BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Huỳnh Thò Thu Tâm TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH ĐẾN HUYỆN CẦN GIUỘC, CẦN ĐƯỚC
TỈNH LONG AN DƯỚI GÓC ĐỘ ĐỊA LÝ KINH TẾ-XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐẶNG VĂN PHAN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới
các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề
tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Đặng Văn Phan - người đã tận
tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Qua đây, tác giả cũng trân trọng cảm ơn c
ác cơ quan: Văn phòng Ủy
ban Nhân dân, văn phòng Huyện ủy, phòng Thống kê, phòng Tài
nguyên&Môi trường, phòng Công thương, phòng Nông nghiệp&Phát triển
nông thôn huyện Cần Giuộc, Cần Đước,... đã giúp đỡ tác giả trong quá
trình thu thập số liệu, tài liệu và thông tin có liên quan đến nội dung nghiên
cứu.
Cuối cùng, tác giả xin lời cảm ơn đến trường THPT Cần Đước, bạn bè,
đồng nghiệp và người th
năm qua Thành phố Hồ Chí Minh là nhân tố tác động đến kinh tế - xã hội Cần
Giuộc, Cần Đước sâu sắc. Việc chuyển nguồn vốn đầu tư từ Thành phố Hồ Chí
Minh đến Long An đã tạo nên mối liên kết giữa Thành phố Hồ Chí Minh với Cần
Giuộc, Cần Đước trong việc khai thác tài nguyê
n, nguồn nhân lực, vốn, thị trường,
cơ sở hạ tầng ,…góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội hai huyện này phát triển hơn. Xu
hướng trên cũng làm cho diện tích đất nông nghiệp - một phương tiện kiếm sống của
người nông dân bị thu hẹp dần, môi trường sống bị ô nhiễm,…
Hiện nay, với sức ép gia tăng dân số cơ giới đã làm đô thị hóa Thành phố Hồ
Chí Minh ngà
y càng lan rộng ra ngoại thành, tác động đến các tỉnh nằm gần thành
phố. Trong thời gian tới, với việc quy hoạch, mở rộng vùng Thành phố Hồ Chí Minh
về các hướng, trong đó có hướng về phía tỉnh Long An (Nam - Tây Nam) sẽ làm cho
kinh tế - xã hội - môi trường ở huyện Cần Giuộc, Cần Đước càng bị tác động mạnh.
Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của hai huyện dưới tác động
của quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh ở một số mặt để từ đó có những
giải pháp mang tính khả thi nhằm phát triển kinh tế - xã hội Cần Giuộc, Cần Đước
trong thời gian tới. Chính vì vậy mà chúng tôi đã chọn đề tài “Tác động
của quá
trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh
Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội” để nghiên cứu với mong muốn góp
phần nhỏ bé vào sự phát triển của huyện nhà.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Làm rõ tác động của quá trình đô thị hóa nói chung và Thà
nh phố Hồ Chí
Minh nói riêng đến một số mặt kinh tế - xã hội huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh
Long An và ngược lại.
Qua đó đề ra các định hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy những thế
mạnh cũng như hạn chế những mặt tiêu cực từ quá trình đô thị hóa mang lại, góp
phần phát triển kinh tế - xã hội Cần Giuộc, Cần Đước trong thời gian tới, đời sống
thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh sẽ mở rộng thêm về quá khứ (từ năm 1975 đến
2007).
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề đô thị hóa từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà Địa lý
trên thế giới, nhưng ở Việt Nam quá trình nghiên cứu vấn đề này gần đây mới được
chú ý đến. Theo GS. Đàm Trung Phường - nhà đô thị lão thành thuộc lớp kiến trúc
sư đầu tiên tham
gia quy hoạch xây dựng lại các đô thị miền Bắc bị tàn phá trong
kháng chiến chống Pháp (1945 -1954) và nhiều thành phố công nghiệp mới của Việt
Nam, cho rằng: “cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa có ai viết sách và tiếp cận có
hệ thống”.
Năm 1995 cuốn “Đô thị Việt Nam tập I, tập II ” của GS. Đàm Trung Phường
ra đời và đã được tái bản lần thứ nhất vào năm
2005, tác giả tập trung giải quyết 2
vấn đề cơ bản là:
---------------------------------------------------
1
Ngày 06 tháng 02 năm 2001 biên bản hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữa tỉnh Long An và TP.HCM được kí kết
và
thực thi tạo điều kiện cho một số huyện của tỉnh Long An nằm tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơ hội và thách
thức phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có huyện Cần Giuộc, huyện Cần Đước.
“Biên bản hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữa tỉnh Long An và TP.HCM”: Xem phụ lục
+ Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam và nghiên cứu những định
hướng phát triển trong bối cảnh đô thị hóa thế giới và tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của thời kỳ đổi mới nước ta.
+ Mở rộng những khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của
thế giới, cập nhật những thông tin liên quan đến đô t
hị trong nước để tham khảo cho
thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị” của Trần Trọng Hanh (Nxb Xây dựng 2008);
“Địa lý đô thị”của Phạm Thị Xuân Thọ (Nxb Giáo dục 2008); vv…. Ngoài các công
trình kể trên còn có bài viết của một số tác giả được đăng trên các tạp chí hoặc báo
cáo tại các hội thảo khoa học.
Các công trình nghiên cứu cũng như các hội thảo trên đã đề cập rất nhiều vấn
đề từ lý luận đến thực tiễn đô thị hóa trên thế giới và trong cả nước, kể cả TP.HCM.
Nhưng nhìn chung, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến tác
động của quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long
An. Chính vì vậy, luận văn này có thể đư
ợc xem là một trong những công trình đầu
tiên nghiên cứu về tác động của quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần
Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội.
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm
5.1.1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống của Địa lý học. Trong thực tế các sự
vật hiện tượng địa
lý luôn có sự phân hóa không gian làm cho chúng có sự khác biệt
giữa nơi này với nơi khác. Do đó, khi nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa
TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An phải tìm hiểu mối quan hệ
bên trong lãnh thổ và mối quan hệ giữa lãnh thổ nghiên cứu với các lãnh thổ lân cận.
, đó chính là mối quan hệ không gian tương tác của đối tượng nghiên cứu.
5.1.2. Quan điểm hệ thống
Đô thị hóa là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính quy luật.
Đô t
hị hóa diễn ra trong mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của cách mạng khoa
học kỹ thuật làm thay đổi kinh tế - xã hội, môi trường sống. Vì vậy, các tác động của
quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An cần
được xem như là một hệ thống nằm
tìm ra mối liên hệ giữa đô thị hóa với kinh tế - xã
hội. Qua đó, đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế - xã hội.
5.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Nhằm chứng minh, làm sáng tỏ sự biến đổi của các hiện tượng kinh tế - xã hội,
sự tác động của các yếu tố với nhau, ngoài việc dùng số liệu tương đối và tuyệt đối
để chứng minh, chúng ta còn cụ thể hóa bằng các biểu đồ, bản đồ thích hợp.
Bản đồ - biểu đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa lý. Việc sử dụng
phương pháp này giúp cho các vấn đề nghiên cứu được cụ thể, trực qua
n và toàn
diện hơn. Một số bản đồ trong luận văn được xây dựng bằng phần mềm Mapinfo 7.5
dựa trên các dữ liệu đã thu thập và xử lý.
5.2.4. Phương pháp dự báo
Chúng tôi sử dụng phương pháp dự báo dựa trên cơ sở tính toán từ các số liệu
đã thu thập được và sự phát triển có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong
quá khứ, hiện tại và tương lai.
5.2.
5. Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp cần thiết đối với nghiên cứu để có thể xác định mức độ
tin cậy của các tài liệu, số liệu đã thu thập được. Tác giả đã điều tra thực tế một số
nơi trên địa bàn, trực tiếp quan sát những thay đổi về kinh tế - xã hội, môi trường
dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa. Qua các thông tin và tìm hiểu thực địa, tác
giả khẳng định lại mức độ tin cậy của số liệu và những nhận định đã có.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Sưu tầm, tổng hợp, phân tích và rút ra những tác động từ quá trình đô thị hóa
Thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến Cần Giuộc, Cần Đư
ớc.
Chương 1- ĐÔ THỊ HÓA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1. Đô thị
1.1.1. Khái niệm
Đô thị là một thực thể đã xuất hiện trong lịch sử xã hội loài người từ xa xưa,
khi ở nơi này, nơi khác bắt đầu hình thành cách thức sinh hoạt khác biệt nếp sinh
hoạt vẫn hằng tồn tại ở thôn quê gắn với nền sản xuất nông nghiệp. Những thực thể
hình thành nên đô thị sau một quá trình chuyển động tổng hợp của những điều kiện
ban đầu như sự định cư và
tăng dân số trên một vùng nào đó, hoặc là do sự phát
triển công nghiệp, thương mại phát triển. Trong các điều kiện ấy, trạng thái định cư
dần dần biến đổi về chất, từ cộng đồng tập trung ở các địa phương, cô lập, tự cung tự
cấp với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, trở thành một hì
nh thái tập trung dân cư
với những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp.
Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những thuật ngữ khác nhau chỉ đô thị
như thị trấn, thị xã, thành phố - Đô thị là thuật ngữ tổng quát dùng để chỉ các loại
khu định cư có tính chất phi sản xuất nông nghiệp và qui mô đô thị khác nhau. Có
nhiều khái niệm khác nhau về đô thị:
Theo Ratzel ( 1960): “Đô t
hị là sự tích tụ lâu dài của người và chỗ ở của họ,
chiếm một không gian không đáng kể và nằm giữa các cộng đồng lớn…” Ông cũng
Đô chính là nơi làm việc của bộ m
áy quan lại triều đình phong kiến ở trung
ương và địa phương, cũng là nơi của vua quan, gia đình và dòng tộc,…
Thành là các thành quách và đơn vị quân đội thường trực có nhiệm vụ canh
gác và bảo vệ “đô”.
Thị dùng để chỉ thị trường buôn bán hàng hóa. Có “thành” và “đô” tất yếu
phải có trao đổi, buôn bán. Nơi tập trung buôn bán chính là các chợ. Việc xuất hiện
của chợ sẽ kéo theo sự tụ tập dâ
n cư và cơ sở kinh tế khác, nhất là tiểu thủ công
nghiệp.
Ngày nay với sự phát triển của phương tiện bảo vệ hiện đại, các thành quách
không còn là phương tiện bảo vệ hiệu quả nữa, nên khi xây dựng các đô thị người ta
không xây dựng các thành quách bao quanh. Bên cạnh đó, các lực lượng bảo vệ như
quân đội, cảnh sát cũng trở th
ành một đơn vị trong “đô”. Chính vì vậy, “thành”
không còn đóng vai trò quan trọng trong đô thị hiện đại, mà thay vào đó là các yếu
tố thuộc cơ sở hạ tầng như: giao thông, điện nước, nhà cửa, y tế, giáo dục, văn
hóa,…
Theo từ điển Tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học, đô thị là “nơi dân cư đông
đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị trấn”.
[57, trang 332]
Theo các tác giả của công trình Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, đô thị là
“điểm dân cư tập trung với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ
sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm chuyê
n ngành tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một
huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện”. [49, tr.14]
Từ đó, có thể hiểu đô thị là nơi tập trung dân cư rất đông đúc, nơi đó dân cư
chủ yếu hoạt động trong các ngành sản xuất công nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý
hành chánh, văn hoá và các chức năng phi nông nghiệp khác. N
nghiệp và dịch vụ công cộng, du lịch, văn hóa, y tế, giáo dục, hành chính,…
- Lao động sản xuất nông nghiệp ở ngoại thành.
- Cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước, thông tin, vệ sinh và các công trình
công cộng phục vụ văn hóa xã hội, phục vụ giáo dục và đào
tạo, nghiên cứu khoa
học như: công viên, câu lạc bộ, rạp hát, rạp chiếu phim, viện bảo tàng, trường học,
viện nghiên cứu khoa học, bệnh viện,…
Đến năm 2001, theo nghị định 72/2001/NĐ-Cp ngày 5/10/2001 theo quy định
đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau:
1. Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành.
2. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4.000 người.
3. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trên 65% trong tổng số lao động.
4.
Có đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội đạt từ 70% trở lên mức tiêu chuẩn,
quy chuẩn đối với từng loại đô thị.
5. Mật độ dân số thay đổi theo từng loại đô thị, từng vùng.
Việc xác định quy mô, vai trò, chức năng của đô thị dựa vào hiện trạng và kết
quả nghiên cứu phân bố lực lượng sản xuất, sơ đồ quy hoạch vùng. Mỗi đô thị có
một không gian và địa giới riêng,
bao gồm nội thị và ngoại ô, tùy thuộc vào loại đô
thị và đặc điểm tự nhiên của vùng kế cận. Mỗi đô thị có các ngoại ô khác nhau,
ngoại ô có chức năng hỗ trợ cho nội thị. Ngược lại, ngoại ô là vành đai chịu ảnh
hưởng của nội thị về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội.
Sự phát triển mạnh các chức năng KT - X
H và quá trình đô thị hóa mạnh mẽ
làm cho các đô thị có xu hướng không ngừng mở rộng vành đai ra ngoại thành. Việc
điều chỉnh ranh giới đô thị sẽ là điều tất yếu đối với nhiều đô thị có sức hút lớn (các
đô thị đặc biệt, loại I,loại II, loại III, loại IV), riêng các đô thị loại V không có ngoại
ô.
Từ thực tế tình hình đô thị hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng như các chiến
I Đô thị rất lớn, là
trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hóa, khoa
học kĩ thuật, du lịch
dịch vụ, đầu mối giao
thông, giao lưu trong
nước và quốc tế, có
vai trò thúc đẩy sự
phát triển KT - XH
của một vùng lãnh thổ
liên tỉnh hoặc cả
nước.
Từ 500.000
đến 1,5 triệu
12.000
người
/km
2
, tỉ lệ
lao động
phi nông
nghiệp
trên 85%
Vùng,
Quốc
gia
Nhiều mặt
đồng bộ và
hoàn chỉnh
II Đô thị lớn là trung
học kĩ thuật, đào tạo,
du lịch dịch vụ, đầu
mối giao thông, giao
lưu trong nước và
quốc tế, có vai trò
thúc đẩy sự phát triển
KT - XH của cả nước.
Từ 1,5 triệu
trở lên
Từ 15.000
người/km
2
trở lên, tỉ
lệ lao động
phi nông
nghiệp từ
90% trở
lên
Quốc
gia
Về cơ bản
đồng bộ và
hoàn chỉnh
văn hóa, khoa học kĩ
thuật, du lịch dịch vụ,
đầu mối giao thông,
giao lưu trong tỉnh,
vùng liên tỉnh hoặc cả
nước, có vai trò thúc
nông
nghiệp
trên 75%
Tỉnh,
liên tỉnh
Từng mặt
đồng bộ và
hoàn chỉnh
IV Là trung tâm tổng
hợp hoặc chuyên
ngành về chính trị,
kinh tế, văn hóa, khoa
học kỹ thuật, dịch vụ,
đầu mối giao thông,
giao lưu trong tỉnh, có
vai trò thúc đẩy KT -
XH của một tỉnh hoặc
một vùng trong tỉnh.
Từ 50.000
đến 100.000
6.000
người/km
2
,
tỉ lệ lao
động phi
nông
nghiệp
trên 70%
Huyện Đã hoặc
chỉnh
=> Dựa theo các tiêu chí trên, Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt.
1.1.3. Vai trò của đô thị
Có những quan điểm khác nhau đánh giá vai trò của đô thị:
Quan điểm 1: Đô thị lớn làm suy yếu các vùng xa trung tâm vì trong quá trình
phát triển, sự cách biệt của giữa các đô thị và các vùng xung quanh càng tăng
thêm.[29, tr.145]
Quan điểm 2: Những đô thị lớn là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất
nước, của khu vực.[
53, tr.37]
Ở đây, chúng tôi nghiêng về quan điểm thứ hai hơn, vì thời đại nào thì các đô
thị đều là nơi có tiềm lực lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, có sức chi phối mạnh mẽ,
ảnh hưởng đến các vùng xung quanh và ảnh hưởng đến sự phát triển KT - XH của
mỗi quốc gia.
Trong xu thế toàn cầu hóa, các thành phố lớn được mệnh danh là “thành phố
trung tâm kinh tế quốc tế” hay thành phố thế giới (global city) có sức mạnh c
hi phối
đối với nền kinh tế, chính trị thế giới. Ở phạm vi một quốc gia, đô thị là hạt nhân tạo
vùng kinh tế, với vai trò là trung tâm công nghiệp, dịch vụ, hành chính, văn hóa,
khoa học kỹ thuật. Ngoài ra, nó còn tạo ra lực hút kinh tế, dịch vụ và chi phối đời
sống KT - XH đối với các vùng xung quanh, các đô thị khác và cả vùng. Sức hút của
đô thị phụ thuộc vào quy mô của bản thân đô thị, vào tiềm lực của đô thị, khoảng
cách của đô thị nà
y với các đô thị khác. Đồng thời, sức hút của đô thị còn thay đổi
phụ thuộc vào sự phát triển tương quan giữa các đô thị trong vùng. Sức lan tỏa ảnh
hưởng của đô thị càng lớn thì quy mô vùng kinh tế càng lớn, tiềm lực vùng kinh tế
càng mạnh. Trong vùng kinh tế, các đô thị lớn (thành phố) là hạt nhân chính, các đô
thị vệ tinh và các đô thị nhỏ là hạt nhân phụ. Hệ thống đô thị trong vùng là bộ khung
của vùng kinh tế.
Các đô thị có mối liên hệ với nhau trong mạng lưới tạo nên sự trao đổi hàng
km
2
vào năm 1698, khi đó cả Sài Gòn và Bến Nghé mới chỉ có 5.000 dân. Vào thời
điểm ban đầu, chúng được gọi là trấn.
Ngay từ khi xuất hiện, hạt nhân này diễn ra quá trình tích tụ và phân tán. Tự
nó tỏa ra một sức hút khiến cho mọi người đổ dồn về ngày càng đông. Cùng với sự
tụ hợp của con người là sự hình thành nhà ở, công sở, quán xá, chợ, bệnh viện,
trường học,… với mật độ ngà
y càng dày đặc. Đó chính là cơ sở để hình thành một
kiểu cư trú mới, khác cư trú nông thôn với đặc tính căn bản là tập hợp một số lượng
người đông trên một lãnh thổ hạn chế với một mật độ cao và hoạt động phi nông
nghiệp. Cũng chính từ trung tâm này, xuất hiện sự mở rộng dần ra theo kiểu lan tỏa,
tựa như những sóng vòng đồng tâm. Các thành phố tiền công nghiệp có tốc độ bành
trướng chậm, n
hưng khi chuyển sang xã hội công nghiệp thì sự bành trướng diễn ra
cực kì nhanh chóng. Khi mà sự bành trướng này đạt đến độ tối đa (maximum size)
sẽ tạo ra một đại đô thị đơn cực. Tức là một thành phố khá lớn về diện tích và có một
lượng dân cư khá đông đảo, nhưng điều đặc biệt nhất là nó chỉ có một trung tâm
duy nhất, sự phát triển diễn ra the
o kiểu lan tỏa từ một trung tâm (megacity).
Một thành phố cho dù bành trướng có kế hoạch hay tự phát thì không thể quá
ngưỡng (sự giới hạn của đất đô thị, phạm vi hành chính, khả năng quản lý, sức chứa
dân số). Lúc này đô thị sẽ rơi vào tình trạng: một mặt bản thân nó muốn tiếp tục mở
rộng diện tích ra (theo chiều không gian) và tăng lượng dân cư cũng như tạo ảnh
hưởng ra c
ác vùng xung quanh. Mặt khác, do các yếu tố khách quan bắt buộc nó
phải ngưng tiến trình bành trướng. Bởi một khi mật độ dân số vượt quá ngưỡng sẽ
đưa đến sự bùng nổ, khủng hoảng đất đai, môi trường. Vì cũng như mọi cơ thể sống
khác, nó không tải thêm được nữa. Để thoát khỏi tình trạng này, sẽ có những thành
tố mới xuất hiện để chia sẽ với chính bản thân nó. N
ho các tập
đoàn kinh tế; thành phố công nghiệp là nơi tập trung các nhà máy, KCN, KCX.
* Đô thị vệ tinh (Satellite): Một đô thị được gọi là vệ tinh phải thỏa mãn các
yêu cầu sau đây[16, tr.17]:
- Nó là một thành phố hoàn chỉnh để có thể trở thành một đơn vị độc lập tương
đối về cơ cấu tổ chức không gian (quy hoạch), cơ cấu chính trị (tổ chức chính trị xã
hội, tổ chức hành chính), cơ sở hạ tầng kỹ thuật (điện, cấp và t
hoát nước, giao thông,
xử lí rác thải) và hạ tầng xã hội (bệnh viện, trường học, nhà trẻ, phòng chữa
cháy,v.v. Tóm lại, “Về lý thuyết thì một thành phố vệ tinh đúng nghĩa phải là một
đơn vị đô thị hoàn chỉnh, có một hệ thống quản lý riêng, độc lập về hành chính
nhưng lại nằm trong cơ cấu của một thành phố lớn”.
- Nó phải nằm trong cùng một lãnh thổ với thành phố trung tâm, khoảng cách
không quá xa, (dễ ly tâm), cũng không quá gần (dễ bị thành phố hút vào). Trong
thực tế, những thành phố vệ tinh của Châu Á đều nằm
trong bán kính 50 km, tính từ
tâm cũ của thành phố.
- Về quan hệ vĩ mô: Nó thuộc mạng lưới chung của cả vùng. Có thể nó có sự
độc lập tương đối về bộ máy hành chính và quản lý đô thị, nhưng nó phải chịu sự
định hướng chiến lược và lãnh đạo chính trị chung từ thành phố trung tâm (còn gọi
là thành phố mẹ). Điều này giúp cho các thành phố vệ tinh không đi chệch ra khỏi lộ
trình phát triển.
-
Về dân số: Nó phải có một lượng dân số cần và đủ cho một đô thị (một thành
phố vệ tinh đứng độc lập có thể là 100.000 dân trở lên, nếu một cụm các đô thị vệ
tinh đứng gần nhau thì mỗi thành phố có thể là 30.000 - 50.000 dân), nếu ít quá sẽ
không có được sức hút. Nó cũng cần có một lực lượng lao động tại chỗ, nếu nó tồn
tại nhờ lực lượng “con lắc” từ nơi
khác đến thì thành phố đó không đảm nhiệm được
vai trò vệ tinh mà chỉ tồn tại theo kiểu “ngày tấp nập, đêm trống rỗng”.
biển, sân bay, đầu mối giao thông lớn,…), là những trung tâm trọng điểm của lãnh
thổ có sức hút. Và sức đẩy ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp xung quanh thành
phố. Thực tế cho thấy, khi đô thị lan tỏa đất nông nghiệp bị thu hẹp, diện tích cây
trồng bị mất đi. Quan điểm của V.Thunen có ý nghĩa
quan trọng, nó lập luận cho
việc xác định vai trò của một trung tâm và thiết lập vành đai nông nghiệp tối ưu.
Cũng theo quan điểm của V.Thunen, xung quanh một thành phố trung tâm có
thể tồn tại và phát triển 5 vành đai sản xuất chuyên môn hóa nông nghiệp theo nghĩa
rộng là: vành đai 1 là vành đai thực phẩm; vàn
h đai 2 là vành đai thực phẩm - lương
thực; vành đai 3 là vành đai cây ăn quả - lương thực; vành đai 4 là vành đai lương
thực - chăn nuôi, vành đai 5 là vành đai lâm nghiệp. Tùy theo điều kiện cụ thể và tư
nhiên, tập quán sản xuất của dân cư và quy mô của thành phố trung tâm mà xác định
số lượng vành đai cũng như bán kính của mỗi vành đai nông nghiệp. Thực tế cho
thấy, đối với các đô t
hị lớn ở nước ta bán kính tác động tới sản xuất nông nghiệp kéo
dài hay mở rộng có thể từ khoảng 15 đến 25 km, khoảng cách mỗi vành đai cách
nhau từ 3 đến 5 km.
Tóm lại, về mặt cấu trúc vùng đô thị là một thể tổng hợp đa dạng gồm các
thành phố lớn (megacity), các thành phố trung bình (city), các thành phố, thị trấn
nhỏ (town) và các khu ở (neigh – borhood). Trong đó có một thành phố đóng vai trò
chủ đạo, ngoài ra có thể có một số thành phố đối trọng, thành phố đồng cấp hay các
thành phố vệ tinh, xe
n giữa chúng là các khu đệm sinh thái. Đặc điểm nổi bật và
quan trọng nhất của vùng đô thị là đa cực, phi tập trung hóa. Vùng đô thị có thể rất
lớn, khi ấy là sự kết nối các chùm đô thị với nhau tạo nên mạng đô thị (city net)
bằng hệ thống giao thông liên hoàn, đa cấp. Trong trường hợp này, các nhà đô thị
học đặt cho chúng với những cái tên rất mới khó tìm được trong từ điển như: liên
hợp đô thị (megalopolis), dải đô thị, chuỗi đô thị (urban string), ngân hà đô thị