KINH TẾ VĨ MÔ - CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1: KHOA HỌC KINH TẾ VĨ MÔ doc - Pdf 21

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2006-2007
Kinh tế vĩ mô Câu hỏi ôn tập

Mankiw 1 Biên dịch: Kim Chi
CÂU HỎI ÔN TẬP
CHƯƠNG 1
KHOA HỌC KINH TẾ VĨ MÔ
1. Giải thích sự khác biệt giữa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô. Hai lĩnh vực này
liên quan với nhau như thế nào?
2. Tai sao các nhà kinh tế học xây dựng các mô hình?
3. Một mô hình cân bằng thị trường là gì? Khi nào giả định về sự cân bằng thị
trường là phù hợp?
ĐÁP ÁN
1. Kinh tế vi mô nghiên cứu cách thức các doanh nghiệp và hộ gia đình ra quyết
định và họ tương tác với nhau như thế nào. Các mô hình kinh tế vi mô về
doanh nghi
ệp và hộ gia đình dựa trên nguyên tắc tối ưu hoá – các doanh
nghiệp và hộ gia đình nỗ lực hoạt động tốt nhất có thể ứng với những điều
kiện ràng buộc mà họ phải đối phó. Ví dụ, các hộ gia đình chọn hàng hoá nào
để mua nhằm tối đa hoá độ thỏa dụng, trong khi các doanh nghiệp quyết định
sản xuất bao nhiêu nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Ngược l
ại, kinh tế vĩ mô nghiên
cứu nền kinh tế như một tổng thể; môn học này tập trung vào những vấn đề
như tổng sản lượng, tổng việc làm, và mức giá chung được xác định ra sao.
Các biến số của toàn thể nền kinh tế này dựa vào sự tương tác của nhiều hộ gia
đình và nhiều doanh nghiệp; do đó, kinh tế vi mô tạo thành cơ sở cho kinh tế
vĩ mô.
2. Các nhà kinh tế h
ọc xây dựng các mô hình như một phương tiện để tóm tắt các
mối quan hệ giữa các biến số kinh tế. Các mô hình có ích vì chúng thu gọn

ĐÁP ÁN
1. GDP đo lường tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế và tổng chi tiêu
vào sản lượng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế. GDP có thể cùng một lúc
đo lường được hai đại lượng vì cả hai thật ra cũng chỉ là một: đối với một nền
kinh tế trên bình diện tổng thể, thu nhập phải bằng chi tiêu. Như minh họa qua
biểu đồ dòng l
ưu chuyển trong sách giáo khoa, có những cách khác nhau
nhưng tương đương với nhau để đo lường dòng tiền trong nền kinh tế.
2. Chỉ số giá tiêu dùng đo lường mức giá chung của nền kinh tế. Đại lượng này
cho ta biết giá của một rổ hàng hoá cố định so với giá của chính rổ hàng hoá
đó ở năm cơ sở.
3. Cục Thống kê lao động phân loại mỗi người vào một trong ba nhóm sau: có
việc làm, thất nghi
ệp, hay không nằm trong lực lượng lao động. Tỷ lệ thất
nghiệp là phần trăm của lực lượng lao động không có việc làm, được tính như
sau:
Tỷ lệ thất nghiệp =
donglaoluongLuc
xnghiepthatnguoiSo 100

Lưu ý rằng lực lượng lao động là số người có việc làm cộng với số người thất
nghiệp.
4.
Định luật Okun nói đến mối quan hệ nghịch biến giữa thất nghiệp và GDP
thực. Người lao động có việc làm giúp tạo ra hàng hoá và dịch vụ trong khi
người lao động thất nghiệp thì không. Do đó, tăng tỷ lệ thất nghiệp gắn liền
với giảm GDP thực. Định luật Okun có thể được tóm tắt bằng phương trình:
%

GDP thực = 3% - 2 × (

thanh toán chuyển nhượng của chính phủ. Hãy cho hai ví dụ ứng với từng
khoản mục.
6.
Yếu tố nào xác định cân bằng giữa cầu và cung hàng hoá và dịch vụ của nền
kinh tế (trong chương học này)?
7.
Giải thích điều gì xảy ra cho tiêu dùng, đầu tư, và lãi suất khi chính phủ tăng
thuế.
ĐÁP ÁN
1. Các yếu tố sản xuất và công nghệ sản xuất xác định sản lượng mà một nền
kinh tế có thể sản xuất. Các yếu tố sản xuất là những yếu tố đầu vào được sử
dụng để sản xuất hàng hoá và dịch vụ: những yếu tố quan trọng nhất là vốn và
lao động. Công nghệ sản xuất xác định mức độ sản lượng nhiều hay ít có thể

được sản xuất ra ứng với các yếu tố đầu vào cho trước này. Tăng một trong
các yếu tố sản xuất hay cải thiện công nghệ sẽ dẫn đến tăng sản lượng của nền
kinh tế.
2.
Khi một doanh nghiệp quyết định sử dụng một yếu tố sản xuất bằng bao nhiêu,
họ sẽ cân nhắc xem quyết định này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận như thế nào.
Ví dụ, nếu thuê thêm một đơn vị lao động sẽ tăng sản lượng và do đó tăng
doanh thu; doanh nghiệp so sánh doanh thu tăng thêm này với chi phí tăng
thêm do phải trả thêm tiền công lao động. Doanh thu tăng thêm mà doanh
nghiệp nhậ
n được phụ thuộc vào sản phẩm biên của lao động (MPL) và giá
hàng hoá sản xuất ra (P). Một đơn vị lao động tăng thêm sản xuất ra được
MPL đơn vị sản lượng tăng thêm, và số sản lượng tăng thêm này được bán ra
với mức giá P. Do đó, doanh thu tăng thêm của doanh nghiệp là P× MPL. Chi
phí thuê mướn thêm một đơn vị lao động là tiền công W. Như vậy, quyết định
tuyển dụng thêm lao động này ả

Một hàm sản xuất có sinh lợi không đổi theo qui mô nếu khi ta tăng đồng đều
tất cả các yếu tố sản xuất thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định sẽ làm tăng sản
lượng thêm cùng một tỷ lệ phần trăm. Ví dụ, nếu một doanh nghiệp gia tăng
sử dụng vốn và lao động thêm 50 phần trăm, sản lượng sẽ tăng thêm 50 phần
trăm, thì hàm s
ản xuất này có sinh lợi không đổi theo qui mô.
Nếu hàm sản xuất có sinh lợi không đổi theo qui mô thì tổng thu nhập (hay
tổng sản lượng) trong nền kinh tế gồm những doanh nghiệp cạnh tranh và tối
đa hoá lợi nhuận sẽ được phân chia thành sinh lợi của lao động, MPL × L, và
sinh lợi của vốn, MPL × K; nghĩa là trong điều kiện sản lượng không đổi theo
qui mô, lợi nhuận kinh tế bằng không.
4.
Tiêu dùng phụ thuộc đồng biến với thu nhập khả dụng – thu nhập sau khi đã
nộp tất cả các khoản thuế. Thu nhập khả dụng càng cao thì tiêu dùng càng
nhiều.
Cầu đầu tư phụ thuộc nghịch biến với lãi suất thực. Để việc đầu tư có thể tạo
ra lợi nhuận, sinh lợi của nó phải lớn hơn chi phí. Vì lãi suất thực đo lường chi
phí của vố
n, lãi suất thực càng cao thì chi phí đầu tư càng lớn, vì thế cầu đầu
tư sẽ giảm.
5.
Chi mua của chính phủ bao gồm những hàng hoá và dịch vụ mà chính phủ
trực tiếp mua sắm. Ví dụ, chính phủ mua tên lửa và xe tăng, xây dựng đường
sá, và cung cấp những dịch vụ như kiểm soát không lưu. Tất cả các hoạt động
này là một phần của GDP. Thanh toán chuyển nhượng là thanh toán của chính
phủ cho cá nhân mà không đổi lấy (hay không đối ứng) hàng hoá hay dịch vụ
gì cả. Thanh toán chuyển nhượng là ngược lại với thuế: thuế
làm giảm thu
nhập khả dụng của hộ gia đình, trong khi thanh toán chuyển nhượng làm tăng
thu nhập khả dụng. Ví dụ về thanh toán chuyển nhượng bao gồm các khoản

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ I
1. Trong mô hình Solow, tỷ lệ tiết kiệm ảnh hưởng như thế nào đến mức thu
nhập ở trạng thái dừng? Nó ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ tăng trưởng ở
trạng thái dừng?
2.
Tại sao một nhà hoạch định chính sách kinh tế có thể chọn mức vốn theo Qui
tắc Vàng?
3.
Một nhà hoạch định chính sách kinh tế có thể chọn một trạng thái dừng với
nhiều vốn hơn so với trạng thái dừng theo Qui tắc Vàng hay không? Họ có thể
chọn một trạng thái dừng với ít vốn hơn so với trạng thái dừng theo Qui tắc
Vàng hay không? Giải thích câu trả lời của bạn.
4.
Trong mô hình Solow, tốc độ tăng dân số ảnh hưởng đến mức thu nhập ở trạng
thái dừng như thế nào? Nó ảnh hưởng như thế nào đến tốc dộ tăng trưởng ở
trạng thái dừng?
ĐÁP ÁN
1. Trong mô hình Solow, một tỷ lệ tiết kiệm cao dẫn đến trữ lượng vốn ở trạng
thái dừng lớn, và mức sản lượng ở trạng thái dừng cao. Một tỷ lệ tiết kiệm
thấp dẫn đến trữ lượng vốn ở trạng thái dừng thấp, và mức sản lượng ở trạng
thái dừng cũng thấp. Tiết kiệm càng cao dẫn đến tăng trưở
ng kinh tế càng
nhanh chỉ trong ngắn hạn. Gia tăng tỷ lệ tiết kiệm giúp đẩy mạnh tăng trưởng
cho đến khi nền kinh tế đạt trạng thái dừng mới. Nghĩa là nếu nền kinh tế duy
trì mức tiết kiệm cao, thì nền kinh tế cũng sẽ duy trì trữ lượng vốn lớn và mức
sản lượng cao, nhưng nó sẽ không duy trì tốc độ tăng trưởng cao mãi mãi.
2.
Thật sự hợp lý khi ta giả định rằng mục tiêu của một nhà hoạch định chính
sách kinh tế là tối đa hoá phúc lợi kinh tế của mọi thành viên trong xã hội. Vì
phúc lợi kinh tế phụ thuộc vào mức tiêu dùng, nhà hoạch định chính sách nên

đến tất cả các thế hệ, họ sẽ quyết định đạt đến Qui tắc Vàng. Cho dù thế hệ
hiện tại sẽ phải tiêu dùng ít hơn, mộ
t số (vô hạn) các thế hệ tương lai sẽ hưởng
lợi nhờ tiêu dùng gia tăng thông qua việc chuyển đến trạng thái Qui tắc Vàng.
4.
Tốc độ tăng trưởng dân số càng cao, mức vốn trên mỗi lao động ở trạng thái
dừng càng thấp, và do đó sẽ có một mức thu nhập ở trạng thái dừng càng thấp.
Ví dụ, hình 4-1 trình bày trạng thái dừng ứng với hai mức tăng trưởng dân số
khác nhau, mức thấp hơn n
1
và mức cao hơn n
2
. Tăng trưởng dân số cao hơn,
n
2
, có nghĩa là đường biểu thị tăng trưởng dân số và khấu hao cao hơn, cho
nên mức vốn trên mỗi lao động ở trạng thái dừng thấp hơn.
Hình 4-1

Tốc độ tăng của tổng thu nhập ở trạng thái dừng là n + g, vì thế, tỷ lệ tăng
trưởng dân số càng cao, tỷ lệ tăng trưởng tổng thu nhập càng cao. Tuy nhiên,
thu nhập trên mỗi lao động tăng trưởng với tỷ lệ g ở trạng thái dừng, và như
vậy sẽ không chịu ảnh hưởng của sự tăng trưởng dân số.

Đầu tư,
đầu tư
hoà vốn
V

n t

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ II
1. Trong mô hình Solow, những yếu tố nào xác định tốc độ tăng thu nhập trên
mỗi lao động ở trạng thái dừng?
2.
Những dữ liệu cần thiết gì giúp xác định liệu một nền kinh tế hiện đang có vốn
nhiều hơn hay ít hơn so với trạng thái dừng theo Qui tắc Vàng?
3.
Các nhà hoạch định chính sách có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm quốc gia
bằng cách nào?
4.
Điều gì đã xảy ra cho tốc độ tăng năng suất trong hơn 40 năm qua? Bạn có thể
giải thích hiện tượng này như thế nào?
5.
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh giải thích như thế nào về sự tăng trưởng bền
vững mà không đưa ra giả định về tiến bộ công nghệ mang tính ngoại sinh? Lý
thuyết này khác với mô hình Solow như thế nào?
ĐÁP ÁN
1. Trong mô hình Solow, chúng ta thấy rằng chỉ có tiến bộ công nghệ có thể tác
động đến tốc độ tăng thu nhập trên mỗi lao động ở trạng thái dừng. Tăng
trưởng trữ lượng vốn (thông qua tiết kiệm cao) cũng như tăng trưởng dân số
đều không ảnh hưởng đến tốc độ tăng thu nhập trên mỗi lao động ở trạng thái
dừng. Tiến bộ công nghệ có thể ảnh hưởng
đến tăng trưởng bền vững.
2.
Để xác định xem một nền kinh tế hiện đang có vốn cao hơn hay thấp hơn so
với trạng thái Qui tắc Vàng, chúng ta cần so sánh đại lượng sản phẩm biên của
vốn trừ đi khấu hao (MPK -
δ
) với tốc độ tăng tổng sản lượng (n + g). Tốc độ
tăng GDP có sẵn. Ước lượng sản phẩm biên của vốn ta cần tính toán thêm một

n hàm sản xuất theo
thời gian. Người ta cũng đưa ra những cách giải thích khác cho tình trạng sa
sút tăng trưởng này, nhưng xem ra nó vẫn còn là một điều bí ẩn.
5.
Các lý thuyết tăng trưởng nội sinh cố gắng giải thích tốc độ tiến bộ công nghệ
bằng cách giải thích những quyết định tác động đến sự sáng tạo tri thức thông
qua nghiên cứu và phát triển. Ngược lại, mô hình Solow chỉ đơn thuần xem
tốc độ tiến bộ công nghệ là một biến ngoại sinh. Trong mô hình Solow, tỷ lệ
tiết kiệm ảnh hưởng đến tăng trưởng một cách tạm th
ời, nhưng sinh lợi giảm
dần của vốn cuối cùng buộc nền kinh tế phải tiến tới một trạng thái dừng trong
đó tăng trưởng chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ ngoại sinh. Ngược lại,
nhiều mô hình tăng trưởng nội sinh về thực chất giả định rằng vốn có sinh lợi
không đổi (chứ không phải giảm dần), được lý giải để bao hàm c
ả tri thức. Vì
thế, những thay đổi của tỷ lệ tiết kiệm có thể dẫn đến tăng trưởng bền vững
(kéo dài).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status