Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa- Qua thực tiễn Thành
phố Hà Nội
Thiều Thị Thúy Ngân
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Đăng Dung
Năm bảo vệ: 2013
Abstract: Nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói
chung và pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội
địa nói riêng. Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, từ đó thấy
được những bất cập, khó khăn cũng như vướng mắc trong thực tế thi hành áp dụng. Đề ra
phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước ngày
càng phức tạp trong giai đoạn hiện nay.
Keywords: Luật hành chính; Vi phạm hành chính; Giao thông đường thủy; Pháp luật
Việt Nam
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn hai mươi năm đổi mới, thực hiện chủ trương, đường lối của đảng, pháp luật,
chính sách của nhà nước từ năm 1986, Việt Nam đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế -
xã hội và đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát
triển bền vững. Nền kinh tế phát triển toàn diện và tích cực, tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn
định, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng được cải thiện. Văn
thiểu những rào cản về pháp lý trong quá trình Việt Nam tham gia và trở thành quốc gia thành
viên của các tổ chức quốc tế chủ yếu và quan trọng trong cộng đồng quốc tế. Giảm tình trạng
chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn giữa các quy định trong hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính hiện hành.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quan của đề tài "Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
thủy nội địa - Qua thực tiễn thành phố Hà Nội" góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp
luật Việt Nam là đảm bảo tính tương thích, từng bước hội nhập với pháp luật quốc tế, tạo những
thuận lợi cơ bản, giảm thiểu những rào cản về pháp lý trong quá trình Việt Nam tham gia và trở
thành quốc gia thành viên của các tổ chức quốc tế chủ yếu và quan trọng trong cộng đồng quốc
tế. Giảm tình trạng chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn giữa các quy định trong hệ thống pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính hiện hành;
2.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, đề tài thiết kế theo các mục tiêu cụ thể sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói chung và pháp
luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa nói riêng.
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, từ đó thấy được những bất cập, khó
khăn cũng như vướng mắc trong thực tế thi hành áp dụng.
- Đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước ngày càng
phức tạp trong giai đoạn hiện nay.
3. Tính mới và đóng góp của đề tài
Luận văn là chuyên khảo nghiên cứu tương đối toàn diện về vấn đề xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa. Vì vậy, luận văn có những đóng góp khoa
học mới như sau:
Thứ nhất, đưa ra và luận giải được những nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
Thứ hai, từ khó khăn và thực trạng trong việc thực hiện và áp dựng hệ thống pháp luật xử
trong quy định pháp luật hiện hành", Tạp chí Luật học, (8).
- Kim Long Biên (2007).Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hải quan ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật phối hợp
đào tạo với Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bùi Huy Tùng (2007), Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Bộ Tư pháp (2007), Báo cáo đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính, Hà Nội.
- Bộ Tư pháp, Cơ quan phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) - Dự án VIE/02/015 (2008), Kỷ
yếu Hội thảo: Định hướng xây dựng Luật Xử phạt vi phạm hành chính, Quảng Ninh, 08-
09/5/2008.
- Trương Khánh Hoàn (2008), "Bất cập của các quy định về biện pháp khắc phục hậu quả
trong xử phạt vi phạm hành chính", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (31, 32).
- Các Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,
Trường Đại học Luật Hà Nội.
Các công trình trên là tài liệu tham khảo quan trọng cho luận văn thạc sĩ này.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử: Xem xét pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính theo từng thời kỳ.
Mỗi giai đoạn sẽ có pháp luật phù hợp. Từ đó tìm ra quy luật của sự phát triển pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn kế thừa, tổng kết lại những kết quả của các
công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép
vì đã có sự sắp xếp theo kết cấu khác theo góc nhìn của tác giả.
Phương pháp so sánh: So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa của nước ta trong từng giai đoạn; So sánh pháp luật xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy với lĩnh vực khác.
Các phương pháp của xã hội học pháp luật: Phân tích cơ sở xã hội của việc xử phạt vi phạm
hành chính.
Phương pháp của thống kê xã hội học: Từ những kết quả thống kê, điều tra, khảo sát về thực
trạng vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy
bản ít tốn kém, duy tu bảo dưỡng công trình cũng đơn giản hơn. Đặc biệt, vận tải thủy nội địa có
mức độ bảo đảm an toàn khá lớn, ít xảy ra sự cố, thường chiếm từ 2 - 2,5% tai nạn, sự cố trong
tổng số tai nạn, sự cố của các loại hình giao thông vận tải khác.
Vì vậy, bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy nói chung và đường thủy nội địa nói
riêng là yêu cầu tất yếu, khách quan. Là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống tổ
chức nhà nước, chính quyền địa phương, hệ thống chính trị.
1.2. Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đƣờng thủy nội địa
1.2.1. Khái niệm
Trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa định nghĩa về vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường thủy nội địa cũng đã được ghi nhận trong văn bản pháp luật. Tại Khoản 2
Điều 1 Nghị định 60/2011/NĐ-CP quy định:
"Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là những hành vi của tổ
chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật về giao thông đường thủy nội địa một cách cố ý
hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm
hành chính, bao gồm:
a) Vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường
thủy nội địa;
b) Vi phạm quy định về phương tiện thủy nội địa;
c) Vi phạm quy định về thuyền viên, người lái phương tiện;
d) Vi phạm quy định về quy tắc giao thông và tín hiệu của phương tiện;
đ) Vi phạm quy định về hoạt động của cảng, bến thủy nội địa và vận tải đường thủy nội địa".
Như vậy, vi phạm hành chính trên đường thủy là hành vi của cá nhân, tổ chức cố ý hoặc vô ý
vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực đường thủy hoặc xảy ra
trên đường thủy nội địa nhưng chưa đến mức là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt hành chính.
Thông qua khái niệm về vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa nêu
trên, chúng ta thấy vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa phản ánh
những đặc điểm sau:
Một là: Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật về vi phạm hành chính.
giao thông đường thủy nội địa.
1.3. Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đƣờng thủy nội địa
1.3.1. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội
địa
Thứ nhất, nguyên tắc kịp thời, nhanh chóng, triệt để
Thứ hai, chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật
quy định.
Thứ ba, một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần.
Thứ tư, nguyên tắc xử lý công minh
1.3.2. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
1.2.3.1 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính
a. Hình thức xử phạt chính:
• Hình thức phạt tiền
Đây là hình thức xử phạt phổ biến có tính chất kinh tế được áp dụng với đa số hành vi vi
phạm trong giao thông đường thủy nội địa. Phạt tiền là việc tước bỏ của cá nhân, tổ chức vi
phạm một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước. Mức xử phạt tiền trong xử phạt vi phạm
hành chính trong giao thông đường thủy nội địa theo Nghị định 60/2011 được quy định mức tối
thiểu là 10.000 đồng và mức tối đa là 40.000.000 đồng. Khi áp dụng hình thức phạt tiền, mức
tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt
quy định đối với hành vi đó; nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm
xuống thấp hơn mức trung bình nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt;
nếu vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên cao hơn mức trung bình
nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.
• Hình thức phạt cảnh cáo
Cảnh cáo được áp dụng với những cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình
tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.
b. Hình thức xử phạt bổ sung
Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung trên đơn vị lãnh thổ
tương ứng. Hoạt động cũng như chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân không bó hẹp trong
phạm vi một ngành hay một lĩnh vực cụ thể nào. Còn cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành là
những cơ quan có thẩm quyền riêng trên từng lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể. Từ địa vị pháp lý
như vậy, nên Pháp lệnh cũng như Nghị định 60/2011/NĐ-CP quy định cụ thể Chủ tịch ủy ban nhân
dân các cấp có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm xảy ra trên địa bàn địa phương mình
quản lý. Đối với các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông
đường thủy nội địa như Công an, thanh tra giao thông… thì có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông. Việc quản lý nhà nước trong xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa có phạm vi rất rộng lớn và chủ thể tham gia quản lý nhà
nước cũng rất đa dạng nhưng không phải chủ thể nào cũng có thẩm quyền mà chỉ là những chức
danh được quy định trong Nghị định 60/2011 mới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
b. Xác định thẩm quyền xử phạt theo mức tối đa của khung hình phạt
Nội dung của nguyên tắc này là trong trường hợp áp dụng hình thức phạt tiền, thẩm quyền
xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung hình phạt quy định đối với từng hành vi
vi phạm cụ thể. Theo nguyên tắc này, trong trường hợp thụ lý xem xét trách nhiệm hành chính
của một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, để xác định xem mình có thẩm
quyền xử phạt hay không, người áp dụng pháp luật chỉ cần xem xét từng hành vi vi phạm hành
chính cần xử phạt thuộc chức danh của mình hay không, mà không phải băn khoăn nếu tổng số
tiền phạt được tổng hợp khi ban hành quyết định xử phạt vượt quá thẩm quyền xử phạt của mình.
c. Xác định thẩm quyền xử phạt theo hình thức xử phạt và mức phạt
Nguyên tắc xác định thẩm quyền này có ý nghĩa thực tiễn với việc xác định đúng chức danh
có thẩm quyền xử phạt để xử lý trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành
chính, vì mỗi hình thức xử phạt và mức phạt với mỗi hành vi có thể thuộc những chức danh khác
nhau. Do đó, xác định thẩm quyền trong trường hợp này phải căn cứ vào hình thức và mức xử
phạt dự liệu sẽ áp dụng đối với từng hành vi vi phạm.
Chương 2
TÌNH HÌNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
thực hiện nhiệm vụ tại hiện trường thì có thẩm quyền xử phạt quá thấp. Bởi thẩm quyền xử phạt
bị giới hạn bởi nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt "…Trong trường hợp phạt tiền, thẩm
quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt qui định đối với từng
hành vi cụ thể ".
2.1.3. Hình thức xử phạt vi phạm phạm hành chính trong giao thông đường thủy nội địa
a. Hình thức xử phạt cảnh cáo
Đây là hình thức áp dụng đối với các vi phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp, chủ yếu
mang tính giáo dục. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay hình thức phạt cảnh cáo hành chính chỉ
dừng mức độ quy định như hiện nay thì việc áp dụng hình thức xử phạt này còn nhiều điều đáng
phải bàn. Bởi lẽ điều kiện áp dụng phạt cảnh cáo được quy định chung chung trong Nghị định về
xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông đường thủy nội địa cũng như trong Pháp lệnh mà
không quy định một cách chi tiết cụ thể. Vi phạm lần đầu thì có thể hiểu được nhưng thế nào là
vi phạm nhỏ, có tình tiết giảm nhẹ thì chưa được giải thích. Bên cạnh đó, ranh giới giữa hình
thức xử phạt cảnh cáo và hình thức phạt tiền theo thủ tục đơn giản chưa rõ ràng.
b. Hình thức xử phạt tiền
c. Hình thức phạt bổ sung
Căn cứ vào khoản 2 Điều 5 Nghị định 60/2011/NĐ-CP hình thức phạt bổ sung bao gồm:
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không thời hạn; Tịch thu
tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Hình thức xử phạt này đồng thời
mang tính phòng ngừa, ngăn chặn và tính cưỡng chế làm bất lợi về lợi ích vật chất và tinh thần.
2.1.4. Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông đường thủy nội địa
Trình tự xử lý vi phạm hành chính là các bước tiến hành để xử lý một hành vi vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật. Trình tự xử lý vi phạm hành chính gốm: Phát hiện hành vi vi
phạm, đình chỉ, ngăn chặn hành vi vi phạm; xử phạt vi phạm the thủ tục đơn giản hoặc lập biên
bản vi phạm hành chính; quyết định xử phạt vi phạm hành chính; thi hành quyết định xử phạt vi
phạm hành chính; giải quyết khiếu nại về xử phạt vi phạm hành chính và lưu giữ hồ sơ xử phạt vi
phạm hành chính.
Thủ tục đơn giản
Thủ tục đơn giản sẽ được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ
10.000 đồng đến 100.00 đồng. Đây là thủ tục được áp dụng đối với những vi phạm hành chính
2.1.7. Quy định về tạm giữ phương tiện giao thông
Đối với chủ các phương tiện bị tạm giữ: Phương tiện giao thông vốn là công cụ lao động rất
quan trọng. Việc tạm giữ những phương tiện đó sẽ gây khó khăn cho công việc sản xuất, kinh
doanh của người dân, và do đó, gây ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của họ.
Tác hại đối với nền kinh tế: Trong thời gian bị thu giữ, một phần thiệt hại đối với nền kinh tế
gây ra từ việc giảm năng suất lao động của người dân do bị thiếu một công cụ quan trọng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tác hại đối với xã hội: Sự lạm dụng việc tạm giữ các phương tiện giao thông nói trên đã cơ
hội cho tiêu cực phát triển. Người dân sẽ tìm mọi cách để chạy chọt, nhờ vả nhằm lấy phương
tiện ra khỏi nơi tạm giữ trước thời hạn và các "cò mồi " xuất hiện
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao
thông đƣờng thủy nội địa
Theo kết quả báo cáo tình hình công tác hàng năm của Phòng cảnh sát giao thông đường
thủy của Công an Thành phố Hà Nội:
Năm 2009: lực lượng cảnh sát giao thông đường thủy đã kiểm tra và xử lý 5.033 trường hợp
vi phạm, phạt 1.822.459.000 đồng, xử lý 76 trường hợp khai thác cát trái phép, và ra quyết định
đình chỉ 19 bến khách vi phạm.
Năm 2010: lực lượng cảnh sát giao thông đường thủy đã kiểm tra và xử lý 4.419 trường hợp
vi phạm, phạt 3.408.435.000 đồng, xử lý 295 trường hợp khai thác cát trái phép, và ra quyết định
đình chỉ 12 bến khách vi phạm, 36 bến vật liệu xây dựng.
Năm 2011: lực lượng cảnh sát giao thông đường thủy đã kiểm tra và xử lý 4.453 trường hợp
vi phạm, phạt 4.049.225.000 đồng, xử lý 378 trường hợp khai thác cát trái phép.
Sáu tháng đầu năm 2012: lực lượng cảnh sát giao thông đường thủy đã kiểm tra và xử lý
2.319 trường hợp vi phạm, phạt 1.763.300.000 đồng.
Qua kết quả tổng kết trên của phòng cảnh sát giao thông đường thủy ta thấy số tiền phạt vi
phạm tăng lên, chứng tỏ tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội
địa tại địa bàn Hà Nội rất nhiều và phức tạp. Các lỗi chủ yếu là:
Không có giấy đăng ký phương tiện, không có chứng chỉ nghiệp vụ, không có chứng chỉ
huấn luyện an toàn cơ bản, không có bằng, phương tiện thiếu dụng cụ cứu sinh, cứu đắm, chở
quá số người quy định, chở ô tô cùng với khách….
lĩnh vực giao thông đƣờng thủy nội địa.
3.2.1. Đối với hình thức xử phạt
3.2.2. Quy định về biện pháp ngăn chặn- tạm giữ phương tiện giao thông
3.2.3. Thủ tục xử phạt
3.2.4. Đối với phương thức nộp phạt
3.2.5. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
3.2.6. Cần tăng cường trong công tác quản lý nhà nước về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
Tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, của các Bộ, ngành và Ủy ban
nhân dân các địa phương đã ban hành có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về giao thông
đường thủy nội địa, kịp thời đề xuất bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới cho phù hợp với thực tế.
Công tác phối hợp giữa các bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng quản lý nhà nước
về trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa cần phải chặt chẽ và thường xuyên hơn nữa trên
cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng, tránh trùng dẫm và hạn chế thấp nhất
những sơ hở trong công tác quản lý.
3.2.7. Tăng cường công tác tuần tra kiểm soát của các chiến sĩ công an đường thủy để
nhanh chóng kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm hành chính.
3.2.8. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao
thông đường thủy nội địa.
3.2.9. Vi phạm hành chính có tính phổ biến nên cần quan tâm xử phạt nghiêm đối với vi
phạm hành chính hơn là xử phạt mọi vi phạm hành chính.
3.2.10. Các hình thức xử phạt đối với vi phạm hành chính không nhằm mục đích trừng
trị mà nhằm giáo dục người vi phạm và toàn xã hội
3.2.11. Bổ sung nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
3.2.12. Bổ sung hình thức xử phạt vi phạm hành chính, xác định lại tính chất của các
hình thức đó
3.2.13. Sửa đổi, bổ sung các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo xử
phạt vi phạm hành chính theo hướng bảo vệ quyền con người
KẾT LUẬN
địa đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, trong đó giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật từ Pháp
lệnh cho đến các văn bản hướng dẫn, sao cho tránh chồng chéo, đặc biệt, cần hoàn thiện Luật xử
phạt vi phạm hành chính để đưa vào thực tiễn, làm cơ sở vững chắc, là một loại nguồn pháp luật
quan trọng trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội
địa. Bên cạnh đó, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng công an nhân dân, cũng
như thanh tra đường thủy nội địa trực tiếp tham gia vào làm nhiệm vụ mà chức vụ lãnh đạo thấp
để tránh tình trạng việc giải quyết xử phạt bị dồn lên cấp trên. Thực hiện cải cách hành chính,
đơn giản hóa các thủ tục xử phạt, tạo điều kiện thuận lợi cho cả người thi hành công vụ và người
bị xử phạt. Đồng thời với việc hoàn thiện pháp luật, chúng ta cũng phải đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, phổ biến pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông đường thủy nội địa,
để pháp luật đi vào thực tế một cách sâu sắc nhất.
Để chứng minh cho những nhận xét trên đây, luận văn đã cố gắng phân tích, kiến giải những
quy định chưa phù hợp với pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông đường thủy
nội địa, để từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện. References
1. Quân Ngọc Anh (2009), Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
xây dựng, liên hệ qua thực tế ở thành phố Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Luật- Đại
học Quốc gia Hà Nội.
2. Bộ Công an (2010), Thông tư số 41/2010/TT-BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của
Nghị định số 70/2006/NĐ-CP ngày 24/7/2006 và Nghị định số 22/2009/ NĐ-CP ngày
24/2/2009 về việc quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính trong
Công an nhân dân, Hà Nội.
3. Bộ Giao thông vận tải (2012), Thông tư số 15/2012/TT-BGTVT quy định về trang bị và sử
dụng áo phao cứu sinh, dụng cụ nổi cứu sinh cá nhân trên phương tiện vận tải hành khách
ngang sông, Hà Nội.
4. Bộ Giao thông vận tải - Bộ Công an (2012), Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BGTVT-
BCA hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 60/2011/NĐ-CP ngày 20/7/2011 của
chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội
hành chính", Nghiên cứu lập pháp, 9(146).
20. Gorshumov D.N. (2006), "Những yếu tố tâm lý - xã hội trong thực thi pháp luật", Nghiên
cứu lập pháp, (7), tr. 14-17.
21. Hoàng Hoa (1997), Những vấn đề cơ bản về xử phạt vi phạm hành chính: những thủ tục cần
thiết cho mọi người dân, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
22. Trương Khánh Hoàn (2008), "Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính - Thực trạng và hướng
hoàn thiện", vnclp.gov.vn, ngày 02/10.
23. Trần Minh Hương (2005), "Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và xử lý vi
phạm hành chính", Luật học, (5), tr. 17-24.
24. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và
pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
25. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
26. Quốc hội (2005), Luật giao thông đường bộ, Hà Nội
27. Quốc hội (2005), Luật giao thông đường thủy nội địa, Hà Nội.
28. Nguyễn Văn Thâm - Võ Kim Sơn (2002), Thủ tục hành chính: lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Vũ Thư (2000), Chế tài hành chính - lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
31. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
32. Bùi Huy Tùng (2007), Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội.
33. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1995), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
34. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
35. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung),
Hà Nội.
36. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2008), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung),
Hà Nội.