Phân tích kinh tế trang trại tỉnh Đồng Nai từ góc độ địa lý kinh tế xã hội - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Ngô Thị Bích Thuận PHÂN TÍCH KINH TẾ TRANG TRẠI
TỈNH ĐỒNG NAI TỪ GÓC ĐỘ ĐỊA LÍ
KINH TẾ-XÃ HỘI

Chuyên ngành: Địa Lí Học ( Trừ địa lí tự nhiên )
Mã số: 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC


đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài. TPHCM, ngày tháng năm

Ngô Thị Bích Thuận

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT KT-XH : kinh tế xã hội
ĐDSH : đa dạng sinh học
TCLTNN : tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
KHKT : khoa học kĩ thuật
HTX : hợp tác xã
GDP : Gross dometic products (Tổng sản phẩm quốc nội)
ĐBSCL : đồng bằng sông cửu long
SXKD : sản xuất kinh doanh
GTGT : giá trị gia tăng
CNH-HĐH : công nghiệp hóa- hiện đại hóa
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Trong sự phát triển của nền nông nghiệp thế giới hiện đại, kinh tế trang trại có vị trí vô cùng

tế trang trại ở Tỉnh Đồng Nai từ góc độ địa lý kinh tế- xã hội” để mong tìm hiểu một lần nữa thực
trạng phát triển của kinh tế trang trại tại Đồng Nai cũng như chú trọng đến tìm hiểu hiệu quả sản
xuất của các trang trại từ đó tìm ra các giải pháp giúp kinh tế trang trại phát triển nhanh, hiện đại và
thực sự trở thành con đường thoát nghèo cho người lao động nơi đây.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
 Mục đích:
Tìm hiểu, nghiên cứu hiện trạng phát triển kinh tế trang trại ở Tỉnh Đồng Nai
Phân tích hiệu quả sản xuất của trang trại thông qua việc phân tích một số loại hình trang trại
từ đó đề xuất những giải pháp nhằm làm tăng thêm nữa hiệu quả sản xuất của các trang trại tại địa
phương này.
Đề tài sẽ là nguồn tư liệu cho các sinh viên khi tìm hiểu về vấn đề kinh tế trang trại; là tài liệu
tham khảo cho các giáo viên phổ thông khi tìm hiểu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trong chương
trình địa lí 12, hoặc tìm hiểu về
địa lí địa phương.
 Nhiệm vụ
Tìm hiểu các vấn đề cơ sở lý luận về kinh tế trang trại. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Việt
Nam từ kinh tế hộ gia đình chuyển sang sản xuất hàng hóa
quy mô lớn.
Phân tích thực trạng phát triển và phân bố kinh tế trang trại ở tỉnh Đồng Nai (tiến hành thu
thập số liệu, thực địa, điều tra mẫu một số trang trại…)
Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của
một số loại hình trang trại ở Tỉnh Đồng Nai
(dựa trên kết quả của điều tra mẫu )
Các kết quả phân tích được sẽ là cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm phát triển cũng như nâng
cao hơn nữa hiệu quả sản xuất của kinh tế trang trại tại địa phương này.
3. Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về hiện trạng phát triển kinh tế trang trại và hiệu quả sản xuất của
một số loại hình trang trại
Trong đề tài, cũng sử dụng mô hình kinh tế lượng (mô hình toán hồi quy tuyến tính bội) để
đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của một số loại hình trang trại trên địa bàn

triển đòi hỏi sự cân bằng cả về ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Chính vì thế, kinh tế trang
trại- một trong những hình thức tổ chức sản xuất của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, không chỉ chú ý
đến khía cạnh kinh tế mà cũng cần phải chú ý đến yếu tố môi trường để đảm bảo sự ổn định, lâu dài
và bền vững.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
 Phương pháp tổng hợp thống kê, phân tích, so sánh
Việc thu thập, tổng hợp số liệu sẽ là những dẫn chứng, minh họa cho vấn đề nghiên cứu. Vì
vây tổng hợp thống kê và phân tích, so sánh số liệu thống kê để làm rõ thực trạng phát triển kinh tế
trang trại trên một lãnh thổ, làm cơ sở để đưa ra những giải pháp phát triển sau này.
 Phương pháp toán học- dự báo:
Cho phép tổng hợp hóa, đơn giản hóa các thông số hoạt động, các mối liên hệ đa dạng phức tạp
của các đối tượng nghiên cứu địa lý kinh tế xã hội trong thực tiễn, làm nổi bật các đặc trưng cơ bản,
quy luật vận động của đối tượng
Sử dụng toán học ( mô hình hàm hồi quy tuyến tính đơn, hàm hồi quy tuyến tính bội…) để hỗ
trợ cho việc đánh giá vấn đề một cách chính xác, khoa học. Từ đó giúp định hướng chiến lược, xác
định các mục tiêu phát triển trước mắt và lâu dài của kinh tế trang trại ở Đồng Nai một cách khách
quan, có cơ sở khoa học, phù hợp với hiện thực và xu thế phát triển của hiện thực.
 Phương pháp bản đồ- biểu đồ:
Bản đồ- biểu đồ là một kênh thông tin quan trọng đặc biệt đối với ngành địa lý. Các nghiên cứu
địa lý kinh tế xã hội được khởi đầu bằng bản đồ và kết thúc cũng bằng bản đồ, bản đồ là “ngôn ngữ”
tổng hợp, ngắn gọn, súc tích, trực quan của đối tượng nghiên cứu. Không những có giá trị thẩm mỹ
cao mà còn cung cấp một lượng thông tin lớn góp phần minh họa, làm rõ hơn vấn đề.
 Phương pháp thực địa:
Là phương pháp cần thiết để có thể lấy được thông tin chính xác và cập nhật, cũng là phương
pháp quan trọng đặc biệt trong ngành địa lý. Sử dụng phương pháp này giúp tránh được những kết
luận chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực tiễn. Giúp đánh giá xác định lại một cách đầy đủ, chính
xác tài liệu đã có, đồng thời bổ sung kịp thời những nội dung mới được phát hiện trong quá trình
khảo sát
 Phương pháp chuyên gia:
Qua việc tổng hợp các ý kiến của các chủ trang trại từ các phiếu điều tra trang trại trong tỉnh

- Đề án phát triển kinh tế trang trại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010-2015, 2009, Ủy ban nhân
dân tỉnh Đồng Nai
Ngoài ra, còn một số bài báo viết về sự phát triển của các trang trại trồng cây ăn quả, trang trại
chăn nuôi…của một số huyện ở Tỉnh Đồng Nai:
- Đồng Nai- kinh tế trang trại đang khởi sắc, Trung tâm tin học bộ NN và PTNT, báo KHKT
nông nghiệp, 2/2008
- Tác giả Nguyễn Thương, Vấn đề tích tụ đất làm trang trại, theo báo Đồng Nai, 2008
- Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 112 năm 2008
6. Bố cục của đềtài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài còn có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ sở lý luận về trang trại
Chương 2: Phân tích kinh tế trang trại Tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại Tỉnh Đồng Nai.

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRANG TRẠI

1. Một số nhận thức về kinh tế trang trại
1.1. Khái niệm về kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại đã hình thành, tồn tại và phát triển trong lịch sử lâu dài của nền nông nghiệp
thế giới. Từ thời phong kiến, dù nền nông nghiệp năng xuất thấp, tính chất hàng hóa chưa thể hiện
rõ, thì ở Châu âu, các hình thức ban đầu của trang trại đã xuất hiện.
Một số quan niệm về kinh tế trang trại trên thế giới:
K.Marx khẳng định, điểm cơ bản của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hóa, khác với kinh
tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc. Nhưng cũng có điểm giống nhau là lấy kinh tế gia đình làm cơ
sở nòng cốt
Ở một số nước phát triển như Mỹ, Anh và một số nước ở Châu Á như Đài Loan, Hàn

xác định rõ các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại như sau:
- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa với qui mô lớn.
- Mức độ tập trung hóa và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so
với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở qui mô sản xuất như: đất đai, số lượng gia súc, lao
động, giá trị nông lâm thủy sản hàng hóa.
- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến
bộ khoa học kĩ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao
động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so
với kinh tế hộ.
Ngoài ra, thông tư này cũng đưa ra những tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại:
- Giá trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm:
+ Đối với các Tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền Trung từ 40 triệu đồng
trở lên .
+ Đối với các Tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
- Qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng
ngành sản xuất và vùng kinh tế
 Đối với trang trại trồng trọt:
* Trang trại trồng cây hàng năm:
+ Từ 2 ha trở lên đối với các Tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền trung
+ Từ 3 ha trở lên đối với các Tỉnh miền Nam và Tây Nguyên
* Trang trại trồng cây lâu năm:
+ Từ 3 ha trở lên đối với các Tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền trung
+ Từ 5 ha trở lên đối với các Tỉnh miền Nam và Tây Nguyên
+ Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên
* Trang trại lâm nghiệp:
+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
 Đối với trang trại chăn nuôi:
* Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò…
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

Đặc trưng chủ yếu của kinh tế nông hộ:
- Là đơn vị kinh tế cơ sở- vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng
- Là đơn vị kinh tế ở nông thôn, hoạt động sản xuất nông, lâm, thủy sản gắn với đất đai, điều
kiện thủy văn, thời tiết khí hậu và sinh vật
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao về sản xuất và tiêu dùng, căn bản dựa trên sự cân bằng
giữa nguồn lực sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của gia đình.
- Với lao động gia đình, với đất đai được sử dụng nối tiếp qua nhiều thế hệ gia đình, với tài
sản và vốn sản xuất chủ yếu của gia đình, của quan hệ gia tộc, quan hệ huyết thống, nên kể cả khi
kinh tế nông hộ gắn với khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại, gắn với thị trường, mà vẫn không
thay đổi bản chất, không bị biến dạng.
Kinh tế trang trại phát triển trên nền tảng kinh tế nông hộ, nhưng giữa hai loại hình này cũng
có nhiều điểm khác nhau, một số tiêu chí để phân biệt hai loại hình này:
- Về mục đích sản xuất: kinh tế nông hộ chủ yếu sản xuất để tiêu dùng (vẫn mang tính tự
cung tự cấp); kinh tế trang trại sản xuất chủ yếu để bán
(mang tính chất hàng hóa rất cao)
- Về qui mô sản xuất: qui mô sản xuất của kinh tế nông hộ nhỏ, trong khi đó kinh tế trang trại
lớn hơn, thậm chí gấp nhiều lần kinh tế nông hộ.
- Trình độ sản xuất: Trình độ sản xuất của kinh tế trang trại cao hơn kinh tế nông hộ, thể hiện
qua việc cơ giới hóa trong sản xuất (phần lớn có sử dụng máy móc, kĩ thuật)
- Mức độ quan hệ với thị trường: Mục đích sản xuất của kinh tế trang trại chủ yếu để bán nên
mức độ quan hệ với thị trường rất nhiều; Trong khi đó, tính tự cấp tự túc trong sản xuất làm giảm
khả năng mở rộng quan hệ với thị trường bên ngoài của kinh tế nông hộ.
- Khả năng tích lũy tái sản xuất: Với qui mô nhỏ hơn và lợi nhuận ít hơn, khả năng tích lũy tái
sản xuất của kinh tế hộ không nhiều. Ngược lại, với lợi thế hơn hẳn về diện tích và thu nhập thì khả
năng tích lũy tái sản xuất của trang trại cao hơn rất nhiều.
1.4 Tầm quan trọng của sự hình thành kinh tế trang trại
1.4.1 Tính tất yếu của sự hình thành kinh tế trang trại
Tích tụ và tập trung sản xuất là quy luật của quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn.
Khi mà tư liệu sản xuất, vốn, sức lao động được tập trung trên một quy mô nhất định thì mới có điều
kiện phát triển phân công lao động cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Nhờ đó những ưu thế của phân công

đó góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Tạo yêu cầu và khả năng đích thực cho sự hình thành và phát triển các hình thức hợp tác mới
của trang trại và nông hộ : tạo sự liên doanh liên kết trong sản xuất kinh doanh giữa trang trại với
các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân.
Nhìn chung, kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường:
Về mặt kinh tế: Phát triển kinh tế trang trại sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát
triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên
những vùng chuyên môn hóa cao. Mặt khác, việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại sẽ
góp phần phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn.
Bên cạnh đó, phát triển kinh tế trang trại còn giúp khai thác và sử dụng một cách đầy đủ, hiệu quả
các tiềm năng của mỗi vùng lãnh thổ, đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế nông nghiệp và kinh tế
nông thôn.
Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại sẽ góp phần phát triển hộ giàu ở Nông thôn, tạo
việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Điều này rất có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề
lao động và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn. Mặt khác, phát
triển kinh tế trang trại sẽ góp phần phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn và tạo tấm gương cho hộ
nông dân về cách tổ chức quản lí sản xuất kinh doanh, góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn
đề xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn nước ta.
Về mặt môi trường: Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực lâu dài của mình
mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lí và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường,
trước hết là trong không gian sinh thái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng.
Những tác dụng tích cực đó rất phù hợp với các chủ trương của nhà nước:
“ Chuyển nền nông nghiệp nước ta còn mang tính tự cấp, tự túc ở nhiều vùng sang sản xuất
hàng hóa” (Nghị quyết 10 Bộ Chính trị, khóa VI ngày 5-4-1988)
“ Khai thác đồi núi trọc, bãi bồi ven biển, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt ngoài khơi, xây dựng
các nông – lâm – ngư trại với quy mô thích hợp” (Nghị quyết Hội Nghị Trung ương lần thứ 5 khóa
VIII)
“ Phát triển những mô hình trang trại nông nghiệp, phổ biến là trang trại gia đình, thực chất là
các hộ sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để
sản xuất kinh doanh có hiệu quả”

máu.
Thời kì phong kiến: Tính chất tư hữu về tư liệu sản xuất phát triển với trình độ khá cao, hình
thức tổ chức kinh tế phong kiến với những đặc trưng cơ bản là phát canh, thu tô ra đời thay thế cho
hình thức tổ chức bóc lột lao động trực tiếp, phương thức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp
nông thôn vẫn theo kiểu khép kín, việc trao đổi sản phẩm đã bắt đầu xuất hiện, nhưng cũng chỉ đối
với những sản phẩm được tạo ra vượt quá nhu cầu tiêu dùng trực tiếp, chứ chưa phát triển kinh tế
hàng hóa.
Thời kì tư bản: Với đặc trưng là kinh tế hàng hóa phát triển đã phá vỡ các quan hệ kinh tế
hiện vật là chủ yếu thời phong kiến, tính chất dân chủ trong kinh tế và trình độ công cụ sản xuất
phát triển như vũ bão qua hai cuộc cách mạng kĩ thuật, hình thức tổ chức kinh tế thời kì này rất đa
dạng, xoay quanh trục chính là kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường và chịu sự tác động
của qui luật giá trị. Trong nông nghiệp, xuất hiện kinh tế trang trại và đồn điền tư bản với hai đặc
trưng cơ bản là:
- Về mục đích sản xuất được chuyển thẳng sang sản xuất hàng hóa thay cho sản xuất
khép kín trước đây. Nếu trước đây sản xuất chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của nhà sản
xuất, thì nay cơ chế thị trường và qui luật giá trị đã buộc các nhà sản xuất nông sản hàng hóa muốn
tồn tại và phát triển thì phải sản xuất theo yêu cầu thị trường, được thị trường chấp nhận mới có thu
nhập và tăng lợi nhuận, có tích lũy.
- Về sở hữu tư liệu sản xuất trước đây chủ yếu thuộc về nhà Vua, đến chủ nghĩa tư bản
chủ yếu thuộc tư nhân được nhà nước tư bản công nhận.
Thời kì Xã Hội Chủ Nghĩa: Cũng với đặc trưng cơ bản là sản xuất hàng hóa phát triển ngày
càng cao cùng những tiến bộ vượt bậc về khoa học, công nghệ. Loài người càng cần đến sự phát
triển kinh tế trang trại như hình thức chủ yếu trong phát triển nông nghiệp.
Có thể tóm tắt lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình kinh tế trang trại trên thế giới như sau:
 Lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình kinh tế trang trại ở các
nước tư bản phát triển Châu âu và Bắc Mĩ:
Khi kinh tế hàng hóa bắt đầu xuất hiện và phát triển ở Châu Âu thông qua
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và các cuộc cách mạng tư sản diễn ra lần lượt ở các nước.
Điển hình nhất, là cuộc Cách Mạng Tư Sản Pháp năm 1789 đã kéo theo sự xuất hiện của hình thức
kinh tế trang trại đầu tiên trên thế giới thay thế cho kiểu sản xuất nhỏ của tầng lớp tiểu nông và hình

Loại hình kinh tế trang trại theo thời gian đã nhanh chóng lan sang các nước tư bản và các
nước thuộc địa khác, và dần trở thành một hình thức kinh
tế tiến bộ trên thế giới.
Chính K.Mark ở tác phẩm cuối cùng ông đã viết : “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát
triển, hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp qui mô
lớn mà là các trang trại gia đình.”
 Lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình kinh tế trang trại ở các
nước Châu Á
Ở các nước Châu á, nơi mà dường như không diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp hay cách
mạng tư sản lớn nào, mà hầu hết chịu tác động từ những thành quả phát triển kinh tế, xã hội của các
nước phương Tây. Chủ nghĩa phong kiến mà điển hình là phong kiến Trung Quốc đã khống chế gần
như toàn bộ phương thức sản xuất châu á, vào những năm mà châu Âu dồn dập nổ ra những cuộc
cách mạng công nghiệp và cách mạng tư sản, mở đường cho sức sản xuất phát triển. Cuối thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã bành trướng thế lực của mình vào Châu Á
bằng nhiều con đường, làm thay đổi dần phương thức sản xuất, nảy sinh mầm mống kinh tế hàng
hóa ở Châu á.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1939-1945), nhiều nước Châu á đã tiến hành cải cách ruộng
đất. Chính điều này đã tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển các trang trại gia
đình theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhưng điều kiện thực tế ở Châu Á đất hẹp, người đông, bình
quân đất canh tác chỉ có 0,15 ha/ người, nên các trang trại ở Châu Á chủ yếu là trang trại gia đình
với qui mô đất đai bình quân trên dưới 1 ha. Bên cạnh đó vẫn tồn tại hình thức đồn điền của tư bản
nước ngoài hoặc các quý tộc trong nước có quy mô lớn hàng trăm ha.
Khi xã hội chủ nghĩa ra đời, một số nước như: Liên xô, Tiệp khắc, Ba lan, Trung Quốc, Việt
Nam…tổ chức thêm nông trang, nông lâm trường quốc doanh, sản xuất và giao nộp sản phẩm theo
kế hoạch của nhà nước.
Trải qua hàng ngàn thế kỉ đến nay, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển từ những nước tư bản
công nghiệp lâu đời, đến các nước đang phát triển, các nước công nghiệp mới và các nước xã hội
chủ nghĩa với cơ cấu và qui mô sản xuất khác nhau.
Các trang trại gia đình được hình thành từ cơ sở các hộ tiểu nông sau khi phá vỡ cái vỏ bọc
sản xuất tự cấp tự túc khép kín, vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hóa và tiếp cận với thị

hàng hóa cao). Như vậy là trong phần lớn các trang trại, một phần là lao động thường xuyên, một
phần là lao động mùa vụ (trong thời gian thu hoạch, lao động thời vụ nhiều hơn hẳn lao động
thường xuyên của trang trại). Chính vì vậy, nhiều người e ngại rằng sẽ xuất hiện tình trạng bóc lột
sức lao động của người làm thuê, và có thể sẽ càng làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo.
- Vấn đề sở hữu: Chủ trang trại khác với chủ một nông hộ, họ có thể là một nhà đầu tư
vào nông nghiệp; trong nguồn gốc gia đình, họ có thể không trưởng thành từ một gia đình nông dân.
Nhưng họ đã mua, thuê lại trang trại để kinh doanh. Trên thế giới, có nhiều trường hợp chủ trang
trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất (đất đai, máy móc, chuồng trại, kho bãi…); Có trường hợp chủ
trang trại chỉ sở hữu một phần tư liệu sản xuất và một phần phải đi thuê của người khác; Cũng có
trường hợp chủ trang trại phải đi thuê toàn bộ tư liệu sản xuất (kể cả đất đai, diện tích mặt nước) của
một trang trại hoặc của nhà nước để sản xuất kinh doanh. Sự thay đổi các quan hệ sở hữu là cơ sở
dẫn đến sự thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn. Đây là vấn đề nhạy cảm, đã từng gây tranh cãi ở
nước ta.
Dù đã từng không được khuyến khích phát triển, nhưng không thể phủ nhận những lợi ích mà
loại hình kinh tế này mang lại cho nền nông nghiệp nói chung và người nông dân nói riêng. Bên
cạnh đó, trang trại còn là loại hình rất phù hợp với nền kinh tế hàng hóa mà chúng ta đang hướng
tới. Chính vì thế, dù chậm nhưng kinh tế trang trại vẫn phát triển, đặc biệt là sau đổi mới khi có
nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nước.
2.2.1 Cơ sở pháp lý để phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Những chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng đã tạo tiền đề, cơ sỏ pháp lí quan trọng
cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại:
Chỉ thị 100 CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khóa IV) chủ
trương khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, thì kinh tế hộ mới dần dần được
khẳng định là đơn vị kinh tế tự chủ. Đây là điều kiện cơ bản cho kinh tế trang trại ở Việt Nam ra đời
và phát triển. Sau đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV và V còn ra một loạt các chỉ thị
quan trọng khác liên quan đến khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực Nông, lâm
ngư nghiệp. Từ đó nông dân gắn bó hơn với đồng ruộng, làm giàu chính đáng bằng sức lao động
của mình. Kinh tế hộ nông dân bắt đầu phát triển sản xuất nông sản hàng hóa. Từ đó, kinh tế trang
trại đã manh nha xuất hiện.
Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính Trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI ( tháng

tiêu thụ sản phẩm, về bảo hộ các tài sản đã đầu tư của trang trại. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn đã có thông tư số 61/2000/TT/BNN-KH (6/6/2000) hướng dẫn lập quy hoạch phát triển
kinh tế trang trại.
Đứng ở góc độ địa lí, thì các văn bản hướng dẫn quy hoạch sản xuất có ý nghĩa quan trọng, vì
nhờ có qui hoạch mà kinh tế trang trại sẽ thực sự là một bộ phận của kinh tế nông thôn, phát triển
bền vững, tránh tự phát; Nhờ có qui hoạch mới có thể hình thành các vùng chuyên canh qui mô lớn,
tận dụng được các lợi thế so sánh của các địa phương về tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện
kinh tế xã hội, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ; Có qui hoạch thì các vấn đề về
bảo vệ môi trường sẽ có điều kiện giải quyết tốt và có hệ thống.
 Một số chính sách lâu dài của Nhà nước đối với kinh tế trang trại:
Nhà nước khuyến khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại. Các hộ gia đình, cá nhân đầu
tư phát triển kinh tế trang trại được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ổn định, lâu dài theo pháp luật để sản xuất kinh doanh.
Nhà nước đặc biệt khuyến khích việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả đất trống, đồi
núi trọc ở trung du, miền núi, biên giới, hải đảo, tận dụng khai thác các loại đất còn hoang hoá, ao,
hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển, mặt nước eo vịnh, đầm phá để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
theo hướng chuyên canh với tỷ suất hàng hoá cao. Đối với vùng đất hẹp, người đông, khuyến khích
phát triển kinh tế trang trại sử dụng ít đất, nhiều lao động, thâm canh cao gắn với chế biến và
thương mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trị kinh tế lớn. Ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với
những hộ nông dân có vốn, kinh nghiệm sản xuất, quản lý, có yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất
nông nghiệp hàng hoá và những hộ không có đất sản xuất nông nghiệp mà có nguyện vọng tạo dựng
cơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp.
Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ nông dân, phát triển
kinh tế trang trại đi đôi với chuyển đổi hợp tác xã cũ, mở rộng các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết
sản xuất - kinh doanh giữa các hộ nông dân, các trang trại, các nông, lâm trường quốc doanh, doanh
nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để tạo động lực và sức mạnh
tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn phát triển.
Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học-công nghệ, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ
tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại
phát triển bền vững.

đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ủy ban nhân dân các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan
địa chính khẩn trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để các chủ trang trại yên tâm đầu tư
phát triển sản xuất.
* Chính sách thuế
Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, nhất
là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho
trang trại với thời gian tối đa theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của
Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số
03/1998/QH10.
Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì hộ gia đình và cá nhân nông dân sản
xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Giao Bộ Tài
chính nghiên cứu trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 5
năm 1998 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng
quy định đối tượng nộp thuế là những hộ làm kinh tế trang trại đã sản xuất kinh doanh ổn định, có
giá trị hàng hóa và lãi lớn, giảm thấp nhất mức thuế suất, nhằm khuyến khích phát triển kinh tế
trang trại, được nhân dân đồng tình và có khả năng thực hiện.
Các trang trại được miễn giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai khi thuê
đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng
sản xuất, trồng cây lâu năm và khi thuê diện tích ở các vùng nước tự nhiên
chưa có đầu tư cải tạo vào mục đích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
* Chính sách đầu tư, tín dụng
Căn cứ vào quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp trên các địa bàn có điều kiện
kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, thông tin, cơ sở chế biến để khuyến khích
các hộ gia đình, cá nhân phát triển trang trại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực thuộc đối tượng quy định tại
Điều 8 mục I Chương II của Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính
phủ được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước và việc vay vốn tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước thực hiện theo các quy định của Nghị định này.

vùng.
Khuyến khích chủ trang trại góp vốn vào Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, liên kết với cơ sở
khoa học, đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật áp dụng vào trang trại và làm dịch vụ kỹ
thuật cho nông dân trong vùng.
* Chính sách thị trường.
Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các Tỉnh, Thành
phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ
thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và
ngoài nước.
Nhà nước hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cơ sở công nghiệp chế
biến ở các vùng tập trung, chuyên canh; hướng dẫn việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ
nông sản. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp chế biến nông sản
và tiêu thụ nông sản hàng hoá của trang trại và nông dân trên địa bàn.
Nhà nước khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch mua bán nông sản
và vật tư nông nghiệp. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận và tham gia các chương
trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nuớc.
Đẩy mạnh sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản thuộc các thành
phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp Nhà nước với hợp tác xã, chủ trang trại, hộ nông
dân.
Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình
và sản phẩm mua gom của trang trại khác, của các hộ nông dân và nhập khẩu vật tư nông nghiệp.
* Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại.
Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của trang trại không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng
biện pháp hành chính. Trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, Nhà nước
cần thu hồi đất được giao, được thuê của trang trại thì chủ trang trại được thanh toán hoặc bồi
thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố quyết định thu hồi.
Tóm lại: Có thể nói, với các Nghị quyết của Chính phủ bằng các Thông tư hướng dẫn cụ thể thì các
rào cản đối với kinh tế trang trại từng bước được gỡ bỏ, trước hết là đối với các yếu tố đầu vào ( đất
đai, vốn, lao động) của sản xuất Nông, Lâm ngư. Nhiều chính sách mở khác về tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp, thủy sản, về khuyến nông, khuyến ngư, chuyển giao công nghệ cũng được triển khai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status