để bảo vệ đồng Ringgit khi mà đồng
tiền này bị đầu cơ. Lãi suất cũng tăng trong thời gian này. Đống Ringgit đứng trớc
sức ép rất mạnh về tỷ giá và bắt đầu có dấu hiệu mất giá. Trớc tình hình đó, ngân
hàng Trung ơng đã bỏ ra hàng tỷ USD để bảo vệ đồng Ringgit. Đồng thời lãi suất
cũng đợc kính lên ở mức cao nhất trong vòng mời năm trở lại đây nhằm bảo vệ
đồng tiền và chống lại sự bất ổn của thị trờng ngoại hối. Ngày 15/7/1997 chính phủ
Malaysia đã tuyên bố thả nỗi đồng Ringgit. Ba ngày sau khi tuyên bố, tỷ giá đồng
Ringgit đã lên 2.633 RM/USD tức là mất giá khoảng 88% so với trớc tháng 2/1997.
Mặc dù đồng Rupi của Inđônêsia không bị sức ép căng thẳng nh đồng Pêsô của
Philippin nhng chính phủ Inđônêsia đã công bố nới rộng biên độ tỷ giá từ 8% lên
12% vào tháng 11/1997 với khả năng dự trữ ngoại tệ của Inđônêsia còn hạn chế,
Việc nới rộng biên độ tỷ giá là điều cần thiết nhằm tăng khả năng bảo vệ đồng
Rupi khỏi sự đầu cơ tiền tệ. Sau một tuần mở rộng không can thiệp, tỷ giá tăng lên
mức 2.52 RP/USD và mất giá khoảng 8,25%. Riêng ngày 13/8/1997 ngân hàng
Trung ơng Inđônêsia đã phải bỏ ra 500 triệu USD để giữ đồng Rupi biến động
trong mức 12%. Tuy nhiên biện pháp này cũng tỏ ra không hiệu quả và ngày
14/8/1997 ngân hàng trung ơng Inđônêsia phải tuyên bố thả nỗi đồng Rupi. Ngay
sau đó đồng Rupi bị mất giá liên tục, ở thời điểm thấp nhất là 19000 RP/USD so
với 2648RP/USD ngày 14/8/1997, có nghĩa là mất giá hơn 500%.
cuộc khủng hoảng này, bảy tập đoàn kinh tế vào loại hàng đầu của Hàn Quốc nh :
Hanbo, Samni, Jinzo, Diamony lần lợt bị phá sản. 25 ngân hàng thơng mại có liên
quan đến tài trợ vốn cho các tập đoàn bị ảnh hởng và rơi vào tình trạng khó khăn
trong thanh toán.
Sau khi khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Hàn Quốc nổ ra đã làm cho đồng tiền
của nhiều nớc ở châu á có xu hớng giảm giá tiếp, gây ảnh hởng trực tiếp đến Mỹ và
Nhật, bởi vì 50% kim ngạch xuất khầu của Mỹ là sang các nớc châu á - thái bình d-
ơng, và trong số nợ nớc ngoài của Hàn Quốc thì Nhật chiếm 25%.
Nh vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra
thì đã có hàng loạt các quốc gia lâm vào khủng hoảng nhng với tính chất, quy mô,
mức độ bị ảnh hởng rất khác nhau tuỳ thuộc vào vị thế, bối cảnh riêng của từng
quốc gia trong quá trình tự do hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay.
7
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
ii. nguyên nhân và tác động của cuộc khủng hoảng
1. nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á
1.1 Nguyên nhân chủ quan
Theo nhận định của nhiều chuyên gia thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khủng
hoảng xuất phát từ nội tại của nền kinh tế hay nói cách khác đó là chính nhân tố
chủ quan, là ngòi nổ trực tiếp cho cuộc khủng hoảng.
Thứ nhất, thâm hụt tài khoản vãng lai, nền kinh tế phát triển mất cân đối.
Các nền kinh tế ASEAN là những nền kinh tế hớng ngoại dựa vào tăng trởng xuất
khẩu và trên thực tế các nền kinh tế này đã thực hiện đẩy mạnh tăng trởng bằng các
nỗ lực thu hút đầu t nớc ngoài, tăng vay nợ nớc ngoài chứ không phải dựa vào các
nguồn lực trong nớc, cơ cấu xuất khẩu lại đơn điệu, chủ yếu dựa vào các mặt hàng
điện tử và may mặc ( thờng chiếm 30-40% kim ngạch xuất khẩu của các nớc
ASEAN ) và khi nhu cầu của thế giới về các mặt hàng này bị giảm sút thì cán cân
thơng mại của các nớc này bị thâm hụt lớn, gánh nặng nợ nớc ngoài tăng vọt. Mặt
khác, các khoản vay bên ngoài với lại suất thấp đã đợc tập trung chủ yếu cho vay
với lãi suất cao ở hai khu vực không sinh lời và chậm thu hồi vốn là bất động sản và
rất nhạy cảm nó giữ vai trò rất quan trọng đối nền kinh tế.
Thứ ba, hệ thống tài chính - ngân hàng hoạt động yếu kém, quản lý ngoại
hối lõng lẻo. Hệ thống tài chính - ngân hàng cha đáp ứng đợc đòi hỏi của nền kinh
tế đang phát triển với nhịp độ cao. Thị trờng tài chính tự do hoá mạnh mẽ nhng các
thể chế giám sát điều hành không đợc tăng cờng phù hợp. Hơn nữa, chính sách
quản lý ngoại hối của các nớc này quá tự do, việc chuyển đổi giữa ngoại tệ và nội
tệ quá dễ dàng đã tạo khả năng bán tháo đồng nội tệ lấy USD khi xuất hiện những
dấu hiệu bất ổn định trên thị trờng tiền tệ. Hiện tợng thất thoát vốn trở nên nghiêm
trọng ở các nớc này do những hoạt động đầu t sai lầm. Để duy trì tốc độ tăng trởng
kinh tế nóng và duy trì tỷ giá cố định, ngân hàng các nớc này đã vay các khoản vay
nóng từ các ngân hàng nớc ngoài ở mức độ nguy hiểm vợt xa so vơi mức dự trữ
ngoại tệ trong nớc. Nhìn chung các ngân hàng ở ASEAN đã không thực hiên đợc
vai trò điều tiết khi xuất khẩu bị giảm sút, khi các dòng vốn bị rút ra ồ ạt cũng nh
khi lạm phát ở mức cao mà tốc độ cung ứng tiền vốn vẫn tiếp tục tăng mạnh.
Thứ t, Những bất cập trong chuyển đổi của quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nớc. Một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính - tiền tệ
châu á là những bất cập và yếu kém trong bớc ngoặt chuyển đổi của quá trình
CNH-HĐH khi chuyển thành nền công nghiệp mới nh ở Thái lan, Inđônêsia,
Malaysia. Chính bất cập về thể chế và cơ cấu, những chậm chạp trong cải cách đã
không giúp cho các nền kinh tế này chuyển kịp trong điều chỉnh cơ cấu đầu t, tái
phân bổ nguồn lực và điều chỉnh nền kinh tế ở giai đoạn cao hơn. Mất cân đối lớn
nhất và đe doạ trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính - tiền tệ mỗi nớc là
sự thâm hụt tài khoản vãng lai và cơ cấu vốn nớc ngoài đổ vào trong nớc. Mặt khác
vốn huy động gián tiếp qua thị trờng chứng khoán cũng tăng nhanh, trong khi dự
trữ ngoại tệ quốc gia không cao và kim ngạch xuất khẩu giảm dần, có nghĩa là có
sự phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ nớc ngoài. Hơn nữa, các khoản vốn vay nóng lại
đợc tập trung đầu t vào các lĩnh vực kinh tế nóng nh bất động sản hay một số ngành
9
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
công nghiệp mà trớc đó có sự tăng trỡng mạnh dẫn đến cung vợt quá cầu và gây ra
nguy cơ bão hoà trên thị trờng quốc tế. Tính đến năm 1996, thị trỡng bán dẫn suy
giảm mạnh, giá vi mạch giảm hơn 80%. Trong khi đó các sản phẩm điện tử dân
dụng của Nhật bản và các nớc NICs giảm lợng bán hơn 40% trên thị trờng quốc tế.
Mặt khác tính hấp dẫn của thị trờng Đông Nam á với các đối tác Mĩ và Tây âu đã
10
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
giảm sút trớc những thị trờng không kém phần năng động và hấp dẫn nh Trung
quốc, SNG, Đông âu và Mỹ latinh.
Sự gia tăng tính không ổn định của các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trờng
tài chính quốc tế.
Toàn cầu hoá cao độ về tài chính - tiền tệ và sự phát triển quá nhanh của các
loài quĩ ở các nớc phát triển đã dẫn đến sự bùng nổ các luồng vốn đầu t t nhân
ngắn hạn. Các nguồn vốn dài hạn nh ODA ngày càng có xu hớng giảm trong khi đó
các nguồn vốn đầu t gián tiếp ngày càng tăng thậm chí tăng nhanh hơn cả vốn đầu
t trực tiếp. Các nớc trong khu vực trong khi huy động và sử dụng các nguồn vốn
này đã sự dụng quá nhiều loại vốn đầu t gián tiếp (chứng khoán), điều đó dễ dẫn
đến những tổn thơng của hệ thống tài chính trong nớc.
Các hoạt động đầu cơ từ bên ngoài.
Ngoài nhà tỷ phú G.Soros còn nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quĩ tín dụng
ở Mỹ với số tài sản khổng lồ khoảng 100 tỷ USD nh Tiger, Orbics, Pumar họ đã
mua đồng Baht, Pêsô, Ringgit, Rupi, các quĩ nói trên đã bán ra khối lợng đồng Baht
trị giá 15 tỷ USD. Với khả năng về tài chính nh vậy, các quĩ tín dụng này hoàn toàn
có khả năng tiến hành các hoạt động nhằm cải thiện tình hình hoặc làm trầm trọng
thêm cuộc khủng hoảng này.
Tình hình chính trị và môi trờng quốc tế.
Có thể nói đây không phải là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng, tuy
nhiên nó cũng là nhân tố góp phần không nhỏ gây ra cuộc khủng hoảng này.
Với nhiều phe phái chính trị tranh giành quyền lực ở Thái lan đã làm ảnh hởng
tiêu cực đến quản lý và điều hành nền kinh tế vốn đã chứa đựng những mất cân đối.
Mặt khác với nhiều mối quan hệ mờ ám giữa các chính trị gia và các tập đoàn lớn
kéo dài hàng thập kỷ dựa chủ yếu vào các nguồn vốn nớc ngoài của các nớc trong
khu vực, để chuyển sang một giai đoạn mới đặc trng bởi nhịp độ tăng trỡng ôn hoà
hơn, thận trọng hơn và dựa vào sực mình nhiều hơn.Nhịp độ tăng trỡng trung bình
của khu vực đã giảm đi 2.5% năm 1998 so với năm 1997. Do khủng hoảng ở châu
á làm cho tăng trởng của Mỹ giảm đi 0.7% trong năm 1998, EU giảm 0.3%, Mỹ la
tinh giảm 1.5%, còn tốc độ thơng mại toàn cầu giảm đi 2.5% so với năm 1997.
Theo OECD, cuộc khủng hoảng châu á đã làm cho tăng trởng của các nớc công
nghiệp phát triển giảm 0.9%. Thậm chí nếu nh Trung quốc, Nhật bản, Brazin phá
giá đồng tiền của họ thì rất có thể xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính trên
phạm vi toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng đã gây thiệt hại cho châu á ít nhất là 300 tỷ USD, bằng
khoảng 20% GDP của các nớc bị khủng hoảng và làm thiệt hại chung cho toàn thế
giới khoảng 500 tỷ USD. Có tới 150 tỷ USD đầu t tài chính đã rút ra khỏi Đông
Nam á, các nhà đầu t nớc ngoài giảm sút niềm tin, FDI đổ vào châu á bị sụt giảm
mạnh và tiếp tục ở mức thấp trong một số năm tới.
Sự phá giá đồng bản tệ đã làm tăng các chi phí dịch vụ nợ và chất thêm gánh
nặng nợ nần lên vai các công ty làm tăng tình trạng mất khả năng thanh toán, phá
giá nhất là các công ty phục vụ thị trờng trong nớc mà nhu cầu đang giảm sút
nhanh chóng. Sự phá giá bản tệ ở những nớc có hàng hoá xuất nhập khẩu mà
12
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao sẽ làm tăng chi phí xuất khẩu, đẩy giá thành
lên cao, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng quốc tế.
Lạm phát gia tăng sẽ làm giảm mức sống thực tế của ngời làm công ăn lơng,
những căng thẳng và bất ổn về xã hội cũng vì thế mà tăng lên.
2.2 Tác động tích cực
Cuộc khủng hoảng hiện nay không chỉ hoàn toàn gây tác hại cho các nớc trong
khu vực mà ở một chừng mực nào đó, nó là điểm dừng để mở đầu cho một giai
đoạn phát triển mới đầy triển vọng, là cơ hội để các nền kinh tế ASEAN thực hành
trình điều chỉnh kinh tế rộng rãi, một phần nhờ sự chuẩn bị chu đáo hơn, thận trọng
hơn và thích hợp hơn của mỗi nớc, phần nữa nhờ sự xuất hiện của những cơ chế
thúc đẩy và giám sát mới mang tính khu vực, nhờ sự bổ sung chức năng của IMF và
các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế và khu vực, đồng thời đó cũng là kết quả của
sự hợp tác giữa các nớc khu vực trong nỗ lực vợt qua khủng hoảng.
3. một số biện pháp hạn chế và khắc phục khủng hoảng
3.1 Những biện pháp can thiệp của Chính phủ
a) Can thiệp thị trờng
Để duy trì tỷ giá, các nớc này ở những mức độ khác nhau đã sử dụng biện pháp
truyền thống là tung dự trữ ngoại tệ ra bán và thắt chặt tiền tệ. Các nớc này đã dùng
hàng chục tỷ USD dự trữ ngoại tệ để can thiệp thị trờng hỗ trợ đồng nội tệ, tạm
đình chỉ việc mua bán ngoại tệ không vì mục đích thơng mại nhằm ngăn chận việc
bán tháo đồng nội tệ để mua ngoại tệ mạnh. Một số nớc chủ trơng tạm đình chỉ thị
trờng chứng khoán khi giá cổ phiếu tụt quá thấp, yêu cầu các nhà kinh doanh ngoại
hối phải đăng ký, Nhà nớc ban hành quy chế quản lý chặt, cấm các công ty và ngân
hàng trong nớc đầu cơ, hợp tác với các cơ quan tiền tệ trong khu vực để kiểm soát
các luồng di chuyển ngoại tệ.
b) Cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng
Thái lan, Inđônêsia, Philippin đã lần lợt cải tổ mạnh mẽ hệ thống ngân hàng - tài
chính theo các hớng :
* Tiếp tục mở cữa và tự do hoá thị trờng tài chính để thu hút nguồn vốn trong nớc
và nớc ngoài, tăng cờng sự tham gia của khu vực t nhân.
* Chấn chỉnh lại hệ thống ngân hàng - tài chính bằng cách đóng cửa các ngân
hàng, công ty tài chính làm ăn thua lỗ. Thái lan đóng cửa 58 công ty tài chính kinh
doanh thua lỗ, tham nhũng và không đòi đợc nợ (trên tổng số 91 công ty). Trong
số đó, 18 công ty đã trình Uỷ ban kiểm tra các kế hoạch phối hợp nhằm phục hồi
hoạt động và 10 trong tổng số này đã có kế hoach hợp nhất. Inđônêsia cũng đã
đóng cửa 16 công ty tài chính, quy định các công ty tài chính phải trả nợ ngân
hàng, sáp nhập với nhau và đáp ứng mức dự trữ bắt buộc mới với 50% nguồn vốn
tối thiểu là tiền mặt. Hàn quốc cũng đang cơ cấu lại các ngân hàng thơng mại quốc
15
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
3.2 Những biện pháp từ các tổ chức quốc tế
Là những ngời ý thức rất rõ đợc mối liên kết chặt chẽ giữa thị trờng tài chính
các nớc trong khu vực trong tiến trình toàn cầu hoá, tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn
giữa các nền kinh tế, theo đó một sự đỗ vỡ ở bất kỳ nớc nào cũng đều mang tính
chất lan truyền, các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế nh IMF, WB, ADB đã rất tích
cực trợ giúp cho những mắt xích yếu nhất trong hệ thống.
a) Phản ứng của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
Sự sụp đổ của các hệ thống tài chính châu á là mắt xích cuối cùng trong loạt đỗ
vỡ tài chính nghiêm trọng. Mỗi nớc Thái lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippin, Hàn
quốc đều có những vấn đề riêng, chúng không hề giống nhau nhng đều có điểm cốt
lõi chung : các chính sách công cộng sai lầm đã khuyến khích những khoản vay nợ
khổng lồ cả ở trong và ngoài nớc, những bảo đảm công khai hay ngầm định đã làm
cho các nớc này ngộ nhận về mức độ rũi ro thấp và đã xảy ra đổ vỡ tài chính. Quỹ
tiền tệ quốc tế đã can thiệp vào các khu vực có vấn đề của châu á bằng cách cung
cấp các khoản tín dụng khoảng 17 tỷ USD, trong đó có 4 tỷ USD của Nhật bản giúp
cho các nhà vay nợ của Thái lan, cho Hàn quốc khoảng 57 tỷ USD và một số nớc
khác. Các khoản viện trợ cả gói có sự đóng góp của WB, ADB các nớc Australia,
Trung quốc, Hồng kông, Nhật bản, Singapore là nhằm hỗ trợ cho các chơng trình
đợc hoạch định tận gốc, nhằm khắc phục những nguồn gốc cũng nh hậu quả của
mất cân đối cơ cấu và triệt tiêu những mối đe dọa tiềm tàng mà chúng gây ra cho
hệ thống tiền tệ quốc tế.
b) Giải pháp của IMF
IMF đã cam kết viện trợ cả gói cho các nớc Hàn quốc 57 tỷ USD. Thái lan
17.3 tỷ USD và Inđônêsia 43 tỷ USD, đổi lại các nớc này phải chấp nhận một số
điều khoản tơng đối chặt chẻ của IMF :
- Cải cách chính sách tài chính - tiền tệ và ngoại hối nh chính sách tỷ giá tăng c-
ờng quản lý nợ, đặc biệt là nợ nớc ngoài, cải cách chính sách thuế và ngân sách, cắt
giảm chi tiêu của chính phủ, tăng thuế để hạn chế tiêu dùng và cân bằng ngân sách.
công ty lớn công bố tình hình tài chính và sẽ đợc kiểm soát một cách độc lập. Cơ
cấu lại hệ thống đảm bảo thanh toán chéo giữa các công ty con. Về thị trờng lao
động : Chính phủ sẽ thực hiện trợ cấp thất nghiệp và nâng cao tính năng động của
thị trờng lao động.
- Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạnh hoá hoạt động thơng mại, tiết kiệm
ngoại hối để nhanh chóng cân bằng cán cân vãng lai.
Ngoài một số giải pháp đợc coi là hơi cứng nhắc mà IMF đa ra ở trên thì còn
rất nhiều ý tởng, đề xuất tại các hội nghị thởng đỉnh APEC, hội nghị cấp cao
ASEAN, các cuộc gặp không chính thức đa phơng và song phơng giữa các nớc
trong khu vực nhằm góp phần giải quyết khủng hoảng ở từng quốc gia khác nhau
với những nguyên nhân và tính chất khủng hoảng khác nhau.
iii. Một số giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục ảnh hởng
tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới việt nam
17
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
1.Bối cảnh quốc tế và trong nớc
1.1 Bối cảnh chung
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á đã làm giảm tốc độ tăng trởng của
nền kinh tế thế giới trong năm 1998 là 0.8%, tức là chỉ tăng 3.5% thay vì 4.3% nh
đã dự đoán ban đầu trớc khi châu á lâm vào khủng hoảng. Theo IMF thì thiệt hại đó
to lớn nhng không đều, chịu hậu quả nặng nề nhất là những nơi đã xuất phát khủng
hoảng nh Thái lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippin. Các nớc này chỉ tăng trởng kinh
tế trung bình là 1,5% trong năm 1998. Tiếp sau là bốn nớc NICs : Singapo, Đài
loan, Hồng kông, Hàn quốc chỉ tăng trởng kinh tế trung bình 3,6% trong năm 1998
so với 6,2% trong năm 1997. Hàn quốc lẽ ra phải tuyên bố vỡ nợ nếu nh không đợc
sự tài trợ khẩn cấp của Nhật bản và Phơng tây.
Bị vạ lây còn có hầu hết các nớc Đông âu đang trong thời kỳ chuyển tiếp và các
quốc gia đang phát triển ở Nam Mỹ cũng nh ở châu phi ( các quốc gia này vốn đã
khó khăn lại càng khó khăn thêm). Trong nhóm G7 chỉ có Nhật bản là bị tác hại
nặng vì Nhật bản đả bỏ rất nhiều vốn vào các nớc láng giềng và phải chịu cải tổ nền
Mức lạm phát qua các năm thể hiện ở biểu đồ dới đây:
Biểu đồ mức lạm phát của Việt nam từ năm 1994-1998
Nguồn : Thời báo kinh tế số 18 năm 1999
Công nghiệp và dịch vụ luôn đạt đợc tốc độ tăng trởng cao ở mức hai con số trong
nhiều năm liền. Sự phát triển kinh tế đang đi đúng định hớng công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nớc theo đờng lối của đảng.
Đầu t nớc ngoài từ năm 1991 đến năm 1998 có số vốn đăng ký là 33.438 triệu
USD, vốn thực hiện là 12.204 triệu USD đạt 36,5% trên vốn đăng ký, đóng góp
19
14.4
12.7
4.5
3.5
9.2
0
5
10
15
Năm
1994
Năm
1995
Năm
1996
Năm
1997
Năm
1998
nguồn này đều đợc sử dụng kém hiệu quả. Ngoài ra tỷ lệ nợ nớc ngoài đã lên
khoảng 50% GDP, dự trữ ngoại tệ thấp, năm 1997 là 2.7 tỷ USD và năm 1998 là 2.8
tỷ. Tình trạng bội chi ngân sách kéo dài, công cụ thuế cha phát huy đợc hết hiệu lực
và hiệu quả đối với nền kinh tế, còn thất thu nhiều, đặc biệt là việc bao cấp cho một
số doanh nghiệp nhà nớc cha đợc giải quyết triệt để.
Chế độ tỷ giá ổn định kéo dài nhằm mục đích tạo ra môi trờng kinh tế vĩ mô ổn
định, thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Luồng vốn nớc ngoài đổ vào nhiều đã tạo nên sự
ổn định tỷ giá và tăng dự trữ ngoại tệ, tuy nhiên lại làm tăng tỷ giá thực của đồng
20
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
Việt nam làm hạn chế xuất khẩu, kích thích nhập khẩu, ảnh hởng xấu đến cán cân
thanh toán quốc tế.
Nợ nớc ngoài tăng lên khá nhanh, nó đã đáp ứng nhu cầu vốn đầu t cho nền kinh
tế, nhng về lâu dài gánh nặng nợ nớc ngoài cũng sẽ ảnh hởng không nhỏ đến cán
cân thanh toán và nhu cầu ngoại tệ để trả nợ dài hạn, nhất là các khoản vay nớc
ngoài sử dụng không có hiệu quả, thất thoát và đó sẽ là nhấn tố trực tiếp gây ra
khủng hoảng kinh tế.
Hệ thống ngân hàng - tài chính cha phát triển phù hợp, còn non yếu trong quản
lý, đặc biệt trong lĩnh vực thanh tra kiểm soát. Các ngân hàng còn lỏng lẻo trong
quản lý vốn, chất lợng tín dụng kém, thất thoát, nợ đọng, nợ quá hạn, nợ khó đòi
lớn Nói chung còn nhiều vấn đề bất cập và yếu kém trong việc quản lý và phát
huy hết hiệu lực của hệ thống ngân hàng - tài chính ở nớc ta.
Những điểm khác nhau
Thị trờng tài chính - tiền tệ của Việt nam mới ở giai đoạn sơ khai phát triển cha
đầy đủ để có thể hoà nhập với thị trờng tài chính khu vực. Thị trờng chứng khoán
cha hình thành, đồng tiền Việt nam là một đồng tiền cha chuyển đổi, các công cụ
tài chính nh cổ phiều, trái phiếu cha phát triển nên cha có đầu t gián tiếp hay các
luồng lu chuyển vốn ngắn hạn lớn cha có điều kiện phát triển, đầu t nớc ngoài vào
các giấy tờ có giá trong nớc vẫn còn bị kiểm soát chặt chẻ nên khả năng đầu cơ gây
bất lợi cho đồng Việt nam là rất hạn chế. Vì vậy, việc chuyển vốn ngắn hạn ra khỏi
chuyển nhợng hay mua bán ngoại tệ với khối lợng lớn nên không thể có đầu cơ
lũng đoạn, phá giá đồng tiền nớc ta từ bên ngoài đợc.
Tuy nhiên việc các đồng tiền trong khu vực mất giá sẽ có ảnh hởng xấu đến
đồng tiền Việt nam. Đồng tiền Việt nam đã lên giá so với các đồng tiền trong khu
vực (tăng khoảng 32% so với đồng Baht, 20.1% so với đồng Ringgit ) và nh vậy
hàng hoá nớc ta sẽ đắt lên tơng đối so với hàng hoá các nớc trong khu vực, gây khó
khăn cho xuất khẩu, làm xấu thêm các cân vãng lai vốn đang thâm hụt, gây sức ép
giảm giá đồng nội tệ.
2.2 Tác động đến xuất - nhập khẩu
a) Đối với đến xuất khẩu.
Châu á là thị trờng thơng mại lớn nhất của Việt nam hiện nay, năm 1998 nó
chiếm trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu ( trong đó ASEAN chiếm 20% ),
Singapo là thị trờng xuất khẩu lớn nhất của Việt nam trong khu vực, chiếm 2/3 kim
ngạch xuất khẩu vào ASEAN và 3/4 kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN. Nh vậy, ở
một chừng mực nào đó, luồng hàng xuất - nhập khẩu giữa Việt nam và ASEAN sẽ
ít ít chịu tác động của cuộc khủng hoảng do đồng Đôla Singapo ít bị mất giá so với
đồng USD, nền kinh tế Singapo đợc coi là vững vàng nhất trong khối ASEAN, Tuy
nhiên cùng với thời gian và sự lan rộng của cuộc khủng hoảng ra toàn khu vực châu
á, xuất khẩu của Việt nam sang ASEAN, châu á nói riêng và ra thị trờng thế giới
nói chung bị ảnh hởng là điều không tránh khỏi. Đó là sự thu hẹp sức mua của thị
trờng xuất khẩu do khủng hoảng tác động, do giá hàng hoá nhập khẩu vào các nớc
đó đắt lên tơng đối bởi đồng tiền của họ bị mất giá. Mặt hàng xuất khẩu của ta
phần lớn trùng với các nớc trong khu vực vì vậy cạnh tranh càng trở nên gay gắt
22
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
hơn, nhất là sau khi khủng hoảng đã tạo cho họ những lợi thế vì phá giá đồng tiền
nên có thể bán với giá thấp hơn hàng của ta 20-30% mà vẫn có lãi. Đồng tiền của
các nớc mất giá cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu tại chổ của
họ, đặc biệt là hoạt động kinh doanh du lịch, khách sạn. Nói tóm lại với sự đồng
loạt phá giá đồng tiền của các nớc trong khu vực đã gây cho chúng ta rất nhiều khó
23
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
33.438 triệu USD thì Nhật bản, NICs, ASEAN là những đối tác dẫn đầu chiếm
khoảng 69,8% dự án và 67,9% tổng giá trị đầu t đã ký kết. Nhng hầu hết các quốc
gia này đang có những vấn đề căng thẳng về tài chính do ảnh hởng nặng nề của
cuộc khủng hoảng ở các nớc đó. Do đó vốn FDI vào Việt nam giảm liên tục. Năm
1997 giảm 9,2% về số dự án và giảm 46% về số vốn đăng ký, năm 1998 giảm so
với năm 1997 là 25% về số dự án và 15% về vốn đăng ký và theo dự đoán thì nó sẽ
còn giảm trong một số năm tới.
Là một nớc trong khu vực, Việt nam không tránh khỏi tâm lý lo ngại chung của
các nhà đầu t nớc ngoài và họ sẽ thận trọng và dè dặt hơn, điều đó đã đợc thể hiện
qua số liệu của bảng thống kê trên. Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó, cuộc khủng
hoảng tiền tệ có thể tạo ra khả năng và cơ hội cho Việt nam trong việc thu hút vốn
đầu t nớc ngoài vì các nhà đầu t nớc ngoài giảm đầu t vào các nớc đang bị khủng
hoảng tiền tệ và chuyển sang nớc ít bị ảnh hởng của khủng hoảng hơn. Do đó nếu
nớc ta quyết tâm cải thiện mạnh môi trờng đầu t để môi trờng đầu t nớc ta thông
thoáng hơn, hấp dẫn hơn, cộng với những u thế là có môi trờng chính trị ổn định,
giá nhân công rẻ, lực lợng lao động dồi dào, thị trờng rộng lớn thì rất có thể Việt
nam vẫn là sự lựa chọn hàng đầu cho các nhà đầu t nớc ngoài.
2.4 Tác động đến ngân sách và đầu t trong nớc.
Khủng hoảng sẽ gây lúng túng cho các chủ đầu t khi chọn hớng đầu t sinh lời
mới và an toàn hơn, đồng thời khủng hoảng cũng sẽ làm gia tăng tình trạng thụ
động, kém sôi động trong giới kinh doanh trong nớc. Vốn kinh doanh sẽ đợc găm
giữ nhiều hơn, chuyển hoá thành vàng ngoại tệ nhiều hơn. Tiền gửi tiết kiệm có khả
năng chuyển sang các dạng tài sản khác an toàn hơn trớc sự đe doạ phá giá VND và
lạm phát dâng lên ( một lý do làm tăng tình trạng này là sự giảm sút lòng tin của
ngời gửi tiền vào độ an toàn của các ngân hàng trong nớc). Do đó đầu t sản xuất sẽ
thu hẹp đi đôi với sự gia tăng thất nghiệp trong nớc. Gánh nặng "nợ khó đòi"có xu
hớng gia tăng phổ biến. Thu ngân sách có khả năng sẽ giảm sút do tình trạng suy
giảm giá hàng xuất khẩu, khối lợng xuất khẩu và nhập khẩu; mặc dù có thể hy
nền kinh tế mà vẫn không làm mất đi các lợi thế cạnh tranh của Việt nam trên thị
trờng khu vực và thế giới. Sự điều hành tỷ giá có thể diễn ra theo hớng sau: Khi
đồng USD giảm giá so với các ngoại tệ mạnh khác thì ta thực thi chính sách ổn
định tỷ giá hoặc giảm giá đồng Việt nam, khi đồng USD lên giá so với các ngoại tệ
mạnh khác thì ta thực thi chính sách giảm giá đồng Việt nam tơng ứng, làm nh vậy
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đồng Việt nam xuất khẩu ra thị trờng nớc ngoài và
cạnh tranh đợc trên thị trờng thế giới.
* Ban hành qui chế quản lý ngoại hối mới thay cho điều lệ quản lý ngoại hối cũ
đã đợc thực hiện từ năm 1998 đến nay. Qui chế quản lý ngoại hối mới sẽ có những
thay đổi đáng kể so với qui chế cũ nhằm thực hiện hai mục tiêu của Chính phủ đề
ra là : tiến tới trên lãnh thổ Việt nam chỉ tiêu tiền Việt nam, đồng thời nới lỏng
kiểm soát đối với các giao dịch vãng lai để từng bớc biến đồng tiền Việt nam thành
đồng tiền chuyển đổi. Thực hiện qui chế quản lý ngoại hối mới sẽ góp phần chống
25