Toàn cầu hóa với thực tiễn tiến trình hội nhập sâu nền kinh tế quốc tế ở Việt nam và những vấn đề đặt ra- 2 - Pdf 21

Cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997 vừa qua cho thấy trong bối cảnh toàn cầu hoá, tự do
hoá, vấn đề quản lý, điều hành quá trình hội nhập càng được chú ý hoàn thiện hơn,
đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ là nơi dễ phát sinh những biến động và
những nhân tố gây mất ổn định kinh tế.
2. Về vấn đề cải cách chính sách và hệ thống kinh tế vĩ mô.
Đây là vấn đề nước nào cũng phải giải quyết nhất là đối với các nước mới bắt đầu
vào quá trình hội nhập và đang chuyển sang kinh tế thị trường.
Trong nội bộ các nước đều có cuộc đấu tranh gay gắt về chính sách giữa xu hướng
bảo hộ với xu hướng hội nhạap, giữa lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng,
giữa yêu cầu tăng nguồn thu ngân sách qua thuế nhập khẩu và xu hướng tự do hoá,
thuận lợi hoá mậu dịch.
Theo kinh nghiệm các nước, cuộc đấu tranh nội bộ thường khá gay gắt vì phải dàn
xếp các vấn đề thuộc lợi ích cục bộ và sự phối hợp giữa các ngành trong nước
thường rất khó khăn. Do đó để có được sự cải cách, điều chỉnh chính sách và các vấn
đề kinh tế vĩ mô như giá cả, thuế suất, tỷ giá hối đoái cũng cần phải có quyết tâm
chính trị.
Mỗi thể chế hội nhập đều có chương trình, mục tiêu riêng đòi hỏi các thành viên phải
điều chỉnh chính sách để thực hiện chúng. AFTA đề ra mục tiêu thực hiện thương
mại tự do vào năm 2003. WTO cũng có những thời biểu riêng thực hiện giảm thuế
quan và loại bỏ các biện pháp phi thuế quan
Phải triệt để tận dụng những ưu đãi tương tự mà các thể chế hội nhập quy định để có
thể từng bước điều chỉnh chính sách và các vấn đề kinh tế vĩ mô cho phù hợp và hiệu
quả, tránh gây khó khăn hoặc làm mất ổn định nền kinh tế.
Về phương tiện vĩ mô cần phải đảm bảo sự cân bằng hài hoà về 3 mối quan hệ: giữa
quyền lợi và nghĩa vụ của một nước trong các thể chế hội nhập; giữa mục tiêu kinh tế
- xã hội trong nước với những yêu cầu và đòi hỏi của bên ngoài; giữa các vấn đề kinh
tế và thương mại với các lĩnh vực khác để quá trình hội nhập diễn ra thuận lợi và
hiệu quả.
3. Về vấn đề cải cách luật lệ, quy chế.
Cải cách về luật pháp, quy chế, quy định đều được các nước, kể cả các nước phát
triển coi là một trong những lĩnh vực khó khăn, phức tạp và cần rất nhiều thời gian,

nước đều nhận thức rõ là thị trường trong nước rất hạn chế, do đó cần vươn ra thị
trường quốc tế, sản xuất các mặt hàng có nhu cầu lớn trên thị trường và phải tạo mọi
điều kiện để chiếm lĩnh thị trường, vì điều đó sẽ quyết định sự tồn tại của chính
mình.
5. Về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Mỗi nước đều tác động để mở cửa thị trường nước khác cho hàng hoá, dịch vụ và
đầu tư của mình, đồng thời chịu sức ép mở cửa thị trường nội địa. Điều này ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các nước thường gắn kết
chiến lược phát triển và bước đi của mình với các mục tiêu và lộ trình của các khuôn
khổ hợp tác kinh tế tay đôi, tiểu khu vực, liên châu lục và toàn cầu, sao cho các cam
kết, thoả thuận trong các khuôn khổ hợp tác đó hài hoà, không mâu thuẫn với nhau.
Xây dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp, năng động và hiệu quả nhất có thể, với khả
năng thích ứng cao và đứng vững trong cạnh tranh toàn cầu là vấn đề cốt yếu mà các
nước phải phấn đấu trong quá trình hội nhập.
Trong những cố gắng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các nước đều phải cân nhắc lựa
chọn những ngành mình có thế mạnh để mở cửa tham gia cạnh tranh , đồng thời xác
định những ngành và lĩnh vực cần tập trung củng cố để có thể cạnh tranh được trong
tương lai; đồng thời cũng thực hiện những biện pháp bảo hộ hợp pháp và tạm thời
đối với những ngành hiện chưa có khả năng cạnh tranh.
Đối với các nước do khu vực kinh tế Nhà nước tương đối lớn và đang chuyển sang
cơ chế kinh tế thị trường, quá trình hội nhập sẽ tác động mạnh đến các đơn vị kinh tế
quốc doanh, đặt nó trước những thách thức to lớn. Vấn đề ở đây là làm sao tăng
cường được nội lực và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước.
6. Về vấn đề đào tạo cán bộ.
Nội dung tham gia của các nước trong các thể chế hội nhập là rất phong phú, sâu
rộng và phức tạp, trong đó có những nội dung đã được các nước thương lượng hoặc
thực hiện hàng chục năm qua và cũng có nhiều vấn đề được đưa ra để thương lượng
trong thời gian tới. Mặt khác, những khác biệt trong cơ chế, chính sách, luật lệ, thực
tiễn kinh tế của phần lớn các nước so với luật pháp và thực tế quốc tế đòi hỏi các
nước phải giải quyết những công việc rất lớn. Vì vậy mà đào tạo đội ngũ cán bộ có

triển có thu nhập đầu người rất thấp, đang chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và
bước đầu hội nhập. Cần tận dụng mọi ưu đãi mà các thể chế hội nhập dành cho một
nước có trình độ phát triển và điều kiện tương tự như ta để đảm bảo sự an toàn và
những cơ hội cho phát triển kinh tế. Đồng thời dựa vào những yêu cầu và nội dung
hoạt động của các thể chế hội nhập cũng như luật háp và thực tiễn quốc tế để vươn
mạnh lên, rút ngắn dần khoảng cách về phát triển giữa nước ta với các nước khác.
chương ii: Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: Những vấn đề đặt ra
I. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
1. Yêu cầu hội nhập quốc tế.
Việt Nam chúng ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trùng với thời
điểm trên thế giới đang diễn ra những thay đổi to lớn về chính trị và kinh tế. Hoà
bình, hợp tác, phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc
gia trên thế giới. Các nước đều ưu tiên phát triển kinh tế, cần có môi trường hoà
bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa.
Không một quốc gia nào có thể phát triển trong một thế giới ngày càng được toàn
cầu hoá mà không lỗ lực hội nhập vào xu thế chung, điều chỉnh chính sách, giảm dần
hàng rào thuế quan và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá,
luân chuyển vốn, lao động, công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi thế giới ngày càng
thông thoáng hơn. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Vấn đề là phải hội nhập
như thế nào và tiến trình hội nhập ra sao cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện
phát triển của mình. Ngay từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng
đã khởi xướng công cuộc đổi mới mà quan trọng là mở rộng quan hệ và hợp tác quốc
tế. Đại hội VII (1992), đại hội (1990) tiếp tục đường lối đa dạng hoá, đa phương hoá
các mối quan hệ. Đại hội IX (2000) Đảng và Nhà nước càng nhấn mạnh tinh thần:
“Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế,
phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.
Chủ trương này đã tạo điều kiện thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của ta, đẩy
mạnh quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống
của cộng đồng quốc tế.
Chúng ta cũng nhận thức rõ hội nhập kinh tế quốc tế là việc một quốc gia thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status