Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TỐNG THỊ HOÀI PHƢƠNG
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN LỰC LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính
24
1.2.2.1
1.2.2.2
Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
24
24
1.3.
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính của một số nước
trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
25
1.3.1.
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính của Trung Quốc
25
1.3.1.1.
Về đối tượng bị xử phạt
25
1.3.1.2.
Về thẩm quyền xử phạt
26

1.3.1.3.
Về hình thức xử phạt
27
1.3.2.
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính của Liên bang Nga
28
1.3.2.1.

Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
36
2.2.2.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
38
2.2.2.1.
Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
38
2.2.2.2.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
38
2.3.
Pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực điện lực
39
2.3.1.
Hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực điện lực
39
2.3.2.
Các chế định cơ bản của quy định pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
40
2.3.2.1.
Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
40
2.3.2.2.
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
42
2.3.2.3.

61
2.4.1.3.
Vi phạm quy định về sử dụng điện
61
2.4.1.4.
Đánh giá về thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực
điện lực
62
2.4.2.
Đánh giá thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực điện lực
62
2.4.2.1.
Kết quả xử phạt
62
2.4.2.2.
Hạn chế trong việc xử phạt
64
2.4.2.3.
Nguyên nhân của hạn chế
65

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN
LỰC
67
3.1.
Định hướng phát triển của ngành điện lực Việt Nam đến
năm 2020

phạm hành chính
74
3.2.3.2.
Một số nội dung cần được sửa đổi, bổ sung trong nghị định
của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực điện lực
80
3.2.3.3.
Cần khẩn trương ban hành văn bản hương dẫn thực hiện
Nghị định số 68/2010/NĐ-CP
82
3.3.
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực điện lực
83
3.3.1.
Tăng cường số lượng và chất lượng cho lực lượng xử phạt
vi phạm hành chính về điện lực
83
3.3.2.
Tăng cường sự phối hợp trong phát hiện và xử phạt vi phạm
của các cơ quan, tổ chức hữu quan
85
3.3.3.
Phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của
người dân trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
điện lực
85

KẾT LUẬN

hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động điện lực, việc đấu tranh phòng
ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ an ninh năng lượng của quốc gia, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về điện lực cũng là một
nhiệm vụ cấp thiết trong tình hình hiện nay.
Vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực được quy
định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Pháp lệnh sửa đổi
bổ sung năm 2008 và được quy định chi tiết trong Nghị định số 68/2010/NĐ-

2
CP ngày 15/6/2010 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực điện lực (sau đây viết tắt là Nghị định số 68/2010/NĐ-CP).
Nghị định số 68/2010/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/8/2010 và thay
thế Nghị định số 74/2003/NĐ-CP ngày 26/6/2003 quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực (sau đây viết tắt là Nghị định số
74/2003/NĐ-CP). Văn bản này đã khắc phục được một số tồn tại trong hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính về điện lực như: mở rộng phạm vi xử phạt
đối với hành vi vi phạm, mở rộng chủ thể có thẩm quyền xử phạt, tăng mức
phạt tiền… Nghị định số 68/2010/NĐ-CP cũng được đánh giá là văn bản có
tính "đi trước đón đầu" khi đã dự liệu được nhóm hành vi vi phạm các quy
định về thị trường điện (bao gồm quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định
về bán buôn điện, điều độ hệ thống điện và thị trường điện) trong khi thị
trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh (giai đoạn đầu tiên của thị trường
điện) dự kiến đến đầu năm 2012 mới vận hành.
Mặc dù được đánh giá là văn bản có nhiều điểm tiến bộ so với văn bản
trước là Nghị định số 74/2003/NĐ-CP, song việc áp dụng Nghị định số
68/2010/NĐ-CP trên thực tế chưa được bao lâu đã bộc lộ những vướng mắc,
bất hợp lý đòi hỏi phải có những sửa đổi, bổ sung phù hợp.
Vì sao quy định về xử phạt vi phạm hành chính về điện lực lại có
nhiều điểm hạn chế như vậy, ngay cả một văn bản mới ban hành được khoảng

lý vi phạm hành chính dưới các góc độ, mức độ khác nhau. Các công trình
khoa học đó đã đem lại những giá trị khoa học quý giá ở góc độ lý luận cũng
như thực tiễn, là tài liệu tham khảo hữu ích về vấn đề xử lý vi phạm hành
chính. Tuy nhiên, cho đến nay nghiên cứu về vấn đề xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực điện lực thì chưa có một công trình nào đề cập đến.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là góp phần làm sáng tỏ lý luận
và thực tiễn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực. Từ đó đưa
ra một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực điện lực.

4
Để thực hiện mục đích đó, luận văn phân tích, làm rõ các vấn đề cơ
bản sau đây:
- Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực điện lực.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quy định và hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực.
- Phân tích và kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực điện lực. Tuy nhiên, đây là một vấn đề có nội dung rất rộng,
trong khuôn khổ của một luận văn cao học, chúng tôi chỉ đề cập và nghiên
cứu một cách khái quát những vấn đề cơ bản về pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính và thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó,

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử phạt vi
phạm hành chính
Chương 2: Pháp luật hiện hành và thực trạng xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực điện lực
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật hiện hành và giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực

6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật rất dễ xảy ra và có
nguy cơ xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Với đặc điểm đó, tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn như tội phạm,
nhưng vi phạm hành chính đã và đang gây tổn hại không nhỏ cho trật tự, kỷ
cương xã hội. Bởi vậy, việc đấu tranh phòng, chống các vi phạm hành chính
nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của các quan hệ xã hội do luật hành
chính bảo vệ luôn được đặt ra. Để đấu tranh hiệu quả đối với các vi phạm
hành chính thì trước hết phải xác định được thế nào là vi phạm hành chính
và dấu hiệu để nhận biết một vi phạm pháp luật là vi phạm hành chính.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và cấu thành của vi phạm hành chính
1.1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Như đã trình bày, vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật,
nghĩa là hành vi vi phạm hành chính luôn chứa đựng yếu tố lỗi. Tuy nhiên,
trên thực tế, rất nhiều trường hợp người vi phạm chỉ là do vô tình hoặc không
để ý đến quy định của pháp luật nên đã vi phạm, chỉ đến khi bị xử lý mới biết
là mình vi phạm hành chính. Điều này chứng tỏ người vi phạm còn chưa biết,
chưa xác định được thế nào là vi phạm hành chính.

Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 1989 quy định: "Vi phạm
hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc
vô ý, xâm hại đến quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình
sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính" [24, tr. 1].
Theo đó, một số dấu hiệu và yếu tố cấu thành vi phạm hành chính đã được đề

8
cập trong khái niệm, bao gồm: hành vi vi phạm, tính trái pháp luật của hành vi,
lỗi, và bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, "yếu tố khách thể của vi phạm hành
chính (những quan hệ bị xâm hại) không được nêu ra trong định nghĩa, tuy rằng
điều này rất quan trọng. Công thức "xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước"
không phải chỉ khách thể vi phạm, mà là chỉ tính trái pháp luật của hành vi, vì
khách thể vi phạm pháp luật là quan hệ xã hội, chứ không phải là "quy tắc",
mà quy tắc chính là nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội" [12, tr. 527]. Nhận
xét này hoàn toàn có cơ sở bởi lẽ mọi vi phạm pháp luật đều vi phạm các quy
tắc quản lư nhà nước chứ không riêng gì vi phạm hành chính trong khi khái
niệm nêu trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 1989 lại chỉ nói đến
các "quy tắc quản lý nhà nước" chung chung mà chưa chỉ ra được tính đặc thù
của các quy định pháp luật bị các vi phạm hành chính xâm hại.
Trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995, khái niệm vi phạm hành
chính được quy định gián tiếp tại khoản 2 Điều 1 như sau: "Xử phạt vi phạm hành
chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý xâm
phạm quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm pháp
lý hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính" [25, tr. 1].
Ngoài ra, một số dấu hiệu về mặt chủ quan, chủ thể của vi phạm hành chính
được làm rõ thêm tại Điều 5 (Các đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính),
Điều 6 (Xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính), Điều 7 (Tình tiết
giảm nhẹ) và Điều 8 (Tình tiết tăng nặng) của Pháp lệnh. Tuy nhiên, khái
niệm vi phạm hành chính trong Pháp lệnh cũng mới chỉ được xác định một
cách chung chung mà chưa nêu được cụ thể về dấu hiệu và các yếu tố cấu

sự" [12, tr. 527].
Một yếu tố nữa được cả ba Pháp lệnh (năm 1989, 1995 và 2002) đề
cập đến trong khái niệm vi phạm hành chính, đó là "bị xử phạt hành chính"
theo quy định của pháp luật. Quy định như vậy là chưa hoàn toàn chính xác.
Bởi lẽ, xử phạt hành chính chỉ là một biện pháp chế tài. Một vi phạm hành
chính ngoài việc bị xử phạt, còn có thể bị áp dụng các biện pháp chế tài hành
chính khác như biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành

10
chính, biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định
xử phạt và các biện pháp xử lý hành chính khác.
Tóm lại, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1989, 1995 và 2002
đều đã đề cập đến khái niệm vi phạm hành chính nhưng hạn chế của cả ba
Pháp lệnh là đều chưa đưa ra được một khái niệm toàn diện, đầy đủ. Do đó,
việc xây dựng một khái niệm phản ánh đầy đủ các dấu hiệu và yếu tố cấu
thành của vi phạm hành chính là việc làm cần thiết.
Ngoài ra, một hạn chế nữa của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
hiện nay là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính chỉ đưa ra khái niệm chung
chung còn hành vi vi phạm hành chính cụ thể cũng như hình thức xử phạt đối
với từng hành vi vi phạm lại được phân cấp cho Chính phủ quy định. Để đảm
bảo tính thống nhất của pháp chế, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, bên cạnh việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về vi
phạm hành chính, cũng cần phải quy định rõ ràng về các hành vi vi phạm
hành chính cụ thể kèm theo hình thức xử lý hành chính đối với hành vi đó
trong một văn bản có hiệu lực pháp lý cao đó là Luật hoặc Bộ luật.
Trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những hạn chế
của khái niệm vi phạm hành chính trong các Pháp lệnh, có thể quan niệm về
vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật,
xâm phạm tới trật tự nhà nước, xã hội, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật hành chính bảo vệ,

phải là kết quả hoạt động của ý thức. Đây chính là mặt khách quan của tính
xâm hại các quan hệ xã hội của vi phạm hành chính, chúng có ý nghĩa quyết
định đến tính trái pháp luật của hành vi vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính phải là hành vi trái pháp luật hành chính. Tính
trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ hành vi đó được thực hiện ngược lại
với yêu cầu của quy phạm pháp luật. Nói cách khác, đó là hành vi xâm phạm

12
những quy định pháp luật nói chung được pháp luật hành chính bảo vệ. Cụ thể
hơn, đó là hành vi bị pháp luật hành chính cấm, hoặc không thực hiện hay
thực hiện không đúng hành vi mà pháp luật hành chính buộc phải thực hiện.
Hành vi vi phạm hành chính có tính nguy hiểm cho xã hội tuy mức độ
nguy hiểm cho xã hội do nó gây ra không lớn so với tội phạm. Quan niệm vi
phạm hành chính không gây nguy hiểm cho xã hội là hoàn toàn sai lầm. Bởi
vì, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm không chỉ xem xét trên cơ
sở thiệt hại thực tế, mà chính là sự phá vỡ, đi ngược với trật quản lý đã được
quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính. "Một vi phạm hành chính
có thể không nguy hiểm hoặc không gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.
Nhưng nhiều vi phạm hành chính thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, trong khi
vi phạm hành chính là loại vi phạm xảy ra rất phổ biến" [12, tr. 530].
Hành vi trái pháp luật và có lỗi phải được một văn bản pháp luật quy
định là vi phạm hành chính và phải chịu chế tài hành chính. Đây được coi là
dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính.
"Chế tài được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước có thể áp dụng
nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy định của pháp luật" [21, tr. 196].
"Chế tài hành chính là biện pháp xử lý của Nhà nước đối với cá nhân,
tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là
tội phạm, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự" [29, tr. 131].
Vì vậy, cần nhận thức rõ hành vi trái pháp luật hành chính có thể diễn
ra trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng không có nghĩa đó

về tự do than thể của cá nhân hoặc thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tập
thể của công dân.
Giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính
có mối quan hệ hữu cơ, trong đó hậu quả vi phạm hành chính có tiền đề xuất
hiện của nó là hành vi vi phạm hành chính và hậu của vi phạm hành chính có
tiền đề xuất hiện của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính. Sự

14
tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của
vi phạm hành chính dựa trên những căn cứ sau: (i) hành vi vi phạm xảy ra
trước hậu quả xâm hại các quan hệ mặt thời gian; (ii) hành vi vi phạm phải
chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội
và (iii) hậu quả vi phạm đã xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế
làm phát sinh hậu quả của hành vi vi phạm.
Ngoài ra, trong những trường hợp cần thiết, mặt khách quan của vi
phạm hành chính cũng cần phải xem xét đến các yếu tố: thời gian và địa điểm,
công cụ và phương tiện được sử dụng để vi phạm. Những dấu hiệu này tuy
không phổ biến và có ý nghĩa quy định đối với các dấu hiệu khác của tất cả
các loại vi phạm hành chính nhưng chúng sẽ trở thành dấu hiệu bắt buộc và
có ý nghĩa quyết định đối với một số vi phạm hành chính nhất định.
* Khách thể của vi phạm hành chính:
Khách thể vi phạm hành chính là các quan hệ xã hội được các quy
phạm pháp luật hành chính bảo vệ. Tuy nhiên, dưới góc độ của vi phạm hành
chính, trật tự quản lý nhà nước cũng chính là các quan hệ xã hội được luật
hành chính bảo vệ. Có quan điểm cho rằng, khách thể của vi phạm hành chính
là trật tự quản lý nhà nước. Nhưng quan niệm như vậy chưa chính xác, ngoài
trật tự quản lý nhà nước thì khách thể của vi phạm hành chính còn có thể là
các quan hệ xã hội khác. Các loại quan hệ xã hội bị vi phạm hành chính xâm
hại rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu nhà nước, tổ chức,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự quản lí. Cho nên khách thể

tuổi nếu vi phạm hành chính thì bị xử phạt về vi phạm hành chính do cố ý và
chỉ bị phạt cảnh cáo. Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi
hành vi vi phạm hành chính do mình gây ra và khi phạt tiền đối với họ thì
mức tiền phạt không quá một nửa mức tiền phạt đối với người thành niên,
trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ
phải nộp phạt thay. Quy định cha mẹ (người chưa thành niên vi phạm) phải

16
nộp thay không có nghĩa là xử phạt cả người không vi phạm. Mà ở đây chúng
ta hướng tới trách nhiệm giáo dục ý thức pháp luật cho những người chưa
thành niên. Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người có thẩm quyền bị
xử lý vi phạm hành chính đối với những vi phạm hành chính liên quan đến
việc thi hành công vụ, thực hiện quyền hạn, nhiệm được giao. Nếu không có
yếu tố này thì họ chỉ bị xử lý như mọi công dân bình thường. Quân nhân tại
ngũ, quân nhân dự bị trong thời kì tập trung huấn luyện và những người thuộc
lực lượng công an nhân dân, nếu thực hiện vi phạm hành chính thì bị xử lý
như đối với công dân khác.
- Tổ chức:
Trong vi phạm hành chính không phải lúc nào người vi phạm cũng là
cá nhân. Ở trường hợp người vi phạm là người nhân danh tổ chức thực hiện vi
phạm thì đương nhiên chủ thể vi phạm hành chính ở đây phải là tổ chức. Pháp
luật hành chính coi tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính gồm: cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, khi xử
phạt hành chính đối với tổ chức, nếu là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã
hội sẽ dẫn đến tình trạng tiền nhà nước chạy từ túi này sang túi khác. Do đó
cần phải truy cứu người có lỗi trực tiếp vi phạm hành chính để tổ chức bị xử
phạt, hoặc cần phải suy xét người có lỗi để truy cứu trách nhiệm kỷ luật. Điều
này đã được quy định cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính 2002: "Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành
do mình gây ra. Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xác

toàn có khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ đó.
Lỗi trong thực hiện vi phạm hành chính được thể hiện dưới hai hình
thức lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là thái độ tâm lý của một người khi
thực hiện hành vi trái pháp luật, tuy nhận thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc
nhưng lại có ý thức xem thường, mặc dù họ hoàn toàn có khả năng xử sự theo
đúng nghĩa vụ đó.

18
Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗi của một người khi thực hiện
hành vi trái pháp luật do vô tình thiếu thận trọng mà đã không nhận thức được
những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, mặc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo
đúng nghĩa vụ đó.
Lỗi vô ý lại có hai hình thức thể hiện. Vô ý do cẩu thả là lỗi của người
có hành vi vi phạm không biết và không nhận thức được rằng hành vi của
mình là trái pháp luật mặc dù cần phải biết và nhận thức được điều đó. Vô ý
do quá tự tin là lỗi trong trường hợp người có hành vi vi phạm nhận thức
được điều này nhưng cho rằng có thể ngăn ngừa được dễ dàng hậu quả của
hành vi trái pháp luật đó của mình.
Ngoài ra, mục đích, động cơ cũng là những dấu hiệu về mặt chủ quan
của vi phạm hành chính. Tuy nhiên, những dấu hiệu này không có ý nghĩa
quyết định như dấu hiệu lỗi, không được coi là dấu hiệu cơ bản, bắt buộc
trong mọi cấu thành vi phạm hành chính nhưng trong một số trường hợp, nếu
thiếu nó thì không thể xác định được là có vi phạm hành chính hay không.
1.1.2. Phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm
Trong khoa học pháp lý, vi phạm pháp luật được phân chia thành bốn
loại: tội phạm, vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật dân sự và vi phạm kỷ
luật. Trong bốn loại vi phạm pháp luật này, xét về phạm vi xâm hại các quan
hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, tội phạm và vi phạm hành chính có nhiều
điểm tương đối gần nhau. Vì vậy việc để phân biệt những điểm khác nhau

đều là vi phạm hành chính. Nhiều tội phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành
chính, hoặc đất đai, môi trường, kinh tế, tài chính… như các tội chống người
thi hành công vụ, vi phạm quy tắc trật tự an toàn giao thông… Nghĩa là vi
phạm hành chính và tội phạm nhiều khi có cùng chung khách thể. Trong trường
hợp cùng xâm hại một quan hệ xã hội thì sự phân biệt có thể xem xét ở dấu
hiệu: hành vi đó đã bị xử phạt hành chính chưa, nếu đã bị xử phạt hành chính
mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi vi phạm (đã nêu ở phần phân biệt về mặt khách quan).

Trích đoạn Vi phạm quy định về giấy phép hoạt động điện lực Kết quả xử phạt Hạn chế trong việc xử phạt Phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thực, trách nhiệm của ngƣời dân trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status