Đề tài “Một số giải pháp hỗ trợ và thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT sang thị trường Nhật Bản” - Pdf 21


ĐỀ TÀI

“Một số giải pháp hỗ trợ và thúc đẩy
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của
công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ
nghệ ARTEXPORT sang thị trường
Nhật Bản”
Giáo viên thực hiện :
Sinh viên thực hiện :

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU

Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ.

1.1 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ .
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.1.2 Đặc điểm của hàng TCMN
1.1.3 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ



Chương III : Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị
trường Nhật Bản
3.1 Xu thế phát triển hàng thủ công mỹ nghệ
3.1.1 Định hướng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Đảng và Nhà nước
3.1.2 Xu thế phát triển hàng thủ công mỹ nghệ trong những năm tới.

3.2 Phương hướng kinh doanh của công ty ARTEXPORT trong thời gian tới.
3.2.1 Mục tiêu của công ty trong thời gian tới
3.2.2 Nhiệm vụ của công ty trong thời gian tới
3. 3 Một số giải pháp vi mô
3.3.1 Về nguồn nhân lực
3.3.2 Về hoạt động Maketing
3.3.3 Hoạt động sản xuất
3.4 Các giải pháp vĩ mô
3.4.1 Giải pháp về thị trường.
3.4.2 Giải pháp phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
3.5 Một số kiến nghị đối với Nhà nước và Bộ thương mại.
KẾT LUẬN

LỜI NÓI ĐẦU
Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất
nước hướng về xuất khẩu, tận dụng mọi nguồn lực sẵn có đồng thời từng
bước tham gia hội nhập nền kinh tế khu vực, kinh tế thế giới thì việc tận dụng
nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước để phát triển những mặt hàng xuất
khẩu là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Trong chiến lược hướng vào xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu ngành
hàng, Đảng và Nhà nước đã xác định mặt hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng
xuất khẩu chiến lược, có khả năng tăng trưởng cao, nó không chỉ mang lại lợi
ích thiết thực mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rộng lớn. Với chính sách mở

của công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT sang thị
trường Nhật Bản” làm đề tài cho luận văn của mình.
Đối tượng nghiên cứu tập trung vào hoạt động xuất khẩu của doanh
nghiệp bao gồm nhiều nội dung khác nhau : từ đặc điểm sản phẩm thủ công
mỹ nghệ , của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ, vai trò của xuất khẩu và các yếu
tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cho đến thực trang hiện nay ở công ty.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu sản phẩm thủ
công mỹ nghệ của công ty ARTEXPORT sang thị trường Nhật Bản.
Trong đề tài này em sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, thống
kê số liệu để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT
sang thị trường Nhật Bản trong thời gian qua, kết hợp với biện pháp tìm kiếm,
thu thập những thông tin liên quan đến thị trường nhập khẩu của Nhật Bản, từ
đó đưa ra những biện pháp nhằm hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản trong thời gian tới.

Nội dung của luận văn được chia làm 3 phần như sau:
Chương I : Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ.
Chương II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu TCMN ở Việt Nam
và công ty ARTEXPORT trong thời gian qua.
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị
trường Nhật Bản.
Trong giới hạn về khả năng cũng như thời gian em đã rất cố găng để
hoàn thiện đề tài này, tuy nhiên do hạn chế về mặt kiến thức cũng như nguồn
tài liệu nên bài viết còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến để
em có thể nhận thức một cách hoàn thiện hơn. Qua đây em xin chân thành
cảm ơn TS. Ngô Xuân Bình- thây giáo trực tiếp hướng dẫn và thầy cô giáo
trong Bộ môn Kinh tế thương mại, tập thể phòng Xuất nhập khẩu tổng hợp
9,công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT cung cấp tài liệu

trình sản xuất và đời sống.
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm
nông nghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ
liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ
chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phường hội: phường gốm, phường đúc
đồng, phường dệt vải…từ đó, các nghề được lan truyền và phát triển thành
làng nghề. Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất
nông nghiệp, vừa làm nghề phụ. Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các
nghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới hạn trong quy mô
nhỏ dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công.
Những làng nghề phát triển mạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thống
tăng nhanh và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều.
Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền
thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân
tộc . Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ
công nghiệp ở nông thôn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình rồi đến
cả họ và lan ra cả làng. Trải qua một quá trình lâu dài của lịch sử, lúc thịnh,
lúc suy, có những nghề được gìn giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn
và có những nghề mới ra đời. Trong đó có những nghề đạt tới trình độ công
nghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công lao động khá cao.
Theo đó ta có thể đưa ra một số khái niệm sau:
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn( làng) có một
hay một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh
doanh độc lập. Thu nhập của các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá
trị sản phẩm của toàn làng.
Làng nghề truyền thống
Để làm rõ khái niệm về làng nghề truyền thống cần có những tiêu thức
sau
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50%
trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng.

3. Nhóm sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ
4. Nhóm hàng thêu 1.2 Đặc điểm của hàng TCMN
1.2.1. Tính văn hoá
Khác với sản xuất công nghiệp, trong sản xuất tiểu thủ công , lao động
chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ, người
nghệ nhân. Sản phẩm làm ra bừa có giá trị sử dụng nhưng lại vừa mang dấu
ấn bàn tay tài hoa của người thợ và phong vị độc đáo của một miền quê nào
đó.Cũng chính vì vậy mà hàm lượng văn hoá ở các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ được đánh giá cao hơn nhiều so với hang công nghiệp sản xuất hàng
loạt. Ngay từ khi phát hiện ra các sản phẩm trống đồng Đông Sơn, trống đồng
Ngọc Lũ, thế giới đã biết đến một nền văn hoá Việt Nam qua những sản phẩm
phản ánh sinh động và sâu sắc nền văn hoá, tư tưởng và xã hội thời đại Hùng
Vương. Cho đến nay, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm tính văn
hoá như gốm Bát Tràng, hay bộ chén đĩa, tố sứ cao cấp có hình hoa văn Châu
á, mang đâm nét văn hoá Việt Nam như chim lạc, thần kim quy, hoa sen…đã
được xuất khẩu rộng rãi ra khắp thế giới, người ta đã có thể tìm hiểu phần nào
văn hoá của Việt Nam .
Có thể nói đặc tính này là điềm thu hút mạnh mẽ đối với khách hàng
nhất là khách quốc tế, nó tạo nên một ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ
nghệ và được coi như món quà lưu niệm đặc biệt trong mỗi chuyến du lịch
của du khách nước ngoài. Khách du lịch khi đến thăm Việt Nam không thể
không mang theo về nước một món đồ thủ công mỹ nghệ , cho dù ở nước họ
có thể sản xuất ra nhưng sẽ không thể mang hồn bản sắc văn hoá của Việt
Nam . Sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là hàng hoá đơn thuần mà trở
thành sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng của
nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam .
1.2.2 Tính mỹ thuật

Tính đa dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện ở phương thức ,
nguyên liệu làm nên sản phẩm đó và chính nét văn hoá trong sản phẩm.
Nguyên liệu làm nên sản phẩm có thể là gạch, đất, cói , dây chuối, xơ
dừa…mỗi loại sẽ tạo nên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ với những sắc thái
khác nhau, cho người sử dụng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm. Là
một đôi dép đi trong nhà, nhưng dép làm bằng cói đã quá cũ đối với người
tiêu dùng nên hiện nay, các nghệ nhân sử dụng chất liệu dây chuối, tạo cảm
giác rất mới lạ, vừa có màu vàng ngà của chuối vừa có mầu mốc tự nhiên của
thân chuối…Bên cạnh đó, tính đa dạng còn được thể hiện qua những nét văn
hoá trên sản phẩm thủ công mỹ nghệ bởi vì mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ
đêù mang những nét văn hoá đặc trưng của từng vùng, từng thời đại sản xuất
ra chúng. Chính vì vậy trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ
nghệ, mỗi loại đều có sự khác biệt rõ rệt, không đồng nhất. Cũng là đồ gốm
sứ nhưng người ta vẫn có thể thấy đâu là gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản ,
gốm Trung quốc…
1.2.5 Tính thủ công
Có thể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công
mỹ nghệ. Tính chất thủ công thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều
là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật.
Chính đặc tính này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công mỹ nghệ và
những sản phẩm công nghiệp hiện đại được sản xuất hàng loạt và ngày
nay,cho dù không sánh kịp tính ích dụng của các sản phẩm này nhưng sản
phẩm thủ công mỹ nghệ luôn gây được sự yêu thích của người tiêu dùng.
1.3 Xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và vai trò của xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ
1.3.1 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác hàng hoá khác ở chỗ nó vừa có thể
sử dụng vừa có thể là vật trang trí, làm đẹp cho nhà cửa, văn phòng hay cũng
có thể là đồ lưu niệm hấp dẫn trong mỗi chuyến du lịch của khách quốc tế.
Chính vì vậy, hàng thủ công mỹ nghệ có thể được xuất khẩu ra nước ngoài

nghiệp. Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành công
nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn. Việc
phát triển các làng nghề truyền thống dẫ có vai trò tích cực trong việc góp
phần tăng tỉ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ
trọng của nông nghiệp, chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu nhập
thấp sang ngành nghề nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Ngay từ đầu khi
nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông
nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn có các ngành thủ công nghiệp, thương
mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển.
Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập va
giá trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Do từng bước tiếp
cận với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên người lao
động nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp,
dặc biệt là những sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong
nước và ngoài nước. Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp , khu
vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên.
Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ
ở nông thôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản
xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi
hỏi sự cung cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản
phẩm . Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa
dạng và phong phú , đem lại thu nhập cao cho người lao động.
Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt
với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá. Sự phát triển lan toả của làng nghề
truyền thống đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao
động. Cho đếnnay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công
nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông nghiệp.
* Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.

biến hạt điều thì 1 triệu USD kim ngạch xuất khẩu chỉ thu hút được 400 lao
động).
- Nâng cao và cải thiện đới sống nhân dân.
Ngoài việc được coi là động lực gián tiếp giải quyết việc làm cho người
lao động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập và cải
thiện đời sống cho người lao động ở nông thôn. ở nơi nào có ngành nghề phát
triển thì nơi đó thu nhập cao và mức sống cao hơn các vùng thuần nông. Nếu
so sánh với mức thu nhập lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động
ngành nghề cao hơn khoảng 2 đến 4 lần, đặc biệt là so với chi phí lao động và
diện tích sử dụng đất thấp hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp. Bình quân
thu nhập của 1 lao động trong hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp là
430000- 450000 đồng / tháng, ở hộ kiêm nghề từ 190000- 240000 đồng/
tháng, trong khi đó ở hộ lao động thuần nông chỉ có khoảng 70000-100000
đồng/ người/ tháng. Có những làng nghề có thu nhập cao như làng gốm Bát
Tràng : Mức bình quân thu nhập của các hộ thấp cũng đạt từ 10-20 triệu/năm.
Thu nhập từ nghề gốm sứ Bát Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của toàn
xã. Vì vậy thu nhập của các làng nghề truyền thống đã tạo ra sự thay đổi khá
lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và của địa phương.
Sự phát triển ổn định của làng nghề tạo ra nguồn hàng ổn định đối với
các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này . từ đó tạo ra sự thuận lợi trong
kinh doanh, mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao thu
nhập và mức sống cho người lao động.
Ngoài ra việc khôi phục và sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn
kéo theo nhiều ngành khác phát triển nhất là ngành du lịch và các ngành dịch
vụ có liên quan. Sản xuất thủ công mỹ nghệ và du lịch là 2 nhân tố có tác
động 2 chiều . Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn là một nét hấp dẫn rất
quan trọng và ấn tượng đối với khách du lịch nhất khách du lịch văn hoá ,các
sản phẩm càng đa dạng phong phú càng có tác dụng thu hút mạnh mẽ du
khach tới tham quan, qua đó các dịch vụ về du lịch phát triển đồng thời hàng
thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cũng được các nước bạn biết đến nhiều hơn,

sử của mỗi làng nghề ta thấy kỹ thuật chế tác ra các sản phẩm có từ rất xa xưa
và được bảo tồn đến ngày nay. Kỹ thuật đúc đồng và hợp kim đồng thau đã có
từ thời văn hoá Đông Sơn - một nền văn hoá với những thành tựu rực rỡ, đặc
biệt là trống đồng Ngọc Lũ gắn liền với lịch sử thời Hùng Vương dựng nước.
Cho đến sau này nghề đúc đồng vẫn để lại những dấu ấn lịch sử. Mới đây nhất
ta thấy có tượng phật mới đúc được đặt ở chùa Non Nước cao và nặng nhất
Đông nam á.
Ngày nay các sản phẩm thủ công mỹ nghệ với tính độc đáo và độ tinh
xảo của nó vẫn có ý nghĩa rất lớn với nhu cầu đời sống của con người. Những
sản phẩm này là sự kết tinh, sự bảo tồn các giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc,
là sự bảo lưu những văn hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời
khác tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba với những sản phẩm độc đáo
mang bản sắc riêng. Chính vì vậy xuất khẩu thủ công mỹ nghệ không những
góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá của dân tộc Việt nam mà
còn có nhằm quảng bá chúng trên khắp thế giới .
1.3.2.2 Đối với các doanh nghiệp .
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của
các doanh nghiệp không chỉ được khách hàng trong nước biết đến mà còn có
mặt ở thị trường nước ngoài.
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp , tăng dự trữ, qua
đó nâng cao khả năng nhập khẩu ,thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết
bị phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao tính năng động sáng tạo của các cán bộ xuất
nhập khẩu cũng như các đơn vị tham gia, tích cực tìm tòi và phát triển các mặt
hàng trong khả năng xuất khẩu vào các thị trường có khả năng thâm nhập.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn
thiện công tác quản trị kinh doanh , đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài
tuổi thọ chu kỳ sống của sản phẩm .
Xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham

nguyên vật liệu quá cao sẽ làm chi phí sản xuất cao dẫn đến giá thành hàng
hoá xuất khẩu cao, làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá, giảm lợi
nhuận cho nhà xuất khẩu, và như vậy làm giảm lượng xuất khẩu và ngược lại.
Các công cụ phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu đối với nguyên
vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu và hạn ngạch xuất khẩu
cũng gây khó khăn rất lớn cho hoạt động xuất khẩu.
Vì những ảnh hưởng đó, để khuyến khích xuất khẩu Chính phủ thường
miễm thuế xuất khẩu và giảm thuế nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất
hàng hoá xuất khẩu đối với những mặt hàng có lợi thế sản xuất . Chính phủ
thường áp dụng hạn ngạch xuất khẩu đối với những hàng hoá mà sản xuất
không đủ đáp ứng nhu cầu trong nước và tăng thuế nhập khẩu đối với nguyên
vật liệu dùng để sản xuất hàng hóa xuất khẩu .
* Chính sách tỷ giá hối đoái
Trong thanh toán quốc tế, người ta thường sử dụng những đồng tiền
của các nước khác nhau, do vậy tỷ suất ngoại tệ so với đồng tiền trong nước
có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu: nếu tỷ gia hôi đoái lớn hơn tỷ
suất lợi nhuận thì hoạt đông xuất khẩu có lãi, vì vậy thúc đẩy xuất khẩu và
ngược lại. Chính vì thế mà tỷ giá hối đoái trở thành một công cụ điều tiết của
Nhà nước.

* Hệ thống ngân hàng tài chính.
Hoạt động xuất nhập khẩu liên quan chặt chẽ đến vấn đề thanh toán
quốc tế, thông qua hệ thống Ngân hàng Tài chính giữa các quốc gia. Nó tạo ra
những điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán được thực hiện một cách đơn
giản, nhanh chóng, chắc chắn. Nhờ có hệ thống ngân hàng này dẽ đảm bảo
rằng người bán sẽ thu được tiền và người mua sẽ nhận được hàng , làm giảm
bớt việc phài dành nhiều thời gian và chi phí để các bên đối tác tìm hiểu nhau.
Nếu như một quốc gia có hệ thống tài chính phát triển, hiện đại thì đó
cũng là một điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước trong hoạt
động xuất khẩu và ngược lại.

nghề truyền thống. Song hiện nay vấn đề này trở nên không quan trọng đối
với sự phát triển của các làng nghề bởi sự hỗ trợ tích cực của các phương tiện
giao thông và các phương tiện kỹ thuật. Tuy nhiên vấn đề khối lượng chất
lượng, chủng loại và khoảng cách của các nguồn nguyên liệu này vẫn có
những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng và giá thành sản phẩm. Nếu có
được nguồn nguyên vật liệu ổn định dẫn đến sản xuất cũng ổn định, các nhà
xuất khẩu sẽ có nguồn hàng thường xuyên, tạo uy tín cho doanh nghiệp.
Thứ tư, trình độ kỹ thuật và công nghệ: trong điều kiện hiện nay, khi
mà giao lưu thương mại mang tính toàn cầu hoá thì việc ứng dụng khoa học
công nghệ mới có ý nghĩa quyết định, có tác động trực tiếp tới sự đảm bảo và
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nhận thức được điều đó, nhiều
làng nghề thủ công mỹ nghệ đã đẩy mạnh việc áp dụng kỹ thuật và đổi mới
công nghệ, cải tiện phương pháp sản xuất để nâng cao năng suất lao động và
chất lượng sản phẩm, hạ giá thành tạo ra sự phát triển mạnh mẽ và ổn định
cho ngành. Tuy nhiên, việc áp dụng khoa học kỹ thuật không phải là hoàn
toàn mà vẫn phải giữ nét văn hoá và truyền thống cốt yếu trong mỗi sản phẩm
thủ công mỹ nghệ .
Thứ năm, kết cấu hạ tầng : bao gồm hệ thống các đường giao thông,
điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông. Thực tế cho thấy rõ, sản xuất thủ
công mỹ nghệ chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có kết cấu hạ tầng đảm
bảo và đồng bộ. Đây là yếu tố có tác dụng tạo điều kiện tiền đề cho sự ra đời
và phát triển của các cơ sở sản xuất, tạo tiền đề khai thác và phtá huy tiềm
năng sẵn có của các làng nghề. Sự phát triển của yếu tố này sẽ đảm bảo vận
chuyển và cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, đưa nhanh tiến bộ
khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, đồng thời làm giảm thiểu ô nhiễm
môi trường. Hệ thống thông tin liên lạc bưu chính viễn thông giúp doanh
nghiệp nắm bắt các thông tin thị trường để có những ứng xử kịp thời.
1.4.3 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
* Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông

thị sản phẩm là rất tốn kém, hơn nữa xuất khẩu là bán hàng ra nước ngoài nên
việc tìm hiểu thói quen tiêu dùng…là rất phức tạp và tốn nhiều thời gian.
* Hoạt động tạo mẫu sản phẩm.
Hoạt động tạo mẫu sản phẩm là việc nghiên cứu thiết kế sản phẩm
mới, tính năng mới nhằm đưa ra thị trường những loại sản phẩm được người
tiêu dùng đón nhận và đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Trong hoạt động
xuất khẩu thì việc thiết kế sản phẩm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu người
tiêu dùng tại thị trường nhập khẩu được coi là bước thành công ban đầu của
doanh nghiệp, ngược lại, nếu công tác này không tốt doanh nghiệp sẽ chịu tổn
thất lớn do không tiêu thụ được sản phẩm đã sản xuất ra.
* Hoạt động sản xuất
Hoạt động sản xuất là một quắ tình bao gồm: thu mua nguyên vật liệu,
phụ liệu để sản xuất, sản xuất và đóng gói. Trong hoạt động xuất khẩu thì một
đòi hỏi rất khắt khe đó là chất lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng. Chất
lượng sản phẩm phải đáp ứng theo đúng yêu cầu của đối tác xuất khẩu về
chất liệu, mẫu mã. Trong quá trình sản xuất ngoài việc đảm bảo chất lượng
sản phẩm còn phải đảm bảo tiến độ sản xuất để kịp giao hàng đúng thời hạn.

Trích đoạn Định hướng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Đảng và Nhàn ước Một số giải pháp vi mô
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status