xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hộithực tiễn tại phường thuận an, quận thốt nốt, thành phố cần thơ - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
......

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015
Đề tài:
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ,
AN TOÀN XÃ HỘI-THỰC TIỄN TẠI PHƢỜNG THUẬN AN, QUẬN
THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. Võ Duy Nam

Huỳnh Thị Kim Ngân

Bộ môn: Luật Hành chính

MSSV: 5115733
Lớp: Luật Hành chính K37

Cần Thơ, tháng 11/2014


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

................................................................................................................................................
................................................................................................................................................

................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
Cần Thơ, tháng 11 năm 2014


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………….....…......1
1. Lý do nghiên cứu…………………………………………………………………....….1
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………………….......1
3. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………....…….2
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………....….2
5. Bố cục đề tài………………………………………………………………………....…2
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

2.4.2. Tình tiết tăng nặng……………………………………………………...……...….19
2.5. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội…….....20
2.5.1. Vi phạm quy định về trật tự công cộng………………………………………......20
2.5.2. Vi phạm quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung……………………………......26


2.5.3. Vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh chung…………………………………....…27
2.5.4. Vi phạm quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật
tự………………………………………………………………………………..........….30
2.5.5. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác……………......….34
2.6. Thủ tục xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật
tự, an toàn xã hội…………………………………………………………..…...…...….36
2.6.1. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội……...36
2.6.1.1. Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính…………………………………....36
2.6.1.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội không lập biên
bản………………………………………………………………………………............37
2.6.1.3. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội có lập biên
bản………………………………………………….……………………………….....…37
2.6.1.4. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính………………………………….....…..38
2.6.1.5. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an
toàn xã hội………………………………………………………………………….....….40
2.6.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã
hội……………………………………………………………………….…………….....40
2.6.2.1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Công an nhân dân…………...…40
2.6.2.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Uỷ ban nhân dân các cấp
xã………………………………………………………………………………..…….....44
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI……...….....47
3.1. Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã
hội……………………...…………………………………………………………….......47

lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà
nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,
an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ
xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”, cho
thấy Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề trật tự, an toàn xã hội, không dừng lại ở quy
định đó tại Điều 67 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước xây dựng Công an nhân
dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt trong thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng,
chống tội phạm”. Như vậy, cho thấy tầm quan trọng của việc giữ gìn trật tự, an toàn xã
hội rất được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm sâu sắc.
Những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội chưa
được xem là tội phạm, hành vi thực hiện không mang tính nguy hiểm cao cho xã hội như
tội phạm hình sự nhưng trong những năm gần đây những hành vi này xảy ra nhiều với
mật độ cao làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân.
Hiện nay pháp luật quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an
toàn xã hội vẫn chưa cụ thể, nhiều quy định chưa rõ ràng, tính xử phạt chưa cao. Việc đặt
ra vấn đề quy định trên là rất cấp thiết và quan trọng. Trước thực trạng vi phạm hiện nay
thì ý thức của nhân dân cùng với những quy định của pháp luật chưa thật sự phát huy triệt
để, chính vì lý do đó người viết chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự, an toàn xã hội- Thực tiễn tại phường Thuận An, quận Thốt Nốt, Thành phố Cần
Thơ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cử nhân luật cho mình. Bài viết
nghiên cứu lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội,
pháp luật áp dụng, thực trạng pháp luật và nêu quan điểm về phương hướng giải pháp cho
vấn đề này.
2. Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài với mục đích tìm hiểu những quy định của pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội và những hạn chế
của những quy định này trong tình hình đất nước ta hiện nay, từ đó đưa ra kiến nghị để
hoàn thiện vấn đề trên.
3. Phạm vi nghiên cứu

Bố cục đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật
tự, an toàn xã hội
Chương 2: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội
Chương 3: Thực trạng và nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 2

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ

CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI
1.1. Khái niệm chung về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật
tự, an toàn xã hội
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính
* Khái niệm vi phạm hành chính
Khái niệm vi phạm hành chính được xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp lệnh xử phạt
vi phạm hành chính năm 1989. Các pháp lệnh tiếp theo (năm 1995; năm 2002 sửa đổi, bổ
sung năm 2008) không trực tiếp đề cập đến khái niệm vi phạm hành chính, do đó để đáp
ứng nhu cầu của thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật thì tại Khoản 2 Điều 2 Luật xử lý
vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 3

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
Xử phạt vi phạm hành chính là một loại hoạt động cưỡng chế hành chính cụ thể
mang quyền lực nhà nước, phát sinh khi có vi phạm hành chính, biểu hiện ở việc áp dụng
chế tài hành chính mang tính trừng phạt những đối tượng bị áp dụng do gây thiệt hại về
vật chất và tinh thần cho nhân dân và do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh nhà nước
thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật khá phổ biến trong đời sống xã
hội, tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm hình sự, nhưng vi
phạm hành chính là những hành vi xảy ra thường xuyên trên các mặt của đời sống xã hội,
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cá nhân, tổ
chức, cũng như lợi ích của cộng đồng.
Xử phạt vi phạm hành chính nhằm mục đích răn đe, ngăn chặn hành vi vi phạm và
hành vi chưa vi phạm, góp phần rất lớn trong việc khẳng định Nhà nước ta là nhà nước
pháp quyền, sống và làm việc theo pháp luật như vậy trật tự, kĩ cương mới được thiết lập
nước ta mới được văn minh, an toàn góp phần to lớn trong việc khẳng định vị thế của
nước ta trên trường quốc tế.
Luật nước ta quy định rất rõ ràng về xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể tại khoản
2 Điều 2 luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Xử phạt vi phạm hành
chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc
phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy
định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”.3
Theo quy định thì xử phạt hành chính phải do người có thẩm quyền xử phạt thực


SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
Nói cách khác, trật tự, an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương,
trong đó mọi người có cuộc sống yên bình trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn
mực đạo đức, pháp lý xác định.
Trật tự, an toàn xã hội là một lĩnh vực rất rộng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống
nhân dân, một số hành vi xảy ra thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày liên quan mật
thiết đến trật tự, an toàn xã hội như: hành vi vi phạm trật tự công cộng; vi phạm về bảo
đảm sự yên tĩnh chung; vi phạm về giữ gìn vệ sinh chung; vi phạm về quản lý nghành
nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; vi phạm về gây thiệt hại đến tài sản của
người khác.
Trật tự, an toàn xã hội tạo nên sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, là
hàng rào an toàn trước những nguy cơ tấn công từ mọi phía, bằng mọi thủ đoạn của các
thế lực thù địch chống phá, đồng thời góp phần củng cố vị thế của nước ta trên trường
quốc tế. Giữ cho xã hội được an toàn, có trật tự, kỷ cương cũng có nghĩa là tạo được môi
trường sống yên ổn, góp phần đảm bảo cuộc sống vui vẻ, lành mạnh, hạnh phúc cho mọi
người. Để làm được điều đó chúng ta phải áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp
luật để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi vi phạm và các vi
phạm pháp luật khác xâm hại đến cuộc sống an toàn của mọi người dân, xâm phạm đến
trật tự, kỷ cương của đất nước. Vì vậy, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ chung
của toàn Đảng, toàn dân ta trong tình hình hiện nay.
Tóm lại, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là giữ cho xã hội được an toàn, có trật tự,
kỷ cương, là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi
vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội.
1.1.3. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn
xã hội

tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội được tiến hành
bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Luật xử lý vi phạm hành
chính xác định cụ thể các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức,
mức xử phạt vi phạm hành chính mà họ được phép áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội được tiến hành
theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội do các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền ban hành;
- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn
xã hội thể hiện ở các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó ghi nhận các hình
thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh
vực trật tự, an toàn xã hội. Việc áp dụng biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt
nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự, an toàn xã hội, qua đó góp phần giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật
hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội nói riêng và pháp luật nói chung.
1.2. Cấu thành của vi phạm hành chính
Để quyết định một hành vi có vi phạm hành chính hay không điều quan trọng đầu
tiên là phải xác định hành vi đó có cấu thành vi phạm hành chính hay không. Đối với một
hành vi vi phạm hành chính về trật tự, an toàn xã hội nếu tiến hành xử phạt cũng phải
thỏa mãn những cấu thành vi phạm hành chính theo quy định. Cấu thành của một vi
phạm hành chính được xem xét như sau:
Cấu thành của vi phạm hành chính là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng thể hiện
chi tiết và đầy đủ tính vi phạm, xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước của một loại vi
phạm hành chính.
Cấu thành vi phạm hành chính bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
- Yếu tố khách quan của vi phạm hành chính;
- Yếu tố chủ quan của vi phạm hành chính;
- Yếu tố chủ thể của vi phạm hành chính;

có vi phạm hành chính. Lỗi là trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi vi phạm hành
chính, biểu hiện thái độ của người đó khi thực hiện hành vi của mình. Lỗi trong vi phạm
hành chính gồm: lỗi cố ý và lỗi vô ý;
Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi
trái pháp luật hành chính nhận thức được nghĩa vụ của mình nhưng họ có ý thức xem
thường pháp luật mặc dù họ thấy được khả năng thực hiện theo đúng nghĩa vụ đó;
Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗi của người thực hiện hành vi vi phạm do
vô tình, thiếu thận trọng mà đã không nhận thức được nghĩa vụ bắt buộc, mặc dù họ có
khả năng thực hiện theo đúng nghĩa vụ đó;
Hành vi vi phạm hành chính được thực hiện trong tình thế cấp thiết, phòng vệ
chính đáng, sự kiện bất ngờ, sự kiện bất khả kháng được loại trừ yếu tố lỗi, khi đó những
hành vi này không cấu thành hành vi vi phạm hành chính;
Động cơ của vi phạm hành chính là trạng thái tâm lý bên trong thôi thúc chủ thể
đó thực hiện hành vi vi phạm hành chính;
Mục đích là kết quả mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm muốn đạt được;
Động cơ, mục đích không là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các hành vi vi phạm
hành chính, chỉ có ở một số cấu thành nhất định ở một số hành vi vi phạm với lỗi cố ý.
* Yếu tố khách thể của vi phạm hành chính
Khách thể của vi phạm hành chính là những quy tắc quản lý nhà nước, là các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước được pháp luật quy định và bảo vệ;
Khách thể chung là trật tự quản lý nhà nước nói chung; khách thể chung được thể
hiện trong các quy phạm pháp luật tổng quát chung, có tính luật.
Khách thể loại là trật tự quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc từng lĩnh vực cụ thể;
Ví dụ: những hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng, vi phạm quy định về
bảo đảm sự yên tĩnh chung, vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh chung là những hành vi
vi phạm hành chính xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý nhà nước về lĩnh vực trật
tự, an toàn xã hội.
Khách thể trực tiếp chính là các quan hệ xã hội cụ thể và bảo vệ bị chính hành vi
vi phạm hành chính xâm hại đến.
Ví dụ: hành vi nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư

hành chính;
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính
thì bị xử lý như đối với công dân khác; trong trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên
quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân
dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý;
Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính do
mình gây ra;
Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng
tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước ta; trên tàu bay mang
quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt hành chính theo
quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước ta là thành
viên có quy định khác.
1.3. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã
hội
Nguyên tắc trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính là những tư tưởng chủ
đạo, những tiêu chuẩn mà các cơ quan nhà nước, các tổ chức, công dân phải tuân thủ theo
trong quá trình xử phạt.
Các nguyên tắc trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính chỉ đạo và chi phối
các mối quan hệ trong xử phạt vi phạm hành chính nhằm đảm bảo cho hoạt động xử phạt
đạt được hiệu quả và đúng theo quy định của pháp luật về xử phạt hành chính. Khi tiến
hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, người có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc xử phạt được quy
7

TS. Phan Trung Hiền, Giáo trình luật hành chính Việt Nam phần II, Khoa Luật, Đại học Cần Thơ, 2009.

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 8

trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc
thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;
- Đối với một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng
02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.8
1.4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính rất đa dạng bao gồm: cơ quan
hành chính và cán bộ có thẩm quyền xử phạt.
Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính gồm: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã.
Các cán bộ có thẩm quyền xử phạt theo quy định của pháp luật bao gồm:
- Công an nhân dân;
- Bộ đội biên phòng;
- Cảnh sát biển;
- Hải quan;
- Kiểm lâm;
- Cơ quan thuế;
8

Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 9

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
- Quản lý thị trường;

- Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người
thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.9
Việc phân định thẩm quyền xử phạt giúp cho công tác áp dụng pháp luật được
hoàn chỉnh hạn chế được việc chồng chéo thẩm quyền xử phạt của các cơ quan, các cá
nhân, giúp cho công tác quản lý ngày càng chặt chẽ hơn.
1.5. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội.

9

Điều 52 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 10

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
1.5.1. Chế định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn
xã hội đến ban hành Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2005
Từ trước Nhà nước ta đã ban hành nhiều luật lệ để quản lý xã hội cũng góp phần
không nhỏ trong việc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, nhưng vẫn thiếu những quy định phù
hợp để xử lý những hành vi vi phạm nhỏ về trật tự, an toàn xã hội. Đứng trước sự cần
thiết đó Chính phủ ban hành nghị định 143-CP ngày 27 tháng 5 năm 1977 để điều chỉnh
những hành vi vi phạm nhỏ về trật tự, an toàn xã hội xảy ra hàng ngày và thường xuyên.
Nghị định 143-CP ngày 27 tháng 5 năm 1977 là nghị định đầu tiên quy định về xử

vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, hình thức xử phạt, mức xử phạt,
các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, trình tự, thủ tục xử phạt, khiếu
nại, tố cáo, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo cho thấy Đảng và Nhà nước ta hết sức
quan tâm đến vấn đề trật tự, an toàn xã hội.
1.5.2. Chế định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn
xã hội từ Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2005 đến nay
GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 11

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
Sau 5 năm thực hiện theo Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2005
thì Chính phủ ban hành Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội để thay thế quy định cũ.
Nghị định gồm: 6 chương, 45 điều cụ thể hơn nhưng quy định chung, những hành vi vi
phạm hành chính và hình thức xử phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, trình tự,
thủ tục xử phạt; khiếu nại, tố cáo, khai thác, xử lý vi phạm; cụ thể điều khoản thi hành.
Nghị định quy định thay đổi, hoàn thiện một số điểm để phù hợp với tình hình nước ta,
quy định ngày càng chặt chẽ, hợp lý giúp công tác thực hiện, áp dụng ngày càng hoàn
chỉnh.
Cùng với sự thay đổi không ngừng của đất nước ta trong thời đại hội nhập mới,
cùng với sự thay đổi về tình hình trật tự, an toàn xã hội, để kịp thời thực hiện tốt công tác
quản lý cho nên Chính phủ ban hành Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm
2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
ngày càng hoàn thiện hơn pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự,

Trang 12

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
Chính trị là mặt quan trọng nhất đối với sự tồn tại của một quốc gia, quốc gia có
vững mạnh, phát triển, có vị thế đều được khẳng định trên phương diện chính trị của quốc
gia đó. Trong khi đó tình hình trật tự, an toàn xã hội góp phần rất lớn trong công cuộc
bảo vệ một chế độ chính trị. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an
toàn xã hội nhằm khắc phục hậu quả của những hành vi vi phạm pháp luật hành chính
gây ra. Xử phạt hành chính cũng góp phần răn đe, giáo dục, ngăn chặn những hành vi vi
phạm pháp luật mới, nếu hạn chế được hành vi vi phạm thì xã hội sẽ an toàn hơn từ đó
cho thấy rằng chế độ chính trị của Nhà nước ta phát huy được vai trò quản lý Nhà nước
của mình, chính vì vậy, đất nước sẽ hòa bình, ổn định, phát triển và đặt biệt còn thể hiện
vị thế của nước ta trên trường quốc tế; góp phần ngăn chặn âm mưu phá hoại, chống phá
của thế lực bên ngoài và đập tan âm mưu xâm lược của các thế lực thù địch bảo vệ vững
mạnh chủ quyền.
- Vai trò của xử phạt vi phạm hành chính trên phương diện kinh tế:
Đối với một đất nước để tồn tại và phát triển thì kinh tế góp phần rất quan trọng,
kinh tế phát triển tỉ lệ thuận với sự phát triển của đất nước, kinh tế góp phần tạo ra của cải
vật chất phục vụ cho cuộc sống của nhân dân, đời sống người dân tốt thì sẽ hạn chế được
những hành vi vi phạm pháp luật, hạn chế được hành vi vi phạm pháp luật thì nhân dân
sẽ an tâm để phát triển kinh tế dần dần nâng cao cuộc sống của mình. Trật tự, an toàn xã
hội và kinh tế tác động và hỗ trợ lẫn nhau.
Nếu muốn kinh tế phát triển thì đòi hỏi phải có một môi trường để thực hiện và
môi trường đó chính là một đất nước an toàn và ổn định. Chính vì vậy tình hình trật tự, an
toàn xã hội góp phần rất lớn trong việc tạo ra sự ổn định đó. Và như thế, việc xử phạt
những hành vi vi phạm trật tự, an toàn xã hội là cần thiết để có được điều kiện tốt nhất để

phạm trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội làm ảnh hưởng rất lớn đến một xã hội an toàn,
cho nên Nhà nước ta có biện pháp ngăn chặn những hành vi vi phạm đó là xử phạt hành
chính. Trong tình đất nước ta hiện nay, đứng trước những hành vi vi phạm xảy ra việc thì
xử phạt hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội cần được Đảng và Nhà nước
quan tâm nhằm tạo nên một xã hội văn minh, hiện đại, an toàn góp phần thúc đẩy sự phát
triển đất nước.

CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI
2.1. Đối tƣợng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn
xã hội
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã
hội bao gồm:
- Cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội:
Cá nhân nếu bị xử phạt phải thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật
quy định hành vi đó sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã
hội.
Cũng giống như các loại vi phạm hành chính khác một cá nhân có hành vi vi phạm
hành chính sẽ trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi cá nhân đó có năng lực trách
nhiệm hành chính, tức là đạt đến một độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần và các
bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi.10
10

Ts. Phan Trung Hiền, Giáo trình luật Hành chính Việt Nam Phần 2, Khoa Luật, Đại học Cần Thơ, năm 2009.

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 14


2.2. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn
xã hội
Điểm a khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định thời hiệu xử phạt
vi phạm hành chính là 1 năm, trừ các trường hợp sau:
Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm;
quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hải sản;
quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên
nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng
lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản;
sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng
giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt là 02 năm.
Như vậy, lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội không thuộc những trường hợp quy định
trên. Cho nên, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội
được quy định là 01 năm
Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt 01 năm được quy định như sau:
- Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm
dứt hành vi vi phạm;

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 15

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
- Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời
điểm phát hiện hành vi vi phạm;
Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố

có tình tiết tăng nặng, thì có thể áp dụng mức tiền phạt cao hơn mức trung bình nhưng
không được cao hơn mức tiền cao nhất của khung tiền phạt.
- Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử
phạt bổ sung sau:
11

Điểm b,c,d khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
13
Điều 22 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
12

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 16

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ
hoạt động có thời hạn;
Mặc dù chỉ là hình thức xử phạt bổ sung nhưng nhìn chung nó rất nghiêm khắc,
ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an
toàn xã hội. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có
thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn thì cá nhân, tổ chức phải ngưng mọi hoạt
động mà cá nhân, tổ chức đang làm, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và chất lượng công việc
sau này.

chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội được hiểu là một hành vi vi phạm hành chính
xảy ra sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt chính, có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ
14

Điều 31 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Điều 29 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
16
Khoản 2 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
15

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 17

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
sung, có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể đối với từng
hành vi vi phạm hành chính.
- Người nước ngoài vi phạm một số quy định về trật tự, an toàn xã hội sau đây tùy
theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
+ Vi phạm quy định về trật tự công cộng;
+ Vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an
ninh, trật tự;
+ Vi phạm quy định gây thiệt hại đến tài sản của người khác;
2.3.2. Mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã
hội

vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.
18
Điểm b khoản 1 và khoản 2, Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

GVHD: ThS. Võ Duy Nam

Trang 18

SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
- Người vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội là phụ nữ mang
thai, người già yếu, người có bệnh hoặc khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi của mình;
- Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội vì hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn mà không do mình gây ra;
- Vi phạm hành chính về trật tự, xã hội do trình độ lạc hậu;
- Những tình tiết giảm nhẹ khác do Chính phủ quy định trong lĩnh vực trật tự, an
toàn xã hội.19
Khi cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính về trật tự, an toàn xã
hội mà có tình tiết giảm nhẹ nêu trên sẽ được xem xét giảm nhẹ mức xử phạt. Đó cũng là
một trong những tiêu chí để xem xét áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với cá nhân
và xem xét để đưa ra số tiền phạt dưới mức trung bình của khung tiền phạt theo quy định
của pháp luật.
2.4.2. Các tình tiếc tăng nặng
Ngược lại với tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng là những tiêu chí để tăng mức
xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội.
Những tình tiết sau đây là tình tiết tăng nặng:


SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân


Đề tài: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội - Thực tiễn
tại Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
Những tình tiết quy định trên nếu đã được quy định là hành vi vi phạm hành chính
thì không được coi là tình tiết tăng nặng.20
Một tình tiết chỉ được xem là tình tiết tăng nặng khi nó rơi vào những tình tiết nêu
trên. Không được áp dụng mức xử phạt cao hơn quy định đối với một hành vi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội khi cá nhân, tổ chức vi phạm có nhiều
tình tiết tăng nặng.
2.5. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội
Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội được quy
định rất rộng, trong quá trình nghiên cứu luận văn người viết tập trung vào những hành vi
vi phạm sau:
2.5.1. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
a) Những hành vi vi phạm sau có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000
đồng đến 300.000 đồng:
- Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, triêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm của người khác;
Người vi phạm quy định này sẽ bị xử phạt khi thực hiện bằng hành động như: có
lời nói, cử chỉ, hoặc một trong những hành động nào khác có thái độ khiêu khích, triêu
ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.
- Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn
nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở
cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường
phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;
Người gây mất trật tự bằng lời nói, hành động ở những nơi quy định là không
được làm ồn phải giữ trật tự, yên tĩnh làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status