1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
THIỀU THỊ THÚY NGÂN
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA -
QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đăng Dung
HÀ NỘI - 2013 3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng
phục hậu quả trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
17
1.3.3.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa
22
Chương 2: TÌNH HÌNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG THỦY NỘI
ĐỊA (QUA THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
30
2.1.
Thực trạng quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
30
4
2.1.1.
Thời hiệu xử phạt
30
2.1.2.
Thẩm quyền xử phạt
32
2.1.3.
Hình thức xử phạt vi phạm phạm hành chính trong giao
thông đường thủy nội địa
34
2.1.4.
Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong giao
thông đường thủy nội địa
luật và hội nhập với pháp luật quốc tế
56
3.1.3.
Bảo đảm quyền tự do, dân chủ, quyền lợi hợp pháp của cá
nhân, tổ chức vi phạm
56
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
57
3.2.1.
Đối với hình thức xử phạt
57
3.2.2.
Quy định về biện pháp ngăn chặn- tạm giữ phương tiện giao thông
58
3.2.3.
Thủ tục xử phạt
59
5
3.2.4.
Đối với phương thức nộp phạt
60
3.2.5.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
61
3.2.6.
Cần tăng cường trong công tác quản lý nhà nước về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
bảo vệ quyền con người
70
KẾT LUẬN
72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
74 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các cấp (3 cấp) - quy định tại Điều 33
Nghị định 60/2011/NĐ-CP
22
2.2
Thẩm quyền xử phạt của lực lượng Công an nhân dân -
quy định tại Điều 34 Nghị định 60/2011/NĐ-CP
23
2.3
học công nghệ, giáo dục, y tế có những bước phát triển mới cả về chiều rộng và
chiều sâu; đặc biệt, lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo và lao động, việc làm được
quan tâm đầu tư và đạt được những thành tựu rất quan trọng và đáng khích lệ.
Đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên trong xã hội còn rất nhiều vấn đề cần phải được giải quyết,
thậm chí còn nan giải hơn trước đây. Đó là tình trạng vi phạm pháp luật, đặc
biệt trong lĩnh vực quản lý nhà nước không hề có hướng thuyên giảm, thậm
chí còn có khu vực bị gia tăng, tình trạng vi phạm hành chính và xử phạt vi
phạm hành chính ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra một cách không có kiểm
soát hay sự kiểm soát của nhà nước tỏ ra kém kiệu quả ở chỗ giới hạn của xử
phạt vi phạm hành chính hiện nay không giới hạn được.
Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
thủy nội địa nội địa cũng là một bộ phận cấu thành của Luật Hành chính Việt
Nam, có vai trò và ý nghĩa to lớn trong việc đấu tranh phòng chống vi phạm
hành chính- một loại vi phạm diễn ra tương đối phổ biến và phức tạp hiện
nay. Đặc biệt tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
thủy nội địa ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra rất phức tạp. Số vụ
tai nạn giao thông đường thủy nội địa gia tăng có thể xuất phát từ nhiều
8
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ các hành vi vi phạm hành chính. Vì
vậy, tăng cường công tác đấu tranh phòng ngừa vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường thủy nội địa là một nội dung rất quan trọng của hoạt
động quản lý nhà nước, là một yêu cầu tất yếu của Nhà nước và xã hội để lập
lại an toàn giao thông đường thủy nội địa. Những biện pháp hạn chế vi phạm
hành chính, lập lại trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa rất phong phú
và đa dạng như hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hoàn thiện về pháp luật,
tuyên truyền phổ biến và nâng cao trình độ hiểu biết của người dân…Trong
những biện pháp trên, hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là một trong những biện pháp quan
thông đường thủy nội địa nói riêng.
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp
luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội
địa, từ đó thấy được những bất cập, khó khăn cũng như vướng mắc trong thực
tế thi hành áp dụng.
- Đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa đáp
ứng yêu cầu quản lý nhà nước ngày càng phức tạp trong giai đoạn hiện nay.
3. Tính mới và đóng góp của đề tài
Luận văn là chuyên khảo nghiên cứu tương đối toàn diện về vấn đề xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa. Vì
vậy, luận văn có những đóng góp khoa học mới như sau:
Thứ nhất, đưa ra và luận giải được những nguyên nhân dẫn đến việc
gia tăng vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
Thứ hai, từ khó khăn và thực trạng trong việc thực hiện và áp dựng hệ
thống pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói chung và pháp luật xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa nói riêng phân
tích được các nguyên nhân và vấn đề còn tồn tại.
10
Thứ ba, trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đưa ra giải pháp, kiến nghị
nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện pháp luật xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu lĩnh vực pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa bao gồm hệ thống các văn
bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về nội dung và thực tiễn thực
hiện các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
5. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Học viên đã tiếp cận một số công trình khoa học về vấn đề xử phạt vi
- Bùi Huy Tùng (2007), Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giáo dục, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật -
Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Bộ Tư pháp (2007), Báo cáo đánh giá hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, Hà Nội.
- Bộ Tư pháp, Cơ quan phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) - Dự án
VIE/02/015 (2008), Kỷ yếu Hội thảo: Định hướng xây dựng Luật Xử phạt vi
phạm hành chính, Quảng Ninh, 08-09/5/2008.
- Trương Khánh Hoàn (2008), "Bất cập của các quy định về biện pháp
khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính", Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, (31, 32).
- Các Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, của Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Các công trình trên là tài liệu tham khảo quan trọng cho luận văn thạc
sĩ này.
12
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử: Xem xét pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính theo từng thời kỳ. Mỗi giai đoạn sẽ có pháp luật phù hợp. Từ đó tìm ra
quy luật của sự phát triển pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn kế thừa, tổng kết lại
những kết quả của các công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép vì đã có sự sắp xếp theo kết cấu
khác theo góc nhìn của tác giả.
Phương pháp so sánh: So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa của nước ta trong từng giai
đoạn; So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy với lĩnh vực khác.
Các phương pháp của xã hội học pháp luật: Phân tích cơ sở xã hội của
vận tải thủy nội địa. Đường biển đống vai trò quan trọng trong giao lưu quốc
tế, đáp ứng ngày càng tăng yêu cầu cung cấp năng lượng, nguyên vật liệu cho
các ngành công nghiệp hàng đầu của đất nước, là đầu mối trong giao lưu, trao
đổi kinh tế, văn hóa với các quốc gia khác. Giao thông vận tải thủy nội địa
được tiến hành trên các sông, kênh rạch, các hồ nước, vùng nước nội thủy.
Vận tải thủy nội địa, với những tính chất ưu việt riêng có, nó chuyên
chở chủ yếu là quặng, than, vật liệu xây dựng, lương thực, phân bón v.v…
được coi là hàng hóa đặc trưng cơ bản của nước công nghiệp hóa. Vận tải
thủy nội địa lại vận chuyển được các loại hàng cồng kềnh, siêu trường, siêu
trọng mà các loại hình vận tải khác khó có thể đảm nhận được. Đồng thời, vận
tải thủy nói chung, thủy nội địa nói riêng có giá thành vận chuyển thấp, chi
phí đầu tư xây dựng cơ bản ít tốn kém, duy tu bảo dưỡng công trình cũng đơn
14
giản hơn. Đặc biệt, vận tải thủy nội địa có mức độ bảo đảm an toàn khá lớn, ít
xảy ra sự cố, thường chiếm từ 2 - 2,5% tai nạn, sự cố trong tổng số tai nạn, sự
cố của các loại hình giao thông vận tải khác.
Ngoài ra, giao thông đường thủy nội địa còn gắn chặt với đời sống,
sinh hoạt của một bộ phận lớn dân cư và phục vụ nhiều ngành kinh tế như
nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, khai thác cát, sỏi phục vụ xây dựng, môi
trường, du lịch.
Hơn nữa, Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi, kiến tạo cho trên 2.360
con sông, kênh với chiều dài khoảng 200.000 km, lại được thông qua 175 của
sông nối với vùng nước nội thủy rộng lớn (bằng 2/5 diện tích đất liền) từ
3.260 km ven biển, tạo thành hệ thống giao thông đường thủy nội địa hoàn
chỉnh, rộng lớn. Đặc biệt, sông, kênh trên đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng
sông Cửu Long đạt mật độ 4km/km
2
, đưa hệ thống giao thông đường thủy nội
địa nước ta trở thành một trong 10 quốc gia có hệ thống đường thủy nội địa
phương, hệ thống chính trị.
1.2. KHÁI NIỆM VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG THỦY NỘI ĐỊA
1.2.1. Khái niệm
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung
do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống
trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo
thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích
trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [24, tr. 288].
Pháp luật có ba chức năng: điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục. Sở dĩ pháp luật có
chức năng bảo vệ vì trong xã hội vẫn tồn tại những "vi phạm pháp luật" - là
hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích của xã hội, quyền và lợi
ích của công dân, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách
có lỗi [24, tr. 537]. Và người vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý -
16
hậu quả của vi phạm pháp luật và được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế (chế tài xử lý) [24, tr. 550].
Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến
trong đời sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so
với tội phạm nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa
gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như
lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm
tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn
chặn kịp thời. Chính vì lẽ đó công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm
hành chính luôn là vấn đề được xã hội quan tâm. Nhà nước ta đã ban hành
khá nhiều văn bản pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính và đang
có hiệu lực pháp lý thi hành như là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002,
được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 (gọi chung là Pháp lệnh). Bên cạnh
Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành các nghị định quy định cụ thể việc xử lý
thủy như lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, hàng hải, thủy sản….;
- Các hành vi vi phạm thuộc các lĩnh vực quả lý nhà nước nói chung
có liên quan đến đường thủy hoặc xảy ra trong phạm vi đường thủy như: Lĩnh
vực an ninh trật tự, khai thác khoáng sản môi trường, du lịch…
Như vậy phạm vi trách nhiệm quản lý, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi
phạm hành chính giao thông đường thủy tương đối rộng, không chỉ bó hẹp
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa. Đây là một đặc thù chi phối các
hoạt động nói chung của ngành đường thủy, xử lý vi phạm nói riêng.
Thông qua khái niệm về vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường thủy nội địa nêu trên, chúng ta thấy vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường thủy nội địa phản ánh những đặc điểm sau:
Một là: Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật
về vi phạm hành chính. Việc tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đòi hỏi
18
phải đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định. Kết quả xử phạt vi
phạm hành chính phải được thể hiện bằng quyết định xử phạt vi phạm hành
chính có hiệu lực pháp luật.
Hai là: Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng chế nhà nước
do các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tiến hành và được
đảm bảo bằng quyền lực nhà nước.
Ba là: Mục đích của xử phạt vi phạm hành chính là nhằm truy cứu
trách nhiệm một hành vi vi phạm hành chính, qua đó buộc chủ thể vi phạm
hành chính phải gánh chịu một biện pháp cưỡng chế hành chính tương ứng
với hành vi vi phạm của mình.
Bốn là: Đối tượng tác động của xử phạt vi phạm hành chính là cá
nhân hoặc tổ chức đã thực hiện vi phạm hành chính.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đƣờng thủy nội địa
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là một
xem xét để quyết định các hình thức và mức xử phạt cụ thể.
Thứ ba: Mặt chủ thể
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức có
năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.
Theo quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, cá
nhân là chủ thể của vi phạm hành chính cụ thể là:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi
phạm hành chính do cố ý. Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi
phạm hành chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của
họ. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành không định nghĩa thế nào
là lỗi cố ý hoặc vô ý trong vi phạm hành chính. Tuy nhiên, như đã phân tích ở
20
trên, thông thường người thực hiện hành vi hành chính với lỗi cố ý là người
nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm
mà vẫn cố tình thực hiện.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm
hành chính do mình gây ra.
Đối với chủ thể của vi phạm hành chính là tổ chức bao gồm: các cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân.
Bên cạnh đó, quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập
trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm
hành chính thì bị xử lý như đối với các công dân khác; trong trường hợp cần
áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng một số giấy phép hoạt động vì
mục đích quốc phòng, an ninh thì người xử phạt không trực tiếp xử lý mà đề
nghị cơ quan, đơn vị Quân đội, Công an có thẩm quyền xử lý theo Điều lệnh
kỷ luật.
Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm
thủy nội địa; Các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện
tham gia giao thông đường thủy nội địa; Các hành vi vi phạm quy định về vận
tải đường thủy nội địa; Các hành vi vi phạm khác liên quan đến giao thông
đường thủy nội địa.
1.3. NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG THỦY NỘI ĐỊA
1.3.1. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đƣờng thủy nội địa
Theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002,
sửa đổi năm 2008 và Nghị định số 60/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa (gọi tắt là Nghị định
22
60/2011/NĐ-CP) có thể thấy xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa phải tuân theo các nguyên tắc đó là:
Thứ nhất: Nguyên tắc kịp thời, nhanh chóng, triệt để
Mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy
nội địa phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông phải được tiến hành nhanh chóng,
triệt để, mọi hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra phải được khắc
phục theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai: Chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm
hành chính do pháp luật quy định.
Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi
phạm hành chính được quy định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc hội,
pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và nghị định của Chính phủ.
Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành để chỉ đạo,
hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền
không được quy định hành vi vi phạm hành chính và hình thức, mức xử phạt.
khắc phục hậu quả trong lĩnh vực giao thông đƣờng thủy nội địa
1.3.2.1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục
hậu quả là một trong những nội dung quan trọng của xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
Hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường thủy nội địa thể hiện sự răn đe, trừng phạt của pháp luật đối
với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các nguyên tắc quản lý nhà
nước trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, buộc người vi phạm phải
chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần.
24
Ngoài mục đích ngăn chặn hành vi vi phạm, các quy định này còn
mang tính giáo dục đối với các cá nhân, tổ chức bị xử phạt, góp phần nâng
cao ý thức của công dân trong việc chấp hành pháp luật và các quy tắc quản
lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
Theo Nghị định 60/2011/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa thì hình thức xử phạt vi phạm hành
chính bao gồm: hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung.
a. Hình thức xử phạt chính
• Hình thức phạt tiền
Đây là hình thức xử phạt phổ biến có tính chất kinh tế được áp dụng
với đa số hành vi vi phạm trong giao thông đường thủy nội địa. Phạt tiền là
việc tước bỏ của cá nhân, tổ chức vi phạm một khoản tiền nhất định để sung
quỹ nhà nước. Phạt tiền tác động trực tiếp đến vật chất, lợi ích kinh tế của cá
nhân, tổ chức vi phạm, gây cho họ những bất lợi về tài sản. Vì lý do đó, hình
thức xử phạt này có hiệu quả rất lớn trong việc phòng chống vi phạm hành
chính trong giao thông đường thủy nội địa, đồng thời thông qua đó giáo dục,
phổ biến pháp luật cho người tham gia vào lĩnh giao thông đường thủy nội
địa. Mức xử phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông
phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc
các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
• Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động, bằng, chứng chỉ chuyên
môn hoặc chứng chỉ hành nghề khác về pháp luật giao thông đường thủy nội
địa có thời hạn hoặc không thời hạn;
Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động, bằng, chứng chỉ chuyên
môn hoặc chứng chỉ hành nghề khác về giao thông đường thủy nội địa có thời
hạn hoặc không thời hạn là hình phạt bổ sung được áp dụng đối với người