Danh pháp hợp chất hữu cơCó thể quy tên của hợp chất hữu cơ về hai loại - Pdf 21

Danh pháp hợp chất hữu cơ

Có thể quy tên của hợp chất hữu cơ về hai loại chính và một loại trung gian.·
Danh pháp hệ thống: là loại danh pháp trong đó mọi bộ phận cấu thành đều có
ý nghĩa hệ thống.

Thí dụ: Hexan ( C6H14) = hexa( tiền tố xuất phát từ tíêng Hy Lạp, có nghĩa là
sáu)+ an( hậu tố chỉ hidrocacbon no)
Hexa+an=hexan ( bỏ bớt một chữ “a” liền nhau)
· Danh pháp thường:

Danh pháp thường ( thông thường) là loại danh pháp được hình thành dựa theo
nguồn gốc tìm ra hoặc theo tính chất bề ngoài ( màu sắc, mùi vị…)hoặc một
yếu tố khác không có tính hệ thống

Thí dụ: Ure ( tiếng Pháp: urée) có nguồn gốc từ urine( tiếng Pháp có nghĩa là
nước tiểu) vì ure lần đầu tiên được tách ra từ nước tiểu năm 1778.
· Danh pháp nửa hệ thống hay danh pháp nửa thông thường:
Loại danh pháp này mang tính chất trung gian của hai loại danh pháp trên, vì
nó chỉ có một vài yếu tố hệ thống.

Thí dụ : Stiren ( C6H5=CH2) có nguồn gốc là stirax( tên loại nhựa cây cho
stiren ) và chỉ của hậu tố -en nói lên sự có mặt của nối đôi C=C trong hệ thống.
II) Phân loại danh pháp IUPAC:

Tên của các hợp chất hữu cơ theo IUPAC gồm nhiều loại mà phần nhiều thuộc
danh pháp hệ thống, chỉ có một số ít là nửa hệ thống và tên thường.

( các bạn thân, để tránh gây rối, tớ sẽ lược bớt một số loại danh pháp không
gặp trong phổ thông)· Tên thay thế: là tên thế được tạo nên nhờ thao tác thay
thế

CH3COCl: axetyl clorua
CH3CH2COCOCH3: etyl axetat
CH3CH2OH : ancol etylic hay etyl ancol

· tên thường và tên nửa hệ thống được lưu dùng trong hệ thống tên c ủa IUPAC
Đó là tên của một số hidrocacbon mạch hở, mạch vòng, nhóm ( hay gốc)
hidrocacbon, dẫn xuất hidroxi, hợp chất cacbonyl, axit cacboxylic, dị vòng,
v.v…Chia làm 3 nhóm:

v nhóm 1:gồm các tên được dùng khi không có nhóm thế và khi có nhóm thế ở
bất kỳ vị trí nào.Thí dụ: etan, axetilen, benzen, phenol, anilin, axit bezoic,
v.v…

v nhóm 2: gồm các tên được dùng khi không có nhóm thể và khi có nhóm thế ở
một số vị trí nhất định( thường là ở mạch vòng).thí dụ : toluen, stiren

v nhóm 3: gồm các tên chỉ được dùng khi không có nhóm thế.thí dụ:
isopentan,neopentan, isopren,glixerol, axit lactic.v.v…

I) Các chỉ số về vị trí: các chỉ số vị trí cuả các nhóm thế và nhóm chức là
những chỉ số Ả Rập ( 1,2,3,…)các chữ cái Hy Lạp( anpha, bêta, gamma…)
hoặc chữ cái La tinh( O, N, P…).Nhiều tiếng nước ngoài viết là locant.
-trưóc đây I chưa quy định cụ thể vị trí đặt các locant trong tên gọi hợp chất
hữu cơ, nên đã tồn tại nhiều cách viết khác nhau.thí dụ:

CH3CH2CH=CH2 có thể viết là 1-buten hay buten-1 hoặc but-1-en
CH3CH2CH2OH có thể viết là 2-propanol hay propanol-2 hoặc propan-2-ol
-gần đây I đã quy định rõ ràng tất cả các “locant” dù là số hay chữ cái cần được
đặt ngay trước bộ phận có liên quan cuả tên gọi hợp chất hữu cơ.
Thí dụ:

+Việc đánh số trong vòng bắt đầu từ dị tử và đi quanh vòng theo chiều nào
khiến cho các nhóm thế (hay các dị tử khác ) có số vị trí thấp nhất. Khi có hai
hay nhiều dị tử khác nhau oxy đánh trước rồi đến lưu huỳnh, nitơ.

+Hợp chất có vòng bị khử một phần được xem là dẫn xuất của hidro và được
nêu rõ bằng cách gắn kí hiệu H vào số chỉ vị trí của bảo hòa đối với tên hợp
chất.

Phân tích: Do vòng năm cạnh nên thân chữ là ol, ta thấy vòng trên là dẫn xuất
dihidro của vòng no( có số nối đôi cực đại ), thân chữ + tiếp vĩ ngữ là ol. Nên
tên cơ bản sẽ là 2,3-dihidroazol, ta lược bỏ chữa “o”.

Sưu tầm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status