Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, VT đã thực sự trở thành nhân tố tích cực trong phát triển
kinh tế xã hội của đất nước. Trong một khoảng thời gian ngắn nhiều doanh
nghiệp viễn thông ,mới ra đời đã tạo ra một môi trường cạnh tranh thực sự
trong lĩnh vực VT&CNTT đã tạo ra những nét khởi sắc trong ngành kinh tế
mũi nhọn này.
Khi hội nhập WTO, DN viễn thông VN có thêm cơ hội tiếp cận các
công nghệ tiên tiến, các kinh nghiệm quản lý kinh doanh trên thế giới và
được thử sức trên đấu trường quốc tế, một sân chơi rộng, bình đẳng hơn.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc các DN cũng phải chịu thêm sức ép
cạnh tranh khá lớn không chỉ giữa các DN viễn thông VN mà còn với các
tập đoàn viễn thông lớn trên thế giới. Khi đó, không chỉ phải cạnh tranh về
thị trường công nghệ và khách hàng mà cả giá cước, nguồn nhân lực… đặc
biệt là các chiêu thức kinh doanh – vấn đề hiệu quả đem lại và những vấn
đề về cơ cấu tổ chức, bộ máy. Do đó, ở bài đề án này tôi xin trình bày bài
nghiên cứu của mình với đề tài “Cam kết gia nhập WTO trong ngành Viễn
thông Việt Nam và những vấn đề đặt ra với ngành Viễn thông”.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
NỘI DUNG
1. Nội dung cam kết gia nhập WTO lĩnh vực viễn thông của Việt Nam
1.1.Quá trình đàm phán viễn thông của Việt Nam
a) Tại sao Việt Nam khó khăn trên bàn đàm phán
+) Nguyên nhân xuất phát từ đăc điểm của ngành viễn thông Việt
Nam
Đây là một trong những lĩnh vực kinh tế nhạy cảm và quan trọng nhất
và vì thế Chính phủ không muốn trao khu vực này vào tay công ty viễn
thông nước ngoài:
Thứ nhất, ngành viễn thông đã trở thành một bộ phận chủ chốt của cơ
sở hạ tầng của một quốc gia và là điều thiết yếu cho việc phát triển một xã
Đến giai đoạn cuối, khi hai bên có quyết tâm mới có những tiến triển, thay
đổi về bản chất.
Việt Nam đã có những nhân nhượng về mở cửa thị trường viễn thông
vì hiểu rằng không thể tách rời khỏi thế giới. Nội dung cam kết với Mỹ cụ
thể như thế nào chưa được rõ, nhưng ông Tâm khẳng định đã giữ sự chủ
động. Việc mở cửa thị trường đến đâu là sự chủ động của Việt Nam. Mặc
dù đã cam kết nhưng trên cơ sở xem xét lại tình hình mới, Việt Nam cũng
hoàn toàn mở cửa được nếu xét thấy việc đó đem lại lợi ích kinh tế.
b) Những thành công của Việt Nam trên bàn đàm phán
+) Mặc dù đàm phán BTA, gia nhập WTO có những khó khăn riêng
thì việc ký được BTA có thuận lợi nhiều cho việc đầm phán WTO, làm
thay đổi hẳn tư duy về quản lý và phá triển thị trường viễn thông, tạo niềm
tin về phát triển thị trường.
Nội dung của BTA về lĩnh vực viễn thông bao gồm:
- Các dịch vụ viễn thông trị giá gia tăng: Đối tác Mỹ được phép liên
doanh với Việt Nam để kinh doanh dịch vụ viễn thông sau hai năm kể từ
khi BTA có hiệu lực (năm 2001). Phần vốn góp của phía Mỹ không quá
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
50% vốn pháp định của liên doanh. Các xí nghiệp liên doanh không được
xây dựng mạng đường trục và mạng quốc tế riêng mà thuê từ DN Việt
Nam.
- Các dịch vụ viễn thông cơ bản, đối tác Mỹ được phép liên doanh với
Việt Nam để kinh doanh dịch vụ viễn thông sau 4 năm kể từ khi BTA có
hiệu lực. Phần góp vốn của phía Mỹ không quá 49% vốn pháp định của liên
doanh.
- Dịch vụ điện thoại cố định (nội hạt, đường dài, quốc tế): được phép
liên doanh sau 6 năm, vốn góp không quá 49%.
+) Cho đến thời điểm này, có thể khẳng định rằng, các nhà đàm phán
của chúng ta đã làm hết sức mình và đã thành công trong việc đạt được
(như dịch vụ điện thoại cố định và di động, truyền số liệu, thuê kênh
riêng,....), bên nước ngoài chỉ được phép đầu tư dưới hình thức liên doanh
với nhà khai thác Việt nam đã được cấp phép, vốn góp tối đa là 49% vốn
pháp định của liên doanh.Trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông
không có hạ tầng mạng (nhà cung cấp dịch vụ không sở hữu dung lượng
truyền dẫn mà phải thuê lại của các nhà cung cấp có hạ tầng mạng): trong
ba năm đầu sau khi gia nhập WTO, bên nước ngoài chỉ được phép đầu tư
dưới hình thức liên doanh với nhà khai thác Việt nam đã được cấp phép,
vốn góp tối đa là 51% vốn pháp định của liên doanh.
Ba năm sau khi gia nhập, bên nước ngoài mới được phép tự do lựa
chọn đối tác khi thành lập liên doanh và được phép nâng mức vốn góp lên
mức 65%. Riêng đối với dịch vụ mạng riêng ảo VPN và dịch vụ viễn thông
gia tăng giá trị (thư điện tử, truy nhập Internet...) bán kèm mà một số đối
tác lớn có mối quan tâm đặc biệt, được cung cấp trên hạ tầng mạng do VN
kiểm soát, ta có nhân nhượng hơn một chút: được tự do lựa chọn đối
ở mức 70% vốn pháp định của liên doanh.
Về cung cấp dịch vụ viễn thông qua biên giới (dịch vụ viên thông
quốc tế): Đối với dịch vụ hữu tuyến và di động mặt đất, nhà cung cấp dịch
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vụ viễn thông ở nước ngoài phải thông qua thoả thuận thương mại với pháp
nhân được thành lập tại VN và được cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông
quốc tế tại Việt Nam để tiếp cận khách hàng tại VN.
Đối với dịch vụ vệ tinh, VN cam kết ba năm sau khi gia nhập sẽ mở
rộng loại đối tượng, chủ yếu là các công ty đa quốc gia hoạt động tại VN,
nếu thoả mãn điều kiện cấp phép, có thể được cấp phép sử dụng trực tiếp
dịch vụ vệ tinh của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
VN cũng cam kết cho phép bên nước ngoài được kết nối dung lượng
cáp quang biển (dung lượng toàn chủ) của các tuyến cáp quang biển mà
VN là thành viên, với các trạm cập bờ của VN và bán dung lượng truyền
quốc tế được cấp phép (Như FPT, VNPT, Viettel, EVN telecom).
Theo đó thì những cam kết có hiệu lực ngay:
Trước hết là nội dung cam kết thành lập các liên doanh tối đa 49%
vốn nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông cơ bản có hạ tầng mạng
(cả mạng riêng ảo).
Theo nội dung dung cam kết này, việc thành lập các liên doanh tối đa
49% vốn nước ngoài sẽ được áp dụng ngay trong 2 lĩnh vực: thiết lập hạ
tầng mạng viễn thông, truyền dẫn phát sóng cung cấp dịch vụ viễn thông và
Internet thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện áp dụng cho nhà đầu
tư nước ngoài theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ; dịch vụ
thiết lập mạng và cung cấp các dịch vụ viễn thông thuộc danh mục dịch vụ
kinh doanh có điều kiện theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh
(BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức
hiển diện khác với điều kiện không kém thuận lợi hơn điều kiện họ đang
được hưởng.
Trong đó, việc thành lập liên doanh 51% vốn nước ngoài trong dịch
vụ chuyển phát thư sẽ áp dụng ngay đối với: dịch vụ chuyển phát thư trong
và ngoài nước thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện
theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP của Chính phủ; hoạt động cung cấp dịch
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vụ chuyển phát thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện áp dụng cho
nhà đầu tư nước ngoài theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Riêng dịch vụ viễn thông vệ tinh, thuộc nhóm các dịch vụ viễn thông cơ
bản và dịch vụ giá trị gia tăng, nay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các
dịch vụ cung cấp cho các khách hàng kinh doanh ngoài biển, các Cơ quan
chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng, các nhà phát thanh
và truyền hình quảng bá, các văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế
chính thức, các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự, các khu phát triển
Trong 10 năm gần đây Việt Nam với cơ chế cạnh tranh tư do đã thu
hút một lượng lớn đầu tư nước ngoài, giữ vững mức tăng trưởng ổn định
7.5%và được chí ý như là một trung tâm kinh tế đầy tiềm năng trong khu
vực Đông Nam Á. Đặc biệt, được bắt đầu từ năm 1993 với sự ra đời của
VNphone, thị trường viễn thông di động (VTDD)của Việt Nam đã và đang
có sự tăng trưởng đột biến:trong 3 năm liền từ 2003 đạt mức tăng trưởng
trung bình 40%, đứng thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ.
Theo số lượng thống kê cuối năm 2005, số người đăng ký điện thoại
di động (ĐTDD) ở Việt Nam mới chỉ có 780 vạn người, chiếm chưa đến
10% dân số (8200 vạn người). Rõ rang đây là một thị trường còn đầy tiềm
năng và hứa hẹn sẽ phát triển
Hiện trạng thị trường VTDD Việt Nam
Cấu trúc thị trường
Việt Nam đang hiện có 6 nhà cung cấp dịch vụ ĐTD (Fig. 1 & Fig. 2).
GPC, VMS, SPT và Viettel đã cung cấp dịch vụ từ một vài năm trước,
trong khi hai công ty còn lại Hanoi-telecom và EVN-telecom mới nhận
được giấy phép hoạt động và bắt đầu cung cấp dịch vụ từ đầu năm 2006.
Các nhà cung cấp dịch vụ di động Việt Nam
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Bảng 1: Các nhà cung cấp dịch vụ di động Việt Nam
(Theo tạp chí Bưu chính Viễn thông)
Provider Brand name
Netword
Frequency
Cooperator
Vietnam Telecom
Services(GPC)
Vinaphone
(Year 1996) GMS 900MHz
Telecommunication
ons company
(Hanoi-Telecom)
Cityphone (Year
2003)
PSH 1900MHZ
Lucent
Technologes ZTE
(China)
Hanoi Telecom
(Year 2006)
CDMA450MHZ
Thong tin vien
thong Dien luc
(EVN-Telecom)
VP Telecom
(Year 2006)
CDMA450MHZ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368