Phần I: MỞ ĐẦU
Quá trình quốc tế hóa đang phát triển manh mẽ ở các châu lục, các khu vực trên thế
giới, với sự tham gia ngày càng rộng rãi của nhiều quốc gia. Những lợi ích to lớn của hội nhập
kinh tế mang lại cho mỗi quốc gia là rất rõ ràng và không thể phủ nhận. Vấn đề đặt ra là hội
nhập kinh tế quốc tế với những bước đi như thế nào để mang lại lợi ích tối đa với một mức giá
tối thiểu.
Sự hội nhập tất yếu của nước ta vào hợp tác khu vực (đặc biệt kể từ khi ra nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO) và quốc tế cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức to lớn cho nền kinh
tế. Một trong những bước của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là xây dựng nền kinh tế
hướng về xuất khẩu, tiến hành tự do hóa thương mại và tham gia vào các định chế liên kết
khu vực và toàn cầu.
Những năm gần đây, thị trường Việt Nam được chứng kiến nhiều thành công phát triển
rực rỡ của các sản phẩm trong nước và việc đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu nhiều loại hàng hóa
như: dầu thô, dệt may, nông sản, thủy hải sản, giày da, thủ công mỹ nghệ… sang thị trường
Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước Châu Âu,… đã đem lại những giá trị kinh tế to lớn. Một trong
những mặt hàng xuất khẩu mang lại những đóng góp rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu chính
là mặt hàng dệt may. Ngành dệt may Việt Nam ra đời từ năm 1958, cùng với xu thế hội nhập
của nền kinh tế quốc tế, ngành dệt may Việt Nam đã nhanh chóng tìm ra và khẳng định được
những ưu thế của mình trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc cho thị trường thế
giới và đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Chiến lược phát triển
ngành dệt may Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường thế giới có vai trò vô cùng quan
trọng đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như trong
tương lai. Mặt khác, mặt hàng dệt may là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực đem lại
nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, giúp cân bằng cán cân
thanh toán, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần thúc đẩy các ngành
sản xuất khác trong nước phát triển…góp phần quan trọng trong việc tạo sự phát triển và ổn
định kinh tế - chính trị - xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, việc xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam cũng gặp nhiều
khó khăn do nhiều nguyên nhân như: bị cạnh tranh quyết liệt bởi hàng dệt may của các nước
khác mà đặc biệt là của Trung quốc, do chất lượng, mẫu mã…Là một trong những doanh
nghiệp hàng đầu trong ngành may mặc Việt Nam cũng như trong khu vực trong lĩnh vực xuất
Tên giao dịch quốc tế : GARMENT 10
CORPORATION - JOINT STOCK COMPANY
Trụ sở chính : Phường Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội.
Văn phòng giao dịch: 103 Trần Huy Liệu, phường 12, quận Phú Nhuận. TP Hồ Chí
Minh.
2
Điện thoại: (84)(04)38276923 - (84)(04)38276396.
Fax: (84)(04)38276925.
Email:
Website: http:// www.garco10.com.vn.
Một số giai đoạn phát triển của Công ty
Tiền thân của Tổng Công ty Cổ phần May 10 ngày nay là các xưởng may quân trang được
thành lập ở các chiến khu trong toàn quốc, và được tổ chức từ năm 1946, phục vụ bộ đội
chống Pháp tại các chiến trường Việt Bắc, khu 4, khu 3 và Nam Bộ.
Từ năm 1947 đến năn 1949, việc may quân trang không chỉ được tiến hành ở các chiến
khu mà còn được tiến hành ở nhiều nơi khác như: Nho Quan- Ninh Bình, Hà Đông, Thái Bình,
Thanh Hoá, Quảng Ngãi…Để đảm bảo bí mật, các cơ sở sản xuất đều được đạt tên theo bí số
của quân đội như: X1, X30,AK1, AM1, CK1, BK1…Các đơn vị này chính là tiền thân của
xưởng May 10 hợp nhất sau này.
Năm 1952, xưởng may X1 ở Việt Bắc được đổi tên thành xưởng May 10 mang bí số X10.
Năm 1956, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, xưởng may X40 (Thanh hoá) và những
đồng chí thợ may của ngành quân nhu ở Nam Bộ và Chiến khu 5 Việt Bắc được lệnh chuyển
ra Hà nội sát nhập với xưởng May 10 lấy tên là xưởng May 10 đặt tại Hội Xá thuộc Bắc Ninh
cũ nay là Phường Sài Đồng – Quận Long Biên – Hà Nội với diện tích 20ha. Xưởng May 10
được xây dựng với 546 cán bộ công nhân viên chuyên may quân phục quân đội .
Tháng 2 năm 1961, Cục Quân Nhu - Tổng Cục Hậu cần tiến hành bàn giao xưởng May 10
cho Bộ Công Nghiệp Nhẹ quản lý và đổi tên thành Xí nghiệp May 10.
Năm 1975, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động sản xuất của công ty. Công ty chuyển
dần sang sản xuất các mặt hàng phục vụ dân dụng và xuất khẩu ra nước ngoài với thị trường
chủ yếu là Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu.
Mặt hàng áo sơ mi nam là mặt hàng mà công ty có nhiều kinh nghiêm sản xuất nhất và
được nhiều thị trường xuất khẩu tin dùng. Bên cạnh đó, công ty ngày càng mở rộng sản xuất
những sản phẩm có giá trị cao hơn và yêu cầu kỹ thuật phức tạp hơn như bộ complete và áo
vest.
Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của những đơn đặt hàng gia công của phía đối tác nước ngoài
công ty cũng sản xuất thêm một số mặt hàng khác như váy, áo phông, áo jilê…
Áo sơ mi.
Áo sơ mi là mặt hàng truyền thống và có nhiều lợi thế của công ty, gồm cả sơmi nam và
sơmi nữ.
Sơmi nam:Tên Sản Phẩm: Phanraon classic-kd2, Mã Sản Phẩm:
Pharaon class-kd2, Giá Sản Phẩm: 160.000 đồng, chi tiết sản phẩm:
Vải kẻ dọc, cộc tay, cổ hơi ngang, bản cổ to.
4
Sơmi nữ: Tên Sản Phẩm: cleopatre, Mã Sản Phẩm: cleopatre-237/09, Giá Sản Phẩm:
259.000 đồng , Chi Tiết Sản Phẩm: Sơ mi nữ dài tay, vải kẻ màu đen. Hai túi ngực có nắp, nẹp
thân trái phối vải đen,chiết thân trước và thân sau. cổ đức có chân. Tổng Công ty đã có uy tín
trong sản xuất các loại áo sơmi nam các chất cotton. Mặt hàng áo sơ mi vẫn luôn là một trong
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty trong những năm qua giá trị xuất khẩu trung
bình hàng năm lên đến hơn 60.000 nghìn USD chiếm hơn 65% giá trị các mặt hàng xuất khẩu
của công ty. Mỹ là thị trường nhập khẩu mặt hàng này lớn nhất với 50% giá trị xuất khẩu.
Quần âu
Mặt hàng quần âu hiện đang là một trong những mặt hàng có mức tiêu thụ khá tốt.
xuất khẩu mặt hàng này. Loại sản phẩm này bao gồm:
- Quần âu nam. Tên Sản Phẩm: Q.âu nam-pharaon, Mã Sản Phẩm: PHARAON- ts2, Giá
Sản Phẩm: 249.000 đồng. Chi Tiết Sản Phẩm: quần âu cổ điển nam cao cấp: 1 ly, thân trước
có hai túi chéo, hai túi hậu bổ cơi. kiểu dáng trẻ trung, sang trọng.chất liệu: 50% polyester;
50% wool.lót cạp có sợi cao su giúp người mặc khi cho áo trong quần mà cử động mạnh vẫn
giữ được nếp áo.
- Quần âu nữ. Tên Sản Phẩm: Q.âu nữ, Mã Sản Phẩm: 185/08, Giá Sản Phẩm:
đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật, tay nghề cao.
Mặt hàng bộ complete có sự tăng trưởng mạnh mẽ do sự tăng trưởng trở lại của thị
trường Nhật Bản với giá trị xuất khẩu năm 2009 lên đến 10.668 nghìn USD, tăng gần 40% so
với năm 2005.
Trong tương lai, công ty nên tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm này để tăng cường khả
năng tiêu thụ trên thị trường Nhật bản. Vì đây là một mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao nên việc
tăng cường kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ đem lại cho công ty một khoản lợi nhuận lớn và
ổn định.
II. Giới thiệu về thị trường hàng dệt may ở Nhật Bản và lý do chọn thị trường Nhật Bản.
2.1 Thông tin về thị trường Nhật Bản
2.1.1 Môi trường tự nhiên
Vị trí: Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do
bốn quần đảo độc lập hợp thành. Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần
đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara. Những
quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng
biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo
Bắc Mariana. Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển. Nhật Bản không tiếp
giáp quốc gia hãy lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo
Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km.
Tổng diện tích: Trên đất liền: 377906,97 km², rông thứ 60 trên thế giới. Lãnh hải:
3091 km².
Tự nhiên: Theo lý thuyết đĩa lục địa (plate tectonics), Nhật Bản nằm trên chỗ tiếp
xúc giữa 4 đĩa lục địa là Á-Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và biển Philippines. Các quần đảo
6
của Nhật Bản hình thành do vài đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu
năm. Xét về mặt địa chất học, như vây là rất trẻ.
Chính vì vậy, Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên khiến cho nó nổi tiếng thế giới đó
là nhiều núi lửa, lắm động đất.
Địa hình: Địa hình núi chiếm 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản. Số lượng sông
suối nhiều, nhưng độ dài của sông không lớn. Ven biển có những bình nguyên nhỏ hẹp là nơi
số nước phương Tây khác sau này. Theo hệ thống pháp luật thế giới hiện hành, Nhật Bản được
xếp vào các nước có nền dân chủ đầy đủ (ưu việt nhất).
Quốc hội Nhật Bản là cơ quan lập pháp cao cấp nhất, gồm có Hạ viện với 512 ghế và
Thượng viện với 252 ghế. Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6
vị tùy theo dân số. Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm, mỗi 3 năm được bầu lại một nửa.
2.1.3 Môi trường văn hóa xã hội
Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Người dân không có
nguồn gốc Nhật chỉ chiếm hơn 1% tổng dân số vào năm 1993. Do sống biệt lập với các quốc
gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ mở cửa vào năm 1868, Nhật Bản đã có
các nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế và văn hóa trong đó gia đình đã giữ
một vai trò trọng yếu. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình
gồm ba thế hệ. Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt khe theo đó người cha
được kính trọng và có uy quyền. Người phụ nữ khi về nhà chồng phải tuân phục chồng và cha
mẹ chồng nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều
quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống và đặc tính phụ quyền của gia
đình đã bị bãi bỏ. Phụ nữ Nhật đã tham gia vào xã hội và chiếm 40,6% tổng số lực lượng lao
động của năm 1990.
Xã hội Nhật Bản có các nét đặc biệt về giao thiệp. Người Nhật thường cúi chào bằng
cách gập người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người. Đây là một dấu
hiệu quan trọng để tỏ lộ sự kính trọng. Một nét phong tục khác là việc trao đổi danh thiếp. Mỗi
lần giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay
là một cử chỉ lễ độ. Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó. Trong việc
giao thiệp, người Nhật thường không thích sự trực tiếp và việc trung gian đóng một vai trò
quan trọng trong cách giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn.
Văn hóa trời trang ở Nhật Bản
Tình hình xuất nhập khẩu hàng may mặc của các công ty sản xuất kinh doanh may
mặc Nhật Bản đã phát triển theo hai xu hướng chính
:
- Xu hướng thứ nhất: ngày nay người tiêu dùng các sản phẩm may mặc đang tìm
kiếm các loại hàng không đắt tiền.
hàng có cách đIệu chuẩn cộng thêm các chi tiết hoặc các
chất liêụ mới. Ví dụ, quần chum/váy và áo vét/jacket nilon vẫn có thể bán chạy trong năm
20111 này.
Khi thực hiện hợp đồng với đối tác Nhật Bản,công ty phải tránh những sai phạm tối
kỵ như giao hàng không chuẩn màu sắc, sai kích cỡ, không đủ số lượng hoặc giao chậm.
Các nhà nhập khẩu Nhật Bản sẽ không chấp nhận các lỗi này, nên nếu công ty mắc phải sai
phạm này sẽ tổn hại đến hai bên.
Tóm lại, người tiêu dùng Nhật Bản luôn tìm kiếm những hàng hoá chất
l
ượng tốt và
với gía cả hợp lý.
2.2 Giới thiệu về thị trường hàng dệt may ở Nhật Bản
Những số liệu khả quan trên có được một phần là do Nhật Bản lo ngại rằng nước này
quá phụ thuộc vào hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Nhiều nhà nhập khẩu Nhật Bản đang nhập
9
hàng từ Trung Quốc có xu hướng chuyển sang nhập từ Việt Nam để tận dụng lợi thế thuế nhập
khẩu thấp hơn theo Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Đây là một tín hiệu tốt
cho các nhà cung cấp hàng may mặc của Việt Nam.
Thị trường Nhật Bản, một thị trường khó tính nhưng đầy hấp dẫn
Thị trường Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ 3 của Việt
Nam, chiếm 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam, chỉ đứng sau thị trường
Mỹ và thị trường EU. Tuy nhiên nếu với thị trường EU và thị trường Mỹ hàng dệt may xuất
khẩu của Việt Nam bị hạn chế bởi hạn ngạch thì khi chóng ta xuất khẩu hàng dệt may sang
Nhật Bản lại không phải chịu hạn ngạch. Như vậy, có thể khẳng định rằng Nhật Bản là thị
trường nhập khẩu hàng dệt may phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam cho đến thời điểm hiện
tại. Vậy thị trường Nhật Bản có những đặc điểm gì ?
Xu hướng tiêu dùng
Nhật Bản là một thị trường mở, có quy mô tương đối lớn đối với các nhà xuất khẩu hàng
may mặc nước ngoài. Với số dân là 126,9 triệu người và mức thu nhập bình quân hàng năm
vào khoảng 30.039 USD/người, Nhật Bản là nước nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ hai trên
Trong 5- 10 năm qua việc chuyển hoạt động sản xuất hàng dệt may ra nước ngoài đã phát
triển rất nhanh mà điểm đến thường là những nước đang phát triển rất gần với Nhật Bản. Đầu
tiên là sự chuyển dịch sang Hàn Quốc và Đài Loan. Tiếp đó là thị trường Trung Quốc và thị
trường Inđônêxia, hai trong số nhiều nước thuộc khu vực Đông á và Đông Nam á với nguồn
nguyên liệu dồi dào, nguồn lao động phong phú, giá tương đối rẻ. Hiện nay Trung Quốc được
xem là một "cơ sở" sản xuất lớn và là nguồn nhập khẩu quan trọng của Nhật Bản.
Hiện tại mức sản xuất trong nước của Nhật Bản chỉ chiếm trờn dưới 30% tổng lượng
tiêu thụ hàng dệt may của thị trường nội địa.
Nhu cầu nhập khẩu
Với mức tự cung đảm bảo chỉ đáp ứng được khoảng 30% tổng mức tiêu thụ hàng dệt may
trên thị trường nội địa nên kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản thường rất lớn cả về mặt giá trị
và khối lượng, chiếm xấp xỉ 70% tổng cầu của thị trường đối với cả hai loại là hàng dệt kim và
hàng dệt thoi.
Với nhu cầu nhập khẩu ngày càng cao của Nhật, ngành dệt may nước ta đã có cơ hội nâng
kim ngạch 11 tháng đầu năm 2010 lên 33,8 triệu USD, chiếm 12% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng, tăng 10,55% so với cùng kỳ năm 2009.
11
2.3 Lý do chọn thị trường Nhật trong thời điểm đang “tái thiết” đất nước
Hiện nay Nhật Bản là thị trường hàng may mặc lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, tổng
giá trị buôn bán hàng may mặc trong năm 2009 là 35,63 tỷ USD, trong đó hàng may mặc nữ
chiếm khoảng 55%, hàng may mặc cho nam giới chiếm khoảng 32% và cho trẻ em chiếm
khoảng 12%
Thị trường Nhật Bản mở cửa đối với hàng may mặc, kim nghạch nhập khẩu đã chiếm
tỷ trọng khoảng 38% tổng khối lượng thị trường hàng may mặc nước này. tuy nhiên, các
nhà nhập khẩu hàng may mặc.
Do thiếu lao động và do chi phí nhân công cao, nhiều nhà sản xuất hàng may mặc
Nhật Bản đã chuyển ra nước ngoài sản xuất. Do vậy, sản xuất hàng may mặc nội địa ở Nhật
Bản đã, đang và sẽ giảm.
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng dệt may phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam
cho đến thời điểm hiện tại. Trước khi biến động thiên tai xảy ra, các nhà đầu tư Nhật có xu
tạo được một thương hiệu trong lòng khách hàng về chất lượng quần áo. Những DN sản xuất
hàng cấp trung như Ninomaxx, PT2000 hay Blue Exchange, Việt Thy…Các DN sản xuất hàng
cấp trung này chiếm khoảng 60% thị phần, 40% còn lại chia đều cho hàng giá rẻ và hàng cấp
trung cao của các nhà thiết kế trẻ. Mặc dù được đánh giá chiếm đến 60% thị phần nhưng phân
khúc thị trường thời trang cấp trung vẫn là khu vực tập trung nhiều sự cạnh tranh nhất.
3.1.2 Đối thủ nước ngoài
Trung Quốc
Trung Quốc được xem là nhà cung cấp hàng dệt may lớn nhất của Nhật Bản trên hai thị
trường: thị trường đại chúng và thị trường hàng hoá cấp trung. Theo thống kê xuất nhập khẩu
hàng dệt may, Bộ Tài chính Nhật Bản cho biết có tới 79,6% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt
kim và 80,4% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt thoi năm 2001 của Nhật Bản là do Trung Quốc
cung cấp. Nếu xét về lượng nhập khẩu thì Trung Quốc cũng chiếm thị phần lớn hơn với hàng
13
dệt kim là 87,7% và hàng dệt thoi là 89,9%. Như vậy Trung Quốc đó chiếm ưu thế tuyệt đối
với cả hai nhóm hàng dệt thoi và dệt kim.
Trung Quốc luôn chiếm ưu thế trên thị trường đại chúng với những mặt hàng bình dân
và thị trường sản phẩm cấp trung bởi nguồn nguyên phế liệu trong nước phong phú, lực lượng
lao động dồi dào, mức lương không cao. Chính vì vậy mức giá hàng hoá Trung Quốc đưa ra
luôn có sức cạnh tranh lớn trên thị trường Nhật Bản. Đó là những thuận lợi khiến Trung Quốc
chiếm thế thượng phong với hầu hết các mặt hàng trên hai thị trường kể trên. Trong những
năm vừa qua, với việc gia tăng hoạt động gia công xuất khẩu, Trung Quốc càng tạo được cho
mình một chỗ đứng vững chắc tại thị trường Nhật Bản.
Hàn Quốc
Do vị trí địa lý gần kề Nhật Bản nên Hàn Quốc có được những ưu thế về vận tải hơn
các nước khác. Điều đó đó tạo cho Hàn Quốc những lợi thế nhất định. Tuy nhiên với sự tăng
giá của đồngWon thời gian gần đây và giá nhân công cao đó làm khả năng cạnh tranh cuả
hàng dệt may Hàn Quốc giảm đáng kể nhất là những mặt hàng dành cho thị trường đại chúng.
Vì thế, hiện nay Hàn Quốc chủ yếu tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cấp trung
hơn là những mặt hàng bình dân như trước kia.
EU
Bên cạnh những ưu điểm mà sản phẩm may đo có được thì nó còn có những nhược điểm dễ
nhận thấy như:
+ Thời gian từ lúc khách hàng đặt may sản phẩm đến lúc có đựơc sản phẩm trong tay thường
rất lâu (khoảng 1tuần trở lên).
+ Khi nhận sản phấm lại thì xác suất của việc không hài lòng và phải sửa chữa lại là rất lớn.
+ Những nơi hoạt động của quá trình may đo thường diễn ra tại cửa hàng (quy mô nhỏ hoặc
lớn), đôi khi không thể đáp ứng được đủ nhu cầu của khách hàng hoặc không quảng bá được
hình ảnh của mình đến người tiêu dùng.
Những hạn chế này khiến cho khách hàng đến với sản phẩm may đo không nhiều và không
thường xuyên. Thị phần của sản phẩm may đo thường bó hạn trong một số nhóm đối tượng
như giới công chức, những người làm việc liên quan đến công chúng, một số nhỏ những đối
tượng không có cỡ phù hợp với sản phẩm may sẵn.
Với những phân tích sơ qua như trên chúng ta thấy rằng sản phẩm may đo đúng là sản
phẩm thay thế của sản phẩm may sẵn nhưng áp lực mà nó gây ra cho sản phẩm may sẵn là
không quá lớn. Sản phẩm may đo tồn tại cùng với sản phẩm may sẵn và cũng có những lượng
khách hàng riêng cho mình nhưng điều đó không gây ra những cản trở mạnh mẽ đến việc xâm
nhập và tấn công thị trường tiêu dùng của sản phẩm may sẵn.
IV. Phân tích SWOT
Các điểm mạnh Các điểm yếu
15
-Có nhiều mạng lưới phân
phối rộng rãi
-Có vị thế, thương hiệu trên
thị trường
-Tài chính ổn định
-Nguồn nhân lực giàu kinh
nghiệm
-Có môi trường văn hoá
doanh nghiệp mạnh
-Đội ngũ thiết kế chuyên
vẫn yếu
Các cơ hội
Ngành dệt may Việt Nam là thành
viên của SAFSA (chuỗi cung ứng
dệt may ASEAN được hình thành
trên cơ sở liên kết các nhà máy dệt
và nhà máy may của khu vực
thành một nhóm để nâng cao chất
lượng và uy tín các sản phẩm của
ngành dệt may toàn khu vực khi
gia nhập vào thị trường dệt may
Chiến lược : điểm mạnh cơ
hội
-Chiến lược thâm nhập thị
trường: Thiết lập mạng lưới
đại lý phủ kín 63 tỉnh thành
phố trong cả nước.
-Chiến lược phát triển thị
trường: Mở rộng thị trường
xuất khẩu sang Nhật
Chiến lược
điểm yếu_cơ
hội
-Chiến lược
tích hợp về
phía trước: Ra
sức tìm kiếm
và khai thác
nguồn cung
cấp nguyên
Bigman, New
Arrival, MM-
Teen,
Thách thức
-Sự khủng hoảng kinh tế thế giới,
tỷ lệ lạm phát cao
-Luật pháp Quốc tế đòi hỏi rất
nghiêm ngặt về chất lượng và độ
an toàn của sản phẩm
-Cước phí dịch vụ của Việt Nam
quá cao
-Hàng hoá từ nước ngoài tràn vào
nhất là hàng Trung Quốc
-Nhiều đối thủ cạnh tranh trong
nước có thế mạnh như Việt Tiến,
Vinatex….
-Sản phẩm của May 10 bị làm giả,
làm nhái.
- Nước Nhật đang phải gánh chịu
Chiến lược: điểm
mạnh_thách thức
-Tiến hành dán “Tem chống
hàng giả” vào thẻ bài và đưa
“Sợi chống hàng giả” vào
nhãn dệt chính của sản phẩm
-Chiến lược liên minh, liên
kết: Hợp tác sản xuất với
nhiều tên tuổi lớn của ngành
may mặc thời trang có uy tín
trên thị trường thế giới như:
xưởng. Nhờ những việc làm này mà hàng hoá của công ty được khách hàng Nhật Bản rất tín
nhiệm với số lượng hàng xuất khẩu ngày càng tăng. Chỉ có đảm bảo tạo ra sản phẩm có chất
lượng cao thì mới tạo ra được uy tín vững chắc, uy tín thực sự là sức mạnh cạnh tranh lâu bền
cho sản phẩm của doanh nghiệp.
Kiểu dáng mẫu mã hàng hoá bao giờ cũng rất được coi trọng và nó cũng là một trong
những tiêu chuẩn đầu tiên của khách hàng khi quyết định mua hàng. Trong hoạt động xuất
khẩu việc làm này còn gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa vì chúng ta và những người nhập khẩu
Nhật Bản có những phong tục tập quán khác nhau và do đó có cảm nhận về cái đẹp trong ăn
mặc cũng khác nhau. Vì lẽ đó mà tổng công ty phải rất chú trọng trong việc tìm hiểu thị hiếu
của người tiêu dùng Nhật Bản thông qua các loại sách báo , tạp chí về thời trang và lối sống,
thông qua những người nhập khẩu Nhật Bản …Từ đây tổng công ty sẽ đưa ra các mẫu mốt để
chào hàng và thăm dò ý kiến của họ.
Tuy nhiên, thảm họa sóng thần xảy ra có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, đến chi tiêu
của người tiêu dùng Nhật Bản nên loại hang hóa mà Tổng công ty xuất khẩu sang thị trường
này trong giai đoạn hiện nay nên hướng đến mặt hàng loại trung bình, giá cả hợp lý nhưng vẫn
cần chú ý đến mẫu mã để thu hút được khách hàng.
5.2 Chiến lược giá
Giá cả là một trong những công cụ quan trọng để cạnh tranh trên thị trường Nhật Bản.
Giá thành là căn cứ để quyết định giới hạn thấp nhất của giá bán sản phẩm – yếu tố quan trọng
của công ty trong việc đứng vững và khẳng định chất lượng, uy tín của mình trên thị trường
Nhật Bản. Hàng may mặc của công ty xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đa phần là phục vụ
18
những người tiêu dùng có thu nhập thấp, chi tiêu cho quần áo còn hạn chế và Nhật Bản là một
trong những cường quốc về hàng may mặc. Do vậy hạ giá thành sản phẩm để có chính sách
giá cả hợp lý là một nhu cầu tất yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh, công ty nên sử dụng những
biện pháp sau:
Khai thác nguồn nguyên liệu từ nhiều nhà cung cấp khác nhau để tăng thêm kim ngạch
bán FOB, đưa ra giá cạnh tranh.
Đẩy mạnh kinh doanh nội địa để có thể cung cấp nguyên liệu cho đơn vị sản xuất hàng
dệt may. Sau đó, mua hàng của những đơn vị này với giá thấp hơn so với những đơn vị mà
nhập cảnh, giữ được ưu thế về giao hàng là nhiệm vụ khó khăn nhưng rất cần thiết.
5.4 Chiến lược xúc tiến thương mại
- Quảng cáo qua các trang web của công ty , một số trang web mà người Nhật hay truy
cập.
- Quảng cáo trên tivi , vì thói quen xem truyền hình của người Nhật rất lớn.
- Quảng cáo trên các tờ tạp chí nổi tiếng.
- Tham gia hội chợ thương mại.
- Thông qua hội Việt Kiều ở Nhật để quảng cáo cho sản phẩm.
5.5 Tổ chức thực hiện
Sau khi đã nghiên cứu thì trường Nhật , có sản phẩm chủ lực nhằm mục đích đưa ra
xuất khẩu rồi, đưa ra chiến lược cho việc việc thâm nhập sang thị trường Nhật chúng tôi đề
xuất một số công việc cần tiến hành để chuẩn bị cho quá trình thâm nhập thì trường Nhật lần
này như sau:
Bộ phận Marketing
Bộ phận marketing là bộ phận rất quan trọng trong quá trình thâm nhập thị trường lần
này , để thực hiện tốt marketing – mix thì phòng marketing phải chuẩn bị rất nhiều vấn đề:
Tìm hiểu kỹ về đối tượng khách hàng mục tiêu của công ty, các tập tính tiêu dùng của họ, yêu
cầu của họ đối với sản phẩm của chúng ta như thế nào…
Cập nhật thường xuyên thông tin về thị trường Nhật, để đánh giá lại thị trường, đưa ra
những đề xuất về chiến lược trong tương lai như thế nào cho thích hợp.
Chuẩn bị hệ thống cơ cấu dịch vụ mà công ty cung cấp cho thị trường khi thâm nhập.
Các chiến lược xúc tiến bán hàng, quảng cáo, tham gia hội chợ sẽ được chuẩn bị trước
Các dịch vụ sau bán hàng như thế nào.
Tìm hiểu thông tin về đối thủ cạnh tranh của công ty trên thị trường Nhật.
Các thông tin về các nhà phân phối mà công ty dự định hợp tác trong thời gian thâm
nhập thị trường, các chính sách với họ, các chính sách hỗ trợ trong quá trình phân phối sản
phẩm như thế nào…
Bộ phận sản xuất
20
Bộ phận sản xuất là bộ phận quyết định số lượng, chất lượng sản phẩm cho chiến lược
Hoạt động quản trị nhân sự là hoạt động liên quan đến con người , để chuẩn bị tốt cho
quá trình thâm nhập thị trường lần này , thì bộ phận này cần làm rất nhiều việc :
21
Vấn đề đào tạo con người như thế nào, đào tạo tay nghề cho công nhân như thế nào để
đáp ứng chiến lược của doanh nghiệp
Có nên tuyển mộ thêm lao động không, tuyển mộ như thế nào , tuyển mộ bao nhiêu…
Các chính sách đãi ngộ người lao động như thế nào
Các chính sách khuyến khích, đánh giá lòng trung thành của người lao động
Phân bổ nhân sự như thế nào cho hợp lý…
Bộ phận suất nhập khẩu
Tổ chức các hoạt động xuất khẩu , trong quá trình chuẩn bị cho chiến lược cần chuẩn bị
tất cả các công việc quan trọng cho quá trình xuất khẩu thuận lợi hơn
Liên hệ với những nhà nhập khẩu trên thị trường Nhật.
Ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Tìm hiểu các thông lệ quốc tế về xuất nhập khẩu mà nước Nhật áp dụng, cũng như
những qui định trên đất nước Nhật về hoạt động xuất nhập khẩu.
Mỗi bộ phận trong nội bộ của doanh nghiệp có vai trò và chức năng khác nhau nhưng
trong quá trình thực hiện chiến lược, cũng như trong xuyên suốt quá trình hoạt động kinh
doanh của mình thì tất cả các bộ phận có mối quan hệ chặc chẽ với nhau, khác chức năng,
khác nhiệm vụ nhưng tất cả mọi bộ phận đều hoạt động và vận hành để cùng nhắm đến cùng
một mục tiêu chung của doanh nghiệp.
5.6 Chi phí và nguồn vốn thực hiện
Nguồn vốn thực hiện dự án này của Tổng công ty được vay từ ngân hàng thương mại cổ
phần Sài Gòn Hà Nội (SHB).
Dựa vào đặc điểm của từng đối tượng tính chi phí và dựa vào số liệu của những kỳ trước,
phòng kế hoạch kinh doanh đưa ra bảng dự toán chi phí như sau: (Do đặc điểm sản phẩm gồm
nhiều chủng loại nên chúng tôi đưa ra mức chi phí tính chung cho một lần xuất).
- Chi phí nguyên liệu chính được xác định căn cứ trên giá mua và định mức tiêu hao khi
sản xuất ra 1 đơn vị thành phẩm. Định mức tiêu hao dựa trên định mức tiêu hao trung bình
theo tài liệu thống kê của kỳ trước.
5
6
7
8
9
III
1
2
3
4
IV
1
Lương, BHXH,BHYT,KPCĐ
Lương
BHXH,BHYT,KPCĐ
Chi phí sản xuất chung
Nguyên vật liệu (chính và phụ)
Khấu hao cơ bản
Điện
Nước
Sửa chữa bảo dưỡng
Công cụ dụng cụ
Thuê ngoài gia công
Ca 3 + độc hại
Chi phí khác
Chi phí tiêu thụ
Vận chuyển, bốc vác
Bao bì
Phí kiểm hoá
Chi phí khác
9
Điện thoại, fax, internet
Dự phòng
Phí tiếp tân, khánh tiết
Công tác phí
Đồ dùng văn phòng
Lãi vay ngân hàng
Phí chuyển tiền
Chi phí khác
Tổng chi phí (I+II+III+IV)
13430,05
15600
24558,44
5889,56
7082
82119
4435,25
81169,03
1.556.278,77
Dựa theo kết quả sản xuất kỳ trước và tình hình biến động về nhu cầu tiêu dùng để dự
báo số lượng tiêu thụ như sau:
Chủng loại Số lượng (SP) Đơn giá (1000
đ
) Doanh thu (1000
đ
)
Áo sơmi
Sơmi nam
hiện nhiều biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu, ngành dệt may
cũng chính là ngành hàng xuất khẩu chế biến quan trọng của Việt Nam hiện nay.
Tổng công ty may 10 chuyên sản xuất hàng may mặc, kể từ khi thành lập đến nay,
Tổng Công Ty đã thâm nhập và đứng vững ở các thị trường lớn, trong đó thị trường Nhật
Bản là thị
t
rường lớn của Tổng Công Ty với kim nghạch xuất khẩu hàng may mặc hàng
năm rất lớn và tốc độ tăng trưởng cao. Tuy vậy, hàng may mặc của Tổng Công Ty vào thị
trường này còn có những vướng mắc đặc biệt chịu ảnh hưởng không nhỏ từ thảm họa kép ở
Nhật hồi tháng 3 vừa qua. Với mong muốn giữ vững thị trường cho Tổng công ty, phòng kinh
doanh chúng tôi đề xuất kế hoạch kinh doanh vào thị trường Nhật Bản trong thời điểm khó
khăn này. Với sự nỗ lực cố gắng hết mình của toàn thể cán bộ công nhân viên cũng như với
những điểm mạnh và cơ hội đang có,Tổng Công ty Cổ phần May 10 sẽ duy trì và phát triển
được thị trường tiềm năng này để tạo ra bước tiến vững chắc cho hoạt động xuất khẩu của
công ty nói chung và hoạt động xuất khẩu trưc tiếp vào thị trường Nhật Bản nói riêng.
25