Đề tài : một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện hạch toán kế toán và quản
lý nguyên liệu, vật liệu tại điện lực ba đình - hà nội.
Phần một
Cơ sở lý luận hạch toán nguyên liệu, vật liệu
trong các doanh nghiệp.
I)Những vấn đề chung về nguyên liệu, vật liệu:
1) Khái niệm nguyên liệu, vật liệu:
Một doanh nghiệp sản xuất phải có đủ ba yếu tố:
- Lao động.
- T liệu lao động.
- Đối tợng lao động.
Ba yếu tố này có sự tác động qua lại với nhau để tạo ra của cải vật chất cho xã
hội. Đối tợng lao động là một trong những điều kiện không thể thiếu trong bất cứ quá
trình sản xuất nào. Biểu hiện cụ thể của đối tợng lao động ở đây chính là các loại vật
liệu. Theo Mác, bất kỳ một loại vật liệu nào cũng là đối tợng lao động song không
phải bất cứ đối tợng lao động nào cũng là vật liệu mà chỉ khi đối tợng lao động thay
đổi do tác động của yếu tố con ngời thì khi đó nó mới trở thành vật liệu. Ví dụ nh các
loại quặng nằm trong lòng đất thì không phải là vật liệu nhng than đá, sắt, đồng,
thiếc... khai thác đợc trong các quặng ấy lại là vật liệu cho các nghành công nghiệp
chế tạo, cơ khí...
Trong quá trình sản xuất sản phẩm ở doanh nghiệp, ba yếu tố hình thành chi
phí tơng ứng: chi phí tiêu hao vật liệu, chi phí tiền lơng, chi phí khấu hao t liệu lao
động. Theo quan điểm của Mác Lênin thì đó chính là chi phí lao động vật hóa và lao
động sống.
Vậy vật liệu là đối tợng lao động đã đợc thay đổi do lao động có ích của con
ngời tác động. Trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất, vật liệu là tài sản dự trữ
quan trọng nhất của sản xuất, thuộc tài sản lu động.
Theo kế toán Pháp, vật liệu là đối tợng lao động trong tình trạng sử dụng tốt
mà xí nghiệp mua vào làm chất liệu ban đầu để sản xuất các sản phẩm công nghiệp
mới.
Trong chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS) số 2, vật liệu đợc xếp vào hàng tồn
nghiệp và kiểm soát chi phí, giá thành sản phẩm. Để tổ chức tốt vật liệu thì công tác
quản lý doanh nghiệp phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Các doanh nghiệp phải có đầy đủ kho tàng để bảo quản vật liệu, kho phải đợc
trang bị các phơng tiện bảo quản và cân, đo, đong, đếm cần thiết, phải bố trí thủ
kho và nhân viên bảo quản có nghiệp vụ thích hợp và có khả năng nắm vững và
thực hiện việc ghi chép ban đầu cũng nh sổ sách hạch toán kho. Việc bố trí sắp
xếp vật liệu trong kho phải theo đúng yêu cầu và kỹ thuật bảo quản, thuận tiện
cho việc nhập, xuất và theo dõi kiểm tra.
- Đối với mỗi thứ vật liệu phải xây dựng định mức dự trữ, xác định rõ giới hạn dự
trữ tối thiểu, tối đa để có căn cứ phòng ngừa các trờng hợp thiếu vật t phục vụ sản
xuất hoặc dự trữ vật t quá nhiều gây ứ đọng vốn. Cùng với việc xây dựng định
mức dự trữ, việc xây dựng định mức tiêu hao vật liệu là điều kiện quan trọng để tổ
chức quản lý và hạch toán vật liệu. Hệ thống các định mức tiêu hao vật t không
những phải có đầy đủ cho từng chi tiết, từng bộ sản phẩm mà còn phải không
ngừng đợc cải tiến và hoàn thiện để đạt tới các định mức tiên tiến.
- Xây dựng sổ danh điểm cho từng loại vật liệu, tạo điều kiện thuận lợi, tránh nhầm
lẫn trong công tác quản lý, hạch toán. Việc lập sổ danh điểm có tác dụng lớn đến
quản lý, hạch toán nh đơn giản, tiết kiệm thời gian trong đối chiếu kho với kế toán
trong công tác tìm kiếm thông tin về từng loại vật liệu.
Từ đặc điểm và yêu cầu quản lý, tổ chức tốt công tác hạch toán là điều kiện
không thể thiếu đợc trong quản lý vật liệu. Điều này thể hiện kế toán phải phản ánh
kịp thời đầy đủ số lợng, giá trị thực tế vật liệu nhập, xuất, tồn kho; kiểm tra tình hình
chấp hành định mức tiêu hao, sử dụng vật liệu; kiểm kê phát hiện kịp thời vật liệu
thừa, thiếu; phân tích tình hình, hiệu quả sử dụng vật liệu.
4) Sự cần thiết tổ chức kế toán vật liệu trong doanh nghiệp và
nhiệm vụ của kế toán:
Vật liệu là một trong những nhân tố cấu thành nên sản phẩm, sau quá trình sản
xuất kinh doanh giá trị của nó chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm. Vật liệu chiếm tỉ
trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Do đó vật liệu có vai trò rất quan trọng trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Để đạt đợc mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là lợi
thành:
- Nguyên, vật liệu chính: Là những thứ mà sau quá trình gia công, chế biến sẽ
thành thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm (kể cả bán thành phẩm mua vào).
- Vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, đợc sử
dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị hoặc
dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các t liệu lao động hay phục vụ cho lao
động của công nhân viên chức (dầu nhờn, hồ keo, thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc
chống rỉ, hơng liệu, xà phòng, giẻ lau...).
- Nhiên liệu: Là những thứ dùng để cung cấp nhiệt lợng trong quá trình sản xuất,
kinh doanh nh than, củi, xăng, dầu, hơi đốt, khí đốt...
- Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế cho máy
móc, thiết bị, phơng tiện vận tải...
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần lắp,
không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ...) mà doanh nghiệp mua vào nhằm
mục đích đầu t cho xây dựng cơ bản.
- Phế liệu: Là các loại vật liệu thu đợc trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài sản,
có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt...)
- Vật liệu khác: Bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ cha kể trên nh bao
bì, vật đóng gói, các loại vật t đặc chủng...
Hạch toán theo cách phân loại nói trên đáp ứng đợc yêu cầu phản ánh tổng
quát về mặt giá trị đối với mỗi loại vật liệu. Để đảm bảo thuận tiện, tránh nhầm lẫn
cho công tác quản lý và hạch toán về số lợng và giá trị đối với từng thứ vật liệu, trên
cơ sở phân loại vật liệu doanh nghiệp phải xây dựng " Sổ danh điểm vật liệu", xác
định thống nhất tên gọi của từng thứ vật liệu, ký mã hiệu, quy cách của vật liệu, số
hiệu của mỗi thứ vật liệu, đơn vị tính và giá hạch toán của vật liệu.
Sổ danh điểm vật liệu có tác dụng trong công tác quản lý và hạch toán đặc biệt
trong điều kiện cơ giới hoá công tác hạch toán ở doanh nghiệp.
Ngoài cách phân loại trên, doanh nghiệp còn có thể sử dụng cách phân loại khác
nh:
Phân loại theo nguồn hình thành (sử dụng tiêu thức mua hay tự sản xuất).
biến cùng các chi phí liên quan (tiền thuê gia công, chế biến, chi phí vận chuyển,
bốc dỡ, hao hụt trong định mức...).
Với vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia liên doanh:
Giá thực tế là giá thoả thuận do các bên xác định cộng (+) với các chi phí tiếp
nhận (nếu có).
Với phế liệu: Giá thực tế là giá ớc tính có thể sử dụng đợc hay giá trị thu hồi tối
thiểu.
Với vật liệu đợc tặng, thởng: Giá thực tế tính theo giá thị trờng tơng đơng cộng
(+) chi phí liên quan đến việc tiếp nhận.
Giá thực tế xuất kho:
Đối với vật liệu xuất dùng trong kỳ, tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng
doanh nghiệp, vào yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, có thể
sử dụng một trong các phơng pháp sau theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán,
nếu có thay đổi phải giải thích rõ ràng:
Phơng pháp giá đơn vị bình quân: Theo phơng pháp này, giá thực tế vật liệu xuất
dùng trong kỳ đợc tính theo công thức:
Giá thực tế
vật liệu xuất dùng
=
Số lợng vật liệu
xuất dùng
x
Giá đơn vị bình
quân
Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong ba cách sau:
Cách 1: Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ (Weight Average Cost) :
Giá đơn vị bình quân
=
Giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lợng thực tế vật liệu tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
cách khác cơ sở của phơng pháp này là giá thực tế của vật liệu mua trớc sẽ đợc dùng
làm giá để tính giá thực tế vật liệu xuất trớc và do vậy giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ
sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng. Phơng pháp này thích hợp trong tr-
ờng hợp giá cả ổn định hoặc có xu hớng giảm.
- Ưu điểm:
+ Gần đúng với luồng nhập - xuất vật liệu trong thực tế.
+ Phản ánh đợc sự biến động của giá vật liệu tơng đối chính xác.
- Nhợc điểm:
+ Làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại.
Theo phơng pháp nhập trớc - xuất trớc, doanh thu hiện tại đợc tạo ra bởi giá trị
vật liệu đã đợc mua vào từ cách đó rất lâu.
+ Khối lợng công việc hạch toán nhiều.
Phơng pháp này thờng đợc áp dụng ở những doanh nghiệp có ít vật liệu, số lần
nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều.
Phơng pháp nhập sau xuất trớc ( Last in, First out):
Phơng pháp này giả định những vật liệu mua sau cùng sẽ đợc xuất trớc tiên,
ngợc lại với phơng pháp nhập trớc - xuất trớc ở trên. Phơng pháp nhập sau - xuất trớc
thích hợp trong trờng hợp lạm phát.
- Ưu điểm:
Doanh thu hiện tại đợc phù hợp với những khoản chi phí hiện tại.
- Nhợc điểm:
+ Phơng pháp này bỏ qua việc nhập xuất vật liệu trong thực tế.
+ Chi phí quản lý vật liệu của doanh nghiệp có thể cao vì phải mua thêm vật
liệu nhằm tính vào giá vốn hàng bán những chi phí mới nhất với giá cao.
+ Giá trị vật liệu tồn kho và vốn lu động của doanh nghiệp đợc phản ánh thấp
hơn so với thực tế. Điều này làm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp bị nhìn
nhận là kém hơn so với khả năng thực tế.
Phơng pháp trực tiếp ( Specific unit cost):
Theo phơng pháp này, vật liệu đợc xác định giá trị theo đơn chiếc hay từng lô
và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất dùng (trừ trờng hợp điều chỉnh). Khi
- Ưu điểm:
Phơng pháp này kết hợp đợc hạch toán chi tiết vật liệu và hạch toán tổng hợp
để tính giá vật liệu, không phụ thuộc vào cơ cấu vật liệu sử dụng nhiều hay ít.
- Nhợc điểm:
+ Phải tổ chức hạch toán tỉ mỉ, khối lợng công việc dồn vào cuối kỳ hạch toán,
phải xây dựng đợc giá hạch toán khoa học.
Phơng pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều danh điểm vật liệu
và có trình độ kế toán tuơng đối tốt.
Các phơng pháp này có ảnh hởng đến chi phí vật liệu và giá thành sản phẩm.
Trong một thị trờng ổn định giá không đổi, việc lựa chọn phơng pháp tính giá là
không quan trọng lắm. Tuy nhiên, trong một thị trờng không ổn định, khi giá lên
xuống thất thờng, mỗi phơng pháp có thể cho một kết quả khác nhau. Thực tế, nếu
giá mua nhập vật liệu tăng lên qua các kỳ thì phơng pháp nhập trớc - xuất trớc cho
giá thành sản phẩm thấp nhất, ngợc lại phơng pháp nhập sau - xuất trớc cho giá thành
sản phẩm là cao nhất, giá thành sản phẩm của phơng pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ
dự trữ nằm giữa hai phơng pháp trên. Phơng pháp trực tiếp thì phụ thuộc vào vật liệu
nào đợc xuất dùng. Phơng pháp giá hạch toán sử dụng giá hạch toán ổn định trong
các kỳ kế toán.
Các doanh nghiệp có quyền lựa chọn phơng pháp thích hợp với đặc điểm sản
xuất của doanh nghiệp. Theo các nguyên tắc đợc thừa nhận (GAAP), nguyên tắc nhất
quán, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng phơng pháp giống nhau từ kỳ này
sang kỳ khác bảo đảm tính chất so sánh đợc của số liệu. Nguyên tắc này không có
nghĩa là doanh nghiệp không bao giờ có thể thay đổi phơng pháp. Doanh nghiệp có
thể thay đổi phơng pháp tính giá xuất nhng phải có sự thông báo công khai; ghi đúng,
đủ, trung thực số liệu có thể thấy rõ ảnh hởng của sự thay đổi.
Trong chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS) số 2, các phơng pháp nhập trớc - xuất
trớc, phơng pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ, phơng pháp trực tiếp là những ph-
ơng pháp đợc chấp nhận hạch toán chi phí. Phơng pháp nhập sau - xuất trớc là phơng
pháp hạch toán thay thế cho các phơng pháp hạch toán chuẩn: nhập trớc - xuất trớc và
phơng pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ. Trong kế toán Việt Nam, các phơng
...
Việc tổ chức kế toán chi tiết vật liệu đợc sử dụng một trong ba phơng pháp:
Phơng pháp thẻ song song, Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển và Phơng pháp sổ
số d. Mỗi phơng pháp có u điểm, nhợc điểm và phạm vi áp dụng riêng. ở một số nớc
nh Mỹ, việc hạch toán chi tiết rất đơn giản nh một dạng hạch toán phụ. Kế toán Mỹ
chỉ dùng một sổ kho mở chi tiết cho từng vật liệu. Sổ kho theo dõi liên tục nhập xuất
tồn về số lợng, đơn giá, thành tiền và dùng để đối chiếu với sổ cái tại mọi thời điểm.
a) Phơng pháp thẻ song song:
Theo phơng pháp thẻ song song, để hạch toán nghiệp vụ nhập, xuất và tồn kho
vật liệu, ở kho phải mở thẻ kho để ghi chép về mặt số lợng và ở phòng kế toán phải
mở sổ kế toán chi tiết vật liệu để ghi chép về mặt số lợng và giá trị.
Thẻ kho do kế toán lập theo mẫu quy định thống nhất (mẫu 06 - VT) cho từng
danh điểm vật liệu và phát cho thủ kho sau khi đã vào sổ đăng ký thẻ kho.
ở kho:
Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn vật t về mặt số l-
ợng. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho. Thẻ đợc mở cho từng danh điểm vật t.
Cuối tháng, thủ kho phải tiến hành tổng cộng số nhập, xuất, tính ra số tồn kho về mặt
lợng theo từng danh điểm vật t.
ở phòng kế toán:
Kế toán vật t mở thẻ kế toán chi tiết vật t cho từng danh điểm vật t tơng ứng
với thẻ kho mở ở kho. Thẻ này có nội dung tơng tự thẻ kho, chỉ khác là theo dõi cả về
mặt giá trị. Hàng ngày, hoặc định kỳ, khi nhận các chứng từ nhập, xuất kho do thủ
kho chuyển tới, nhân viên kế toán vật t phải kiểm tra, đối chiếu và ghi đơn giá hạch
toán vào thẻ kế toán chi tiết vật t và tính ra số tiền. Sau đó lần lợt ghi các nghiệp vụ
nhập, xuất vào các thẻ kế toán chi tiết vật t có liên quan. Cuối tháng tiến hành cộng
thẻ và đối chiếu với thẻ kho.
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và chi tiết, kế toán phải căn cứ
vào các thẻ kế toán chi tiết để lập Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho về mặt giá trị
của từng loại vật t. Số liệu của bảng này đợc đối chiếu với số liệu của phần kế toán
tổng hợp.
Theo phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển, công việc cụ thể tại kho giống nh
phơng pháp thẻ song song ở trên. Tại phòng kế toán, kế toán vật t không mở thẻ kế
toán chi tiết vật t mà mở sổ đối chiếu luân chuyển để hạch toán số lợng và số tiền của
từng thứ (danh điểm) vật t theo từng kho. Sổ này ghi mỗi tháng một lần vào cuối
tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập xuất phát sinh trong tháng của từng thứ
vật t, mỗi thứ chỉ ghi một dòng trong sổ. Cuối tháng đối chiếu số lợng vật t trên sổ
đối chiếu luân chuyển với thẻ kho, đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp.
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi tiết vật t theo phơng pháp sổ đối chiếu luân
chuyển
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Bảng kê nhập
Kế toán tổng hợp
Thẻ kho
Phiếu xuất khoGhi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
- Ưu điểm: Phơng pháp này đơn giản, dễ làm, khối lợng ghi chép có giảm bớt so
với phơng pháp thẻ song song.
- Nhợc điểm:
+ Việc ghi sổ vẫn trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về chỉ tiêu số lợng.
+ Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa kho và phòng kế toán chỉ đợc tiến hành
vào cuối tháng, vì vậy hạn chế chức năng kiểm tra của kế toán.
+ Nếu không lập bảng kê nhập, xuất vật liệu thì việc sắp xếp chứng từ nhập,
xuất trong cả tháng để ghi sổ đối chiếu luân chuyển dễ phát sinh nhầm lẫn, sai sót.
giao nhận chứng từ nhập, xuất vật t.
Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào số d đầu tháng để tính
ra số d cuối tháng của từng nhóm vật t. Số d này đợc dùng để đối chiếu với cột số
tiền trên sổ số d (số liệu trên sổ số d do kế toán vật t tính bằng cách lấy số lợng tồn
kho x giá hạch toán).
Sơ đồ 3: Sơ đồ hạch toán chi tiết vật t theo phơng pháp sổ số d
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
- Ưu điểm:
+Tránh đợc sự ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, giảm bớt khối
luợng ghi chép kế toán, công việc đợc tiến hành đều trong tháng.
+ Kế toán thực hiện kiểm tra thờng xuyên đối với việc ghi chép của thủ kho
trên thẻ kho cũng nh bảo quản hàng trong kho của thủ kho.
- Nhợc điểm: Khó kiểm tra sai sót vì phòng kế toán chỉ theo dõi về mặt giá trị của
từng nhóm vật liệu.
- Điều kiện áp dụng: Phù hợp với các doanh nghiệp có nhiều danh điểm vật liệu,
nghiệp vụ nhập, xuất vật liệu nhiều, dùng giá hạch toán để ghi chép tình hình
nhập, xuất, tồn vật liệu và yêu cầu trình độ kế toán cao.
2) Hạch toán tổng hợp nguyên liệu, vật liệu:
Xuất phát từ yêu cầu quản lý kinh doanh trong kinh tế thị trờng, để đa ra các
quyết định chỉ đạo tổ chức hoạt động kinh doanh, ban lãnh đạo cần phải có những
thông tin đa dạng, theo các mức độ khác nhau và ở nhiều bộ phận khác nhau và đặc
biệt là thông tin của bộ phận tài chính.
ở các nớc nh Anh, Mỹ..., để đáp ứng nhu cầu thông tin, họ đã xây dựng hệ
thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị. Sự kết hợp của hai hệ thống cho
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ số d
Trong trờng hợp vật t xuất thờng xuyên trong tháng và doanh nghiệp đã lập
định mức tiêu hao vật t cho sản phẩm thì sử dụng "Phiếu xuất vật t theo hạn mức".
Phiếu này đợc lập thành hai liên, 1 liên giao cho thủ kho, 1 liên giao cho đơn vị lĩnh,
sau mỗi lần xuất kho, thủ kho ghi số thực xuất vào thẻ kho. Cuối tháng hoặc sau khi
đã xuất hết hạn mức, thủ kho phải thu lại phiếu của đơn vị lĩnh, kiểm tra đối chiếu với
thẻ kho, ký và chuyển một liên cho bộ phận cung ứng, liên còn lại chuyển cho phòng
kế toán.
Đối với trờng hợp xuất bán vật liệu, bộ phận cung ứng sẽ lập "Hoá đơn kiêm
phiếu xuất kho" lập thành ba liên: 1 liên lu lại ở phòng cung ứng, 1 liên giao cho
khách hàng và 1 liên thủ kho ghi vào thẻ kho và chuyển lên cho phòng kế toán.
Trờng hợp xuất kho vật liệu để gia công chế biến, di chuyển nội bộ, doanh
nghiệp sử dụng "Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ".
a) Hạch toán tổng hợp nguyên liệu, vật liệu theo phơng
pháp kê khai thờng xuyên:
Phơng pháp kê khai thờng xuyên (perpetual inventory method) là phơng pháp
theo dõi và phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách
thờng xuyên, liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho. Phơng pháp
này đợc sử dụng phổ biến hiện nay ở nớc ta vì những tiện ích của nó. Tuy nhiên với
những doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật t, hàng hoá có giá trị thấp, thờng xuyên
xuất dùng, xuất bán mà áp dụng phơng pháp này sẽ tốn rất nhiều công sức. Dầu vậy,
phơng pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn kho một cách
kịp thời, cập nhật. Theo phơng pháp này, tại bất kỳ thời điểm nào, kế toán cũng có
thể xác định đợc lợng nhập, xuất, tồn kho từng loại hàng tồn kho nói chung và
nguyên vật liệu nói riêng. Theo chuẩn mực kế toán Quốc tế số 2, giá trị vật liệu đợc
hạch toán vào giá phí hàng tồn kho, những khoản chi phí không nằm trong giá phí
hàng tồn kho và đợc tính vào chi phí phát sinh trong kỳ: Nguyên vật liệu phế thải, chi
phí dự trữ tồn kho trừ phi khoản chi phí này là cần thiết trong quá trình sản xuất trớc
một giai đoạn sản xuất tiếp theo. ở Việt Nam, kế toán đã vận dụng có chọn lọc chuẩn
mực vào hạch toán vật liệu.
Để hạch toán nguyên liệu, vật liệu, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
kinh doanh vàng bạc), do phần thuế VAT đợc tính vào giá thực tế vật liệu nên khi
mua vào, kế toán ghi vào tài khoản 152 theo tổng giá thanh toán.
Hạch toán tình hình biến động giảm vật liệu:
Vật liệu trong doanh nghiệp giảm chủ yếu do xuất sử dụng cho sản xuất kinh
doanh, phần còn lại có thể xuất bán, xuất góp vốn liên doanh... Mọi trờng hợp giảm
vật liệu đều ghi theo giá thực tế ở bên Có của tài khoản 152.
Sơ đồ 4: Sơ đồ hạch toán tổng quát vật liệu theo phơng pháp kê khai thờng
xuyên (tính thuế VAT theo phơng pháp khấu trừ)
TK 111,112,331... TK 152
TK1331
TK 621
TK 627,641,642,241
TK 151
Mua v.l nhập kho
Xuất v.l chế biến S.P
Sơ đồ 5: Sơ đồ hạch toán tổng quát vật liệu theo phơng pháp kê khai thờng
xuyên (tính thuế VAT theo phơng pháp trực tiếp)
TK 128,222,136
TK 412,1381,642
TK 1388,154
TK 411
TK 154
TK 412,3381
TK 311,3388
Nhập v.l đi đờng
V.l cấp trên cấp
Nhập v.l đơn vị tự
Đánh giá tăng v.l,
Vay NH, đơn vị
khác để mua v.l
(Tổng giá thanh toán)
b) Hạch toán nguyên liệu, vật liệu theo phơng pháp kiểm
kê định kỳ:
Phơng pháp kiểm kê định kỳ (periodic inventory method) là phơng pháp không
theo dõi một cách thờng xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật t,
hàng hoá, sản phẩm trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản
ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định
lợng tồn kho thực tế. Từ đó xác định lợng xuất dùng cho sản xuất kinh doanh và các
mục đích khác trong kỳ theo công thức:
Giá trị vật liệu xuất
dùng trong kỳ
=
Giá trị vật liệu
tồn kho đầu kỳ
+
Tổng giá trị vật liệu
tăng thêm trong kỳ
-
Giá trị vật liệu
tồn kho cuối kỳ
Độ chính xác của phơng pháp này không cao mặc dầu tiết kiệm đợc công sức
ghi chép và nó chỉ thích hợp với các đơn vị kinh doanh những chủng loại hàng hoá,
vật t khác nhau, giá trị thấp, thờng xuyên xuất dùng, xuất bán. TK sử dụng:
TK 611 Mua hàng (tiểu khoản 6111 - Mua nguyên, vật liệu): Dùng để theo dõi
tình hình thu mua, tăng, giảm nguyên vật liệu theo giá thực tế.
- Bên nợ: Phản ánh giá thực tế nguyên, vật liệu tồn đầu kỳ và tăng thêm trong kỳ.
- Bên có: Phản ánh giá thực tế vật liệu xuất dùng, xuất bán, thiếu hụt... trong kỳ và
tồn kho cuối kỳ.
TK 6111 cuối kỳ không có số d và thờng đợc mở chi tiết theo từng loại vật t.
TK 152 Nguyên liệu, vật liệu:
cứ vào các hoá đơn, chứng từ liên quan, kế toán ghi sổ phản ánh trực tiêp vào tài
khoản 611. Cuối kỳ: căn cứ kết quả kiểm kê, kế toán kết chuyển giá trị vật liệu cha sử
dụng và xác định giá trị xuất dùng. Để xác định giá trị vật liệu xuất dùng của từng
loại cho sản xuất, kế toán phải kết hợp với kế toán chi tiết mới có thể xác định đợc do
kế toán tổng hợp không theo dõi xuất liên tục.
Sơ đồ 6: Sơ đồ hạch toán tổng hợp vật liệu theo phơng pháp kiểm kê định kỳ
(tính thuế VAT theo phơng pháp khấu trừ)
TK 627,641,642
TK 621TK 611TK 151,152
TK 111,112
TK 133
TK 411...
Kết chuyển trị giá v.l
tồn kho, đi đờng đầu kỳ
Tính vật liệu xuất cho chế
biến sản phẩm
P.á các ng.vụ mua, nhập vật
liệu trong kỳ
Nhập v.l từ các nguồn khác
Tính vật liệu xuất cho
các mục đích
Kết chuyển trị giá v.l tồn kho và đang đi đờng cuối kỳ
TK 111, 112
TK 138, 334, 821, 642
Giá trị thiếu hụt, mất mát
Giảm giá đợc hởng và giá trị
hàng mua trả lại
Sơ đồ 7:Sơ đồ hạch toán tổng hợp vật liệu theo phơng pháp kiểm kê định kỳ
(tính thuế VAT theo phơng pháp trực tiếp)
TK 412
Báo cáo kế toán, Bảng cân đối, và là quy định về hạch toán vật liệu doanh nghiệp.
Công tác kiểm kê nhằm xác định chính xác số lợng, chất lợng, giá trị của từng loại
vật liệu hiện có tại doanh nghiệp, kiểm tra tình hình bảo quản nhập xuất và sử dụng,
phát hiện kịp thời và xử lý các trờng hợp hao hụt, h hỏng ứ đọng, mất mát, kém phẩm
chất. Công tác kiểm kê phải đợc tiến hành định kỳ sáu tháng, một năm trớc khi lập
các báo cáo quyết toán do ban kiểm kê tài sản của doanh nghiệp tiến hành. Ban kiểm
kê sử dụng các phơng tiện cân, đo, đong, đếm...xác định số lợng vật liệu có mặt tại
kho vào thời điểm kiểm kê và đồng thời xác định về mặt chất lợng của từng loại. Kết
quả kiểm kê sẽ đợc ghi vào Biên bản kiểm kê (mẫu số 08 -VT). Biên bản đợc lập cho
từng kho, từng địa điểm sử dụng, từng ngời phụ trách. Kết quả kiểm kê gửi lên cho
phòng kế toán đối chiếu với sổ sách.
Sơ đồ 8 : Hạch toán vật liệu thừa thiếu khi kiểm kê
b) Kế toán đánh giá lại vật liệu:
Khi đánh giá lại làm tăng giá trị vật liệu, kế toán căn cứ vào khoản chênh lệch để
ghi:
Nợ TK 152
TK 721
TK 152
TK 621, 627, 641, 642
TK 338(3381)
TK 002
TK 111, 334, 138(1388)
TK 642
TK 138(1381)
Vật liệu thừa xác định là
của doanh nghiệp
Vật liệu thừa cha rõ
nguyên nhân chờ xử lý
Vật liệu thừa là
+ Tách rời hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết.
+ Phải lập bảng cân đối số phát sinh để kiểm tra số liệu trớc khi lập báo cáo vì
sổ cái đợc phản ảnh ở một số trang sổ riêng biệt.
Hình thức sổ này bao gồm các loại sổ chủ yếu sau:
Sổ nhật ký chung, nhật ký đặc biệt.
Sổ cái .
Các thẻ kho, sổ kế toán chi tiết.
Trình tự hạch toán vật liệu theo hình thức nhật ký chung đợc thực hiện theo sơ
đồ sau: Sơ đồ 9