BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH VŨ THỊ BẮC Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN ANH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ - XÃ HỘI TP.HCM LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ
MÃ SỐ:603195
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS. ĐẶNG VĂN PHAN
Tp. Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2010
Tác giả luận văn
Vũ Thò Bắc
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOD Nhu cầu oxy sinh hóa
BĐKH Biến đổi khí hậu
BVMT Bảo vệ môi trường
CN Công nghiệp
COD Nhu cầu oxy hóa học
CTNH Chất thải nguy hại
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐNB Đông Nam bộ
DN Doanh nghiệp
KCN Khu công nghiệp
KCN-KCX Khu công nghiệp – khu chế xuất
KDTSQTG Khu dự trữ sinh quyển thế giới
KHCN & MT Khoa học Công Nghệ và Môi Trường
NN Nông nghiệp
ÔND Ô nhiễm dầu
ÔNMT Ô nhiễm môi trường
RNMCG Rừng ngập mặn Cần Giờ
TN&MT Tài nguyên và môi trường
TP Thành phố
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TSS Tổng lượng chất rắn lơ lửng
TTCN Trung tâm công nghiệp
kinh tế - xã hội nhằm giảm thiểu những tác động đó để bảo đảm sự phát triển bền vững cho môi
trường biển nước ta hiện nay. Đó cũng chính là lý do mà tôi chọn đề tài “Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG BIỂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI
TP.HỒ CHÍ MINH”.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài là tìm hiểu thực trạng của ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng của nó
đến các hoạt động kinh tế - xã hội của thành phố, cũng như đề xuất các giải pháp cho vấn đề này. Từ
đó hướng đến sự phát triển bền vững môi trường biển tại Tp. Hồ Chí Minh.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài
Các nhiệm vụ cần thực hiện :
- Tìm hiểu cơ sở lí luận vấn đề môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển và các nguồn gây ô
nhiễm môi trường biển hiện nay.
- Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam nói chung và Tp. Hồ Chí Minh
nói riêng.
- Đánh giá những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường biển đến các hoạt động kinh tế - xã hội
Tp. Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 1997 - 2009.
- Tìm hiểu chiến lược biển của Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng để đưa ra các giải
pháp cho vấn đề ô nhiễm môi trường biển tại Tp. Hồ Chí Minh hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là ô nhiễm môi trường biển tại Tp. Hồ Chí Minh và
những ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh tế - xã hội trong thời gian vừa qua (1997 - 2009).
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn cho phép, đề tài chỉ nghiên cứu những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường
biển đến các hoạt động kinh tế - xã hội của Tp. Hồ Chí Minh (xét từ góc độ Địa lí Kinh tế - xã hội)
trong giai đoạn 1997 – 2009 đặt trong mối quan hệ với vùng ĐNB và vùng KTTĐ phía Nam, cũng
như đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho môi trường biển trong giai đoạn tới.
Do phạm vi ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường biển đến các hoạt động kinh tế - xã hội của
thành phố diễn ra ở nhiều khía cạnh nên đề tài chỉ phân tích một vài khía cạnh nổi bật nhất như công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ …và trong phạm vi không gian là các quận có hoạt động liên quan đến
Phương pháp định lượng
6.1.1. Phương pháp sưu tầm và thống kê số liệu
Để đề tài được hoàn thành, việc sưu tầm các tài liệu liên quan có ý nghĩa quan trọng, những tài
liệu nghiên cứu, những thông tin dựa vào các nguồn như sách, tạp chí, báo chuyên ngành, các
website chuyên ngành về môi trường và ô nhiễm môi trường biển giúp cho việc phân tích được cặn
kẽ hơn. Sau khi sưu tầm các tài liệu tham khảo, người nghiên cứu phải chắt lọc các thông tin cần
thiết, thống kê các số liệu theo thời gian cho phù hợp với đề tài đã chọn. Phương pháp sưu tầm và
thống kê số liệu cho phép người nghiên cứu có cái nhìn khách quan nhất về vấn đề ô nhiễm môi
trường biển hiện nay tại Tp. Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên nguồn tài liệu
lấy từ nhiều kênh thông tin khác nhau nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.
6.1.2. Phương pháp phân tích và xử lí số liệu
Phương pháp này giúp phân tích các số liệu liên quan đến đề tài. Từ các số liệu thống kê đã
có, thông qua chương trình Microsoft Office Excel, người nghiên cứu có thể đưa ra những nhận
định, đánh giá chính xác về vấn đề ô nhiễm môi trường biển hiện nay tại Tp. Hồ Chí Minh.
6.1.3. Phương pháp thực địa
Việc nghiên cứu một vấn đề không thể thiếu sự tìm hiểu từ thực tế. Thông qua hoạt động quan
sát, tìm hiểu từ thực tế của vấn đề ô nhiễm môi trường biển hiện nay tại Tp. Hồ Chí Minh, người
nghiên cứu sẽ đưa ra được những minh chứng tốt nhất cho vấn đề trên. Từ đó, đánh giá được đúng
thực trạng của vấn đề ô nhiễm môi trường biển hiện nay và những tác động của nó tại Tp. Hồ Chí
Minh.
6.1.4. Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Thông qua việc sử dụng các bản đồ - biểu đồ liên quan đến vấn đề ô nhiễm biển tại Tp. Hồ Chí
Minh, người nghiên cứu có được cái nhìn trực quan, sinh động về vấn đề. Từ đó đưa ra những nhận
định chính xác về ô nhiễm môi trường biển hiện nay.
Các bản đồ trong đề tài được thành lập bằng phần mềm Mapinfo 7.0, dựa trên cơ sở các dữ liệu
đã thu thập và xử lý. Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối quan hệ địa lí thông qua hệ thống bảng số
liệu và biểu đồ.
6.2. Phương pháp định tính
6.2.1. Phương pháp chuyên gia
Dựa trên những quan điểm, những bài báo, những tác phẩm, những công trình nghiên cứu của
Đề cập đến chiến luợc biển của Việt Nam, cũng như các công ước quốc tế về biển mà Việt
Nam đang thực hiện, cuốn sách “Công ước biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam” cũng do
TS Nguyễn Hồng Thao (chủ biên) cùng nhóm tác giả PGS.TS Đỗ Minh Thái, TS Nguyễn Thị Như
Mai, ThS. Nguyễn Thị Hường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2008, đã nêu đầy đủ và chi tiết về
Công ước biển 1982. Trong đó, có một phần đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường biển là “Thực
hiện công ước 1982 trong lĩnh vực bảo vệ và gìn giữ môi trường biển”. Tuy nhiên cuốn sách cũng
chỉ đánh giá các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển và các biện pháp bảo vệ môi trường biển chứ
chưa phân tích về tác động ngược lại của ô nhiễm biển đến các hoạt động kinh tế - xã hội.
Nhằm nghiên cứu đề xuất phương pháp đánh giá tác động của ô nhiễm dầu tới hệ sinh thái và
lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm dầu gây ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức một buổi
Hội thảo với chủ đề “Đánh giá tác động ô nhiễm dầu đến hệ sinh thái biển và ven biển và lượng
giá thiệt hại kinh tế” vào ngày 14/06/2007 tại Hà Nội. Hội thảo đã đánh giá được tác động của ô
nhiễm môi trường biển đến các hệ sinh thái tiêu biểu như rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô…Tuy
nhiên việc đánh giá vẫn chỉ mang tính đại diện chưa đi vào nghiên cứu cụ thể và chưa đánh giá
được những tác động khác đến đời sống con người như về sức khỏe, tinh thần...
Trong báo cáo tổng kết khoa học và công nghệ về đề tài “Cơ sở khoa học cho việc phát triển
kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam, đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng
điểm” nhóm tác giả PGS.TS Ngô Doãn Vịnh, TS Trương Văn Tuyên, Hà Nội, 2004, đã trình bày
một cách cặn kẽ về vai trò của biển và ven biển trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước, cũng như tình hình phát triển kinh tế - xã hội của dải ven biển trong giai đoạn hiện nay. Đề tài
đã đưa ra được cái nhìn toàn diện về quy mô phát triển cũng như mô hình phát triển cho một số khu
vực trọng điểm như khu vực đô thị cảng Hải Phòng, mô hình phát triển kinh tế - xã hội xã Phú Đa,
tỉnh Thừa Thiên Huế…
Bên cạnh đó, cũng còn một số đề tài nghiên cứu khác về vai trò chiến lược của biển và dải ven
biển Việt Nam như đề tài “Vai trò chiến lược của biển và dải ven biển Việt Nam đối với sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của TS Trương Văn Tuyên - Viện chiến lược
phát triển; hay đề tài “Luận chứng phương án phát triển tuyến động lực ven biển Vũng Tàu – Cần
Giờ - Tp. Hồ Chí Minh” của Th.S Trần Sinh - Trung tâm Kinh tế miền Nam, Bộ KH&ĐT; đề tài “
Nghiên cứu hiện trạng và các giải pháp bảo vệ môi trường vùng ven biển Việt Nam” của TS. Lê
Kim Dung, Viện chiến lược phát triển…
hội của Tp. Hồ Chí Minh hiện nay.
8. Đóng góp của đề tài :
- Tìm hiểu có chọn lọc một số vấn đề lí luận về môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển và
các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển hiện nay.
- Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam nói chung và Tp. Hồ Chí Minh
nói riêng. Trình bày các nguồn gây ô nhiễm chủ yếu của môi trường biển tại TP.HCM.
- Phân tích những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường biển đến các hoạt động kinh tế - xã hội
Tp. Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 1997 - 2009.
- Tìm hiểu chiến lược biển của Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng để đưa ra các giải
pháp cho vấn đề ô nhiễm môi trường biển tại Tp. Hồ Chí Minh hiện nay.
9. Cấu trúc đề tài :
Đề tài gồm 3 phần
Mở đầu
Nội dung : gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về ô nhiễm môi trường biển
Chương 2: Ô nhiễm môi trường biển và ảnh hưởng của nó đến các
hoạt động kinh tế - xã hội của Tp.HCM
Chương 3: Giải pháp khắc phục vấn đề ô nhiễm môi trường biển
tại TP.HCM hiện nay
Kết luận
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG BIỂN1.1. Định nghĩa một số thuật ngữ liên quan
1.1.1. Khái niệm về môi trường
Điều 1 Luật bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 1995 quy định: “Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người,
có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Điều 2 Luật bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 1995 quy định: “Thành phần môi trường
được hiểu là môi trường tự nhiên của biển chịu sự tác động của con người trong quá trình phát
triển.[36]
1.1.3. Khái niệm về ô nhiễm môi trường biển
Năm 1981, Nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm biển (Joint Group of
Expert on the Scientific Aspects of Marine Pollution – GESAMP) đưa ra định nghĩa đầu tiên về ô
nhiễm môi trường biển (Marine pollution) là “Việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất
liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển (bao gồm cả các cửa sông), gây ra những tác hại như gây
tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt
động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng
nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”
Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982, điều 1, khoản 4 đã đưa ra một định
nghĩa có phần mở rộng hơn: “Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp
đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm các cửa sông, khi đó việc gây ra
hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật và đến hệ động vật và hệ
thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả
việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng
nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”[37]
1.1.4. Khái niệm về các hoạt động kinh tế - xã hội
Theo từ điển Bách khoa toàn thư thì khái niệm kinh tế là :
Tổng thể các hoạt động của một cộng đồng người, một nước, liên quan đến toàn bộ quá trình
hay một phần của tổng quá trình bao gồm các quá trình sản xuất, trao đổi hàng hóa, phân phối và
tiêu dùng các sản phẩm xã hội.
Tổng thể những mối quan hệ trong quá trình sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất
định, trong tổ chức và hoạt động của cơ cấu hạ tầng của xã hội, bao gồm các ngành kinh tế - kĩ
thuật, các loại hình sản xuất tương ứng.
Khái niệm xã hội
Theo nghĩa hẹp, là khái niệm chỉ một loại hệ thống XH cụ thể trong lịch sử, một hình thức nhất
định của những quan hệ XH, là một XH ở vào một trình độ phát triển lịch sử nhất định, là một kiểu
loại XH nhất định đã hình thành trong lịch sử. Ví dụ: XH nô lệ, XH phong kiến, XH tư bản... Trong
trường hợp này, XH trùng hợp với hình thái kinh tế xã hội (Hình thái kinh tế - xã hội).
học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên
- môi trường biển. Có thể coi cách hiểu kinh tế biển bao gồm cả các hoạt động kinh tế diễn ra trên
biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dải đất liền ven biển là quan
niệm về kinh tế biển theo nghĩa rộng.
1.2. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển
Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, ô nhiễm môi trường biển bao
gồm 6 nguồn chính sau:
Bảng 1.1. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển theo Công ước của Liên Hiệp Quốc
về Luật Biển năm 1982
STT Các nguồn gây ô nhiễm
1. Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông,
cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải của công nghiệp.
2. Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán của
quốc gia ven biển, hay xuất phát từ các đảo nhân tạo, các công trình thiết bị
thuộc quyền tài phán của họ.
3. Ô nhiễm do các hoạt động tự nhiên và nhân tạo trong vùng (tức vùng đáy biển
di sản chung của loài người) lan truyền tới.
4. Ô nhiễm do sự nhận chìm và trút bỏ chất thải.
5. Ô nhiễm do hoạt động của các loại tàu thuyền và tai nạn tàu thuyền trên biển.
6. Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển.
Nguồn: TS Nguyễn Hồng Thao, 2004
- Theo bản báo cáo đánh giá về hiện trạng môi trường biển của nhóm GESAMP năm 1990, tỷ
lệ các hoạt động của con người gây ô nhiễm môi trường biển như sau: Các hoạt động dầu khí ngoài
khơi: 1%, giao thông biển: 12%, nhận chìm: 10%, phù sa và ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền: 44%,
ô nhiễm từ khí quyển: 33%
- Cách phân loại này khác với cách phân loại cổ điển căn cứ vào tiêu chuẩn lý hóa của chất
gây ô nhiễm. Xác định nguồn gây ô nhiễm gắn liền với các lĩnh vực, khu vực hoạt động của con
người trong một tổng thể, thể hiện sự cần thiết quản lý tổng hợp đấu tranh chống ô nhiễm và bảo vệ
môi trường biển
Bảng 1.2. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển
rác khổng lồ mà con người đã quen trút bỏ. Năm 1972, vấn đề ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền
được đưa vào chương trình hành động của Hội nghị về Môi trường – Con người ở Xtốckhôm.
Nhưng chỉ khi Công ước 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển xác định ô nhiễm có nguồn gốc từ
đất liền là nguồn ô nhiễm biển lớn nhất thì nhận thức của nhân loại mới thay đổi đáng kể và đã có
ngày càng nhiều các văn kiện chính thức của quốc tế cũng như các quốc gia xem xét khả năng hợp
tác để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự hình thức ô nhiễm này.
Theo Công ước 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, điều 207, ô nhiễm môi trường biển
có nguồn gốc từ đất liền bao gồm cả các ô nhiễm xuất phát từ các sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn và
thiết bị thải đổ. Công ước có một điều khoản riêng qui định về ô nhiễm môi trường biển do các hoạt
động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia gây ra hay xuất phát từ các đảo nhân tạo,
các công trình thiết bị thuộc quyền tài phán quốc gia (Điều 208).
1
12
10
44
33
Ô nhiễm do hoạt động dầu khí ngoài khơi
Ô nhiễm do hoạt động giao thông biển
Ô nhiễm do nhận chìm
Ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền (rác thải, phù sa)
Ô nhiễm từ khí quyển
Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ phần trăm các nguồn gây ô nhiễm
Theo Chương trình hành động 21 của Hội nghị Rio de Janeiro về Môi trường và Phát triển
nhận xét: “Ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền chiếm 70% ô nhiễm biển, trong khi các hoạt động giao
thông vận tải biển và nhận chìm ở biển đóng góp 10% từng loại.”
Do định nghĩa về đất liền khác nhau nên cách tính ô nhiểm biển có nguồn gốc từ đất liền
cũng rất khác nhau. Theo báo cáo của GESAMP 1990 thì ô nhiễm biển xuất phát từ đất liền chiếm
44%. Mặc dù các con số chưa thống nhất nhưng không ai phủ nhận ô nhiễm có nguồn gốc từ đất
liền đóng góp phần lớn trong các tác nhân gây ô nhiễm cho môi trường biển.
Việc xác định các nguồn gây ô nhiễm trên đất liền cũng không phải đơn giản. Nguồn ô nhiễm
thường được nối với các đường ống dễ bị đứt gãy, sẽ làm tăng khả năng tác động xấu đến sinh vật
biển. Ngoài ra các hoạt động khoan, đào, nổ việc đặt dây cáp và ống dẫn ngầm cũng gây ảnh hưởng
ô nhiễm đến môi trường biển.
1.2.3. Ô nhiễm do nhận chìm các chất nguy hại và các chất khác
Các hóa chất và các chất nguy hại có chứa hóa chất thường tác động lên môi trường căn cứ
vào độ độc hại và thời gian cũng như mức độ tập trung của chúng trong nước biển. Các chất thải
phóng xạ được nhận chìm ngoài khơi có thể tác động xấu đến các sinh vật biển đặc biệt là các sinh
vật biển còn nhỏ đang trong thời kì trưởng thành làm biến đổi gen, đột biến phát triển các gen xấu.
Theo số liệu thống kê, hàng năm Châu Âu thường chuyển 120.000 tấn chất thải nguy hại đến
vùng biển các nước thuộc thế giới thứ ba (Theo Mostafa K.Tolba, Cứu lấy hành tinh của chúng ta –
Cơ hội và thách thức). Việc chuyên chở chất thải nguy hại, phế phẩm công nghiệp, nông nghiệp,
thiết bị máy móc, tàu thuyền đã qua sử dụng, hóa chất…xuyên biên giới cũng đang là mối quan tâm
của nhiều quốc gia.
Theo chương trình hành động 21 của Hội nghị Rio de Janeiro về Môi trường và Phát triển
nhận xét hàng năm có tới 200.000 m
3
các chất thải nồng độ phóng xạ thấp và trung bình và khoảng
100.000 m
3
chất thải có nồng độ phóng xạ cao được sản sinh từ các hoạt động sản xuất năng lượng
hạt nhân. Khối lượng này ngày càng tăng đặc biệt chất thải có nồng độ phóng xạ chứa tới 99% là
lượng phóng xạ và đó là một nguồn nguy hiểm phóng xạ tiềm tàng.
1.2.4. Ô nhiễm do tàu thuyền gây ra
Ô nhiễm do tàu thuyền chiếm 12% ô nhiễm môi trường biển. Theo Egard Gold, ô nhiễm biển
từ tàu có thể chia làm 5 nhóm sau :
Các hoạt động chất thải đổ từ tàu dầu khi rửa tàu.
Các hoạt động xả đáy từ tất cả các loại tàu.
Tràn dầu, chất độc nguy hại… do các sự cố trên biển như đâm va, chìm đắm, nổ,
cháy…
Tràn dầu, chất độc nguy hại…trong quá trình sắp xếp, dỡ, vận chuyển và đưa vào kho.
Các chất không phải dầu thường được thải vào biển là chất thải rắn và lỏng, rác và nước dằn
tàu, các chất nguy hại, các chất phóng xạ và nước thải sinh hoạt.
Ô nhiễm môi trường biển do dầu
Nguy cơ và tác hại lớn nhất từ các nguồn ô nhiễm từ tàu thuyền vẫn là dầu. Theo đánh giá
chung, hàng năm dầu được thải vào môi trường biển do các hoạt động bình thường của tàu thuyền,
các tai nạn và sự đổ thải cố ý của các tàu thuyền. Dầu tràn có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho
các hoạt động ven biển và cho những người sử dụng biển. vì theo đánh giá, 1 lít dầu tràn có thể tạo
váng 10.000 m
2
trên biển. Sinh vật biển còn bị ảnh hưởng nặng nề không chỉ bởi sự nhiễm bẩn cơ
học mà còn do các thành phần độc tố trong dầu. Dầu xâm nhập vào bờ biển tạo thành các váng biển
và lưu đọng trên các bãi biển, làm hỏng các bãi tắm, các vùng sản xuất muối, sản xuất công nghiệp,
du lịch…Dầu có thể gây tổn hại trực tiếp đến các tàu thuyền, ghe lưới đánh cá, các hoạt động nuôi
trồng thủy sản cũng như gián tiếp làm giảm năng suất đánh bắt và nuôi trồng tại vùng ven biển.
1.2.5. Ô nhiễm từ khí quyển
Công ước 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đánh giá nguồn ô nhiễm có nguồn gốc từ
bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển (ô nhiễm từ khí quyển) là nguồn ô nhiễm biển riêng biệt.
Báo cáo của GESAMP năm 1990 nhận xét: “Khí quyển chứa đựng các vật chất từ nhiều
nguồn khác nhau, tự nhiên và nhân tạo. Nguồn tự nhiên bao gồm các bụi từ nhiều vùng, từ đất, từ
núi lửa, thực vật, các đám cháy rừng cũng như từ các vòi rồng trên biển. Trong số các nguồn nhân
tạo có các khí thải từ các ngành công nghiệp, sản xuất và sử dụng năng lượng, đốt rác thải và các
hoạt động nông nghiệp…các thành phần này có thể được đưa vào bầu khí quyển ngay phía trên các
vùng đất. Từ đó chúng được xáo trộn theo chiều thẳng đứng và có thể được chuyển đi hàng ngàn km
vượt qua các đường biên giới quốc gia và lan truyền đến các hệ sinh thái lớn của biển cả. Các chất
nhiễm bẩn này có thể rơi trực tiếp xuống biển thông qua các hình thức mưa và tuyết rơi”.
Đánh giá chính xác về lượng các chất nhiễm bẩn được đưa vào bầu khí quyển cho đến nay
vẫn là điều không thể. Theo các đánh giá sơ bộ trên phạm vi toàn cầu, lượng chì được đưa vào biển
cả có tới 98% là nguồn gốc từ khí quyển. Khí quyển còn cung cấp cả các chất đồng, sắt, kẽm, niken,
chất hóa học… vào biển nhiều hơn là từ các dòng sông. Các vụ thử hạt nhân cũng đưa những chất
phóng xạ vào biển, vào khí quyển thông qua những cơn mưa.
còn rất thờ ơ với vấn đề môi trường. Đặc biệt trong tình hình xã hội còn nhiều vấn đề phức tạp cần
giải quyết như đói nghèo, tệ nạn, y tế, giáo dục…thì vấn đề môi trường vẫn còn nhiều điều chưa giải
quyết được.
Vì vậy hiện nay, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước luôn phải kèm theo vấn
đề phát triển môi trường bền vững để đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp hơn cho thế hệ mai này.
1.3.2. Nhân tố vi mô
1.3.2.1. Khai thác tiềm năng kinh tế biển ở các địa phương.
Kinh tế biển hiện nay trở thành một trong những ngành nghề được ưu tiên phát triển tại các
địa phương có biển của nước ta. Với 28 trên 63 tỉnh thành giáp biển, chúng ta có đầy đủ điều kiện
để phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên hiện nay, kinh tế biển chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở việc đánh bắt
và nuôi trồng thủy hải sản. Dọc khu vực Duyên hải miền trung hàng năm có từ 9 đến 10 cơn bão đổ
bộ gây thiệt hại không nhỏ về người và của. Với phương tiện đánh bắt thô sơ, công việc đánh bắt
chủ yếu dựa trên kinh nghiệm “cha truyền con nối” luôn ẩn chứa những rủi ro đối với người đi
biển. Tiềm năng của Biển Đông có nhiều, nhưng sản lượng cá ven bờ ngày càng cạn kiệt. Vì thế,
những năm gần đây, ngư dân của Việt Nam đã tiến đến đánh bắt xa bờ. Tuy nhiên việc đánh bắt còn
gặp nhiều khó khăn do thiên tai nên một số ngư dân đã sử dụng các phương pháp đánh bắt gây ảnh
hưởng đến môi trường biển như dùng mìn đánh bắt cá, lưới cào, sử dụng mắt lưới ngày càng nhỏ
hơn làm cho cá con không có thời gian sinh trưởng, sản lượng cá ngày càng giảm. Bên cạnh đó việc
nuôi trồng thủy sản ven biển cũng gây ra nhiều tác nhân ảnh hưởng đến môi trường biển.
Vấn đề khai thác các cảng biển, giao thông vận tải biển, du lịch biển và khai thác khoáng sản
biển như dầu khí cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường biển. Vấn đề này sẽ được đề cập
kĩ hơn trong hiện trạng của môi trường biển Việt Nam hiện nay.
1.3.2.2. Các yếu tố khí tượng thủy văn (nhiệt độ nước biển, thủy triều, gió, bão…)
Nhiệt độ của nước biển
Biển Việt Nam là một biển ấm, nhiệt độ nước biển thay đổi theo mùa, thấp nhất là mùa đông
(từ tháng 11 đến tháng 3) và cao nhất về mùa hè (từ tháng 5 tới tháng 8). Nhiệt độ nước biển tầng
mặt thường lớn hơn 20
0
C. Tuy nhiên vào mùa đông có sự giảm thấp nhiệt độ tương đối của lớp
nước tầng mặt ở vùng biển phía Bắc xuống dưới 20
hiểm đối với hoạt động của tàu thuyền.
Vùng biển nước ta với các yếu tố khí tượng thủy văn nói trên đã có ảnh hưởng to lớn đến sự
phân tán và phân hủy dầu. Các trường nhiễm bẩn dầu đã được hình thành ở các vùng cửa sông, ven
bờ, vùng có tuyến hàng hải quốc tế đi qua, dưới tác động của gió, dòng chảy mạnh, nhiệt độ nước
biển cao, dầu và các chất gây ô nhiễm bị phân tán, lan truyền nhanh và rộng, ảnh hưởng tới một
vùng diện tích rộng nhưng đồng thời cũng dễ bị phân hủy. Càng xa bờ, càng xa nguồn thải, nồng độ
dầu, nồng độ chất ô nhiễm càng giảm. Tới khoảng cách hàng chục, hàng trăm km thì hàm lượng dầu
và các chất ô nhiễm khác có thể trở lại bình thường.
1.4. Vai trò của biển Đông đối với các hoạt động kinh tế - xã hội
Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng
và của thế giới nói chung. Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độ
phát triển kinh tế rất cao. Do tầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh
tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay
gắt.
Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ''Thế kỷ của đại dương'', bởi cùng với tốc độ
tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái
tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển,
nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để
khai thác và khống chế biển. Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là các nước
lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình, vươn ra điều tra,
khai thác tài nguyên trên đại dương. Do ý nghĩa và vai trò quan trọng của biển nên sự hợp tác quốc
tế về biển cũng không ngừng được mở rộng, bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý mà tập
trung nhất là Công ước biển năm 1982 của Liên Hợp quốc, hình thành các cơ chế, tổ chức hợp tác
toàn cầu và khu vực.
1.4.1. Vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển Việt Nam
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu km
2
. Bờ biển Việt Nam dài
khoảng 3.260 km, trải dài trên 13 vĩ độ, có tỷ lệ chiều dài đường biển trên diện tích đất liền cao nhất
Đông Nam Á và đứng thứ 27/157 nước có biển trên thế giới (trung bình của thế giới là 600 km
sản rắn, vật liệu xây dựng đã được phát hiện rất nhiều ở dải ven biển. Tại các vùng nước biển sâu,
xa bờ còn có nhiều tiềm năng chứa hydrat metan (băng cháy). Trong các vùng biển Việt Nam đã
biết khoảng 35 loại hình khoáng sản có quy mô trữ lượng khác nhau từ nhỏ đến lớn, thuộc các nhóm
nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý, khoáng sản lỏng.
Biển và biển ven bờ Việt Nam chứa nhiều sa khoáng như Ti, Zr, Sn... và vật liệu xây dựng
(cát, cuội, sỏi...) làm vật liệu san lấp. Đây là lợi thế so sánh phát triển công nghiệp khai khoáng ven
biển của nước ta, đặc biệt phải tính đến tác động của điều kiện Biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Tuy nhiên, tài nguyên khoáng sản biển nói chung và dầu khí nói riêng thuộc nhóm tài nguyên không
tái tạo, nên rất cần xây dựng chính sách, chiến lược quy hoạch, khai thác và sử dụng tài nguyên
khoáng sản một cách hợp lý để phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác
nguồn khoáng sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam ước tính khoảng 10 tỉ tấn dầu quy
đổi.Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi
nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng
thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước.[15]
Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có tiềm năng về khí - điện - đạm và năng lượng biển cũng
rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt.
1.4.3. Tài nguyên sinh vật
Biển Việt Nam rất giàu và phong phú, đa dạng về các dạng sinh vật, ước tính gồm hơn
12.000 thực vật, trong đó có khoảng 7.000 loài cây thực vật lớn (macrophytes) và 1.400 loài nấm.
Về động vật có 273 loài động vật có vú, 638 loài chim (1009 loài nếu tính cả loài phụ), 349 loài
động vật lưỡng cư và bò sát, hơn 500 loài cá nước ngọt, hơn 2.000 loài cá biển, hàng nghìn loài
động vật không xương sống hiện đã được xác định. [58]
Ngoài ra, vùng biển nước ta còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắn biển, chim
biển, thú biển. Vùng biển và đảo Việt Nam còn là nơi cư trú lý tưởng của trên 50 loài chim di cư,
trong đó chim yến cho sản lượng khai thác khoảng 4000kg yến sào mỗi năm. Hơn 300 loài san hô
cứng được tìm thấy ở vùng biển Việt Nam. Ở miền Nam xác định được 277 loài san hô cứng thuộc
72 giống. Ở miền Bắc xác định được ít hơn, có 165 loài thuộc 52 giống. Khoảng 17 loài san hô thân
mềm và 20 loài san hô sừng cũng được tìm thấy ở vùng biển Việt Nam.
Biển nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, có tính chất riêng về
Lớp cảnh quan sinh thái núi phân bố thành một dải từ Bắc xuống Nam bao gồm chủ yếu các
dãy núi trung bình và thấp với độ cao từ 1600 – 1500m đến 600 – 700m. Lớp cảnh quan núi được
chia ra làm 2 phụ lớp: phụ lớp cảnh quan núi trung bình và phụ lớp cảnh quan núi thấp
Cũng như lớp núi, lớp cảnh quan sinh thái đồi cũng được phân bố suốt từ Bắc xuống Nam
nhưng rải rác hơn, trong đó tập trung chủ yếu ở các khu vực rìa đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và
Nam Bộ.
Lớp cảnh quan sinh thái đồng bằng bao gồm toàn bộ các đồng bằng ven biển và hầu hết được
sử dụng để canh tác, ngoại trừ các khu vực tiếp giáp với đồi núi còn bỏ hoang. Hiện nay lớp cảnh
quan sinh thái đồng bằng đã được sử dụng triệt để vào sản xuất nông nghiệp.
Các phân vị cơ sở này có ý nghĩa thiết thực nhất, chúng cung cấp những thông tin khoa học
quan trọng, đầy đủ và cụ thể nhất về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của lãnh thổ, cấu
trúc của chúng theo không gian, cũng như chức năng và động lực phát triển của chúng...làm cơ sở
cho việc đánh giá tổng hợp lãnh thổ phục vụ cho các mục đích sử dụng cụ thể.
1.4.5. Tài nguyên địa hình biển
Địa hình ven biển Việt Nam rất đa dạng và phức tạp với gần 40 kiểu địa hình khác nhau
thuộc 4 nhóm chính là: [60]
Nhóm kiểu địa hình núi (gồm 11 kiểu): được tách ra khỏi các địa hình khác bởi độ chênh cao
trên 150m. Đối với địa hình này cần có kế hoạch khai thác sử dụng hợp lí, tránh những tác
động của quá trình ngoại sinh, đồng thời cần bảo vệ lớp phủ thực vật để bảo vệ lớp phủ thổ
nhưỡng.
Nhóm kiểu địa hình đồi (gồm 4 kiểu): được tách ra khỏi các địa hình khác bởi độ chênh lệch
cao từ 10 – 150m. Tại khu vực phía Bắc điển hình là ven biển Quảng Ninh, còn từ Nam đèo
Hải Vân trở vào điển hình là Ninh Thuận, Bình Thuận và Đông Nam Bộ. Nhóm địa hình này
khá thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê hoặc cây
màu…Tuy nhiên cần canh tác hợp lí để tránh gây xói mòn, thoái hóa đất và các quá trình
mương xói nhất là với dạng đồi bát úp.
Nhóm địa hình đồng bằng (có 16 kiểu): gồm 2 phụ nhóm là đồng bằng tích tụ trên các trũng
tân kiến tạo và đồng bằng tích tụ, tích tụ - bóc mòn trên rìa miền nâng. Đối với đồng bằng
trên các trũng vòng tân kiến tạo là đồng bằng delta lớn, rất thuận tiện cho phát triển nông
nghiệp, trước hết là lúa và cây công nghiệp ngắn ngày. Nhưng trong quá trình khai thác cần