Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
hướng về xuất khẩu, tận dụng mọi nguồn lực sẵn có đồng thời từng bước tham
gia hội nhập nền kinh tế khu vực, kinh tế thế giới thì việc tận dụng nguồn
nguyên liệu sẵn có trong nước để phát triển những mặt hàng xuất khẩu là vấn đề
hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Trong chiến lược hướng vào xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu ngành
hàng, Đảng và Nhà nước đã xác định mặt hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng
xuất khẩu chiến lược, có khả năng tăng trưởng cao, nó không chỉ mang lại lợi
ích thiết thực mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rộng lớn. Với chính sách mở
cửa nền kinh tế và tích cực tham gia vào tiến trình khu vực hoá, toàn cầu hoá đã
mở ra nhiều cơ hội cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Trải qua những bước thăng
trầm, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hiện đã có mặt trên 120 nước trên
thế giới. Tuy nhiên hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang gặp những khó khăn
không nhỏ trong vấn đề sản xuất và đẩy mạnh lượng hàng xuất khẩu và để tìm
cho mình một thị trường tiêu thụ ổn định thì hướng cần thiết nhất là khai thác để
thâm nhập và mở rộng thị phần ở những thị trường mới trong đó có Nhật Bản là
một thị trường đầy tiềm năng và hứa hẹn
Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã và đang diễn ra rất tốt đẹp do có những
nét văn hoá truyền thống gần gũi, những mặt hàng xuất nhập khẩu của 2 nước
đều có lợi thế so sánh tương đương. Vì vậy việc xem xét khả năng thâm nhập và
đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường Nhật
Bản, một thị trường có dung lượng lớn là có cơ sở và rất cần thiết. Tuy vậy, bên
cạnh những thuận lợi, thời cơ có được còn không ít những khó khăn thách thức,
đòi hỏi không chỉ nỗ lực rất lớn của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ Việt
Nam mà cần có sự hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nước để có thể tiếp cận và đẩy
mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT là doanh nghiệp
mỹ nghệ
Chương II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ ở
Việt Nam và Công ty ARTEXPORT trong thời gian qua
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ vào thị trường Nhật Bản
Trong giới hạn về khả năng cũng như thời gian em đã rất cố găng để hoàn
thiện đề tài này, tuy nhiên do hạn chế về mặt kiến thức cũng như nguồn tài liệu
nên bài viết còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến để em có thể
nhận thức một cách hoàn thiện hơn. Qua đây em xin chân thành cảm ơn thây
giáo trực tiếp hướng dẫn và thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế thương mại, tập
thể phòng Xuất nhập khẩu tổng hợp 9,công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
ARTEXPORT cung cấp tài liệu và dành thời gian cũng như ý kiến đóng góp để
em hoan thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG
THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
I. SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VÀ XUẤT KHẨU HÀNG
THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
1. Một số khái niệm cơ bản
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đề cho thấy làng
xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống nhân
dân ở nông thôn. Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng
phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đến ngày nay.
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nông
nghiệp và sản xuất nông thôn. Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã Việt
Nam xuất hiện từ thời các vua Hùng dựng nước, những xóm làn định canh đã
hình thành, dựa trên cơ sở những công xã nông thôn. Mỗi công xã gốm một số
Làng nghề truyền thống
Để làm rõ khái niệm về làng nghề truyền thống cần có những tiêu thức
sau
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở
lên so với tổng số hộ và lao động của làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên
50% tổng giá trỉan xuất và thu nhập của làng trong năm.
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hoá và bản
sắc dân tộc Việt Nam.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác.
Từ những tiêu thức trên có thể định nghĩa về làng nghề truyền thống như
sau: “Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ
công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và
đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm. Những nghề thủ công
đó được truyền từ đời náy sang đời khác, thường là qua nhiều thê hệ. Cùng với
thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội,
một nghề cổ truyền tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay
bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và
sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành
hàng hoá trên thị trường.”
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã
xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta còn tồn tại cho đến
ngày nay, bao gôm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc
sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhưng vẫn tuân thủ
công nghệ truyền thống.
Như vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu cụ thể về hàng thủ công mỹ
nghệ như sau: sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền
nước ngoài. Khách du lịch khi đến thăm Việt Nam không thể không mang theo
về nước một món đồ thủ công mỹ nghệ , cho dù ở nước họ có thể sản xuất ra
nhưng sẽ không thể mang hồn bản sắc văn hoá của Việt Nam . Sản phẩm thủ
công mỹ nghệ không chỉ là hàng hoá đơn thuần mà trở thành sản phẩm văn hoá
có tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng của nghề truyền thống của dân
tộc Việt Nam .
2.2. Tính mỹ thuật
Sản phẩm mang tính mỹ thuật cao, mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ là
một tác phẩm nghệ thuật, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ. Nhiều
loịa sản phẩm vừa là phục vụ tiêu dùng , vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa
nơi công sở…các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Khác với các sản phẩm công nghiệp được sản
xuất hàng loạt bằng máy móc, hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị cao ở phương
diện nghệ thuật sáng tạo thì chỉ được sản xuất bằng công nghệ mang tính thủ
công, chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ. Chính đặc điểm này
đã đem lại sự quý hiếm cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Nhờ đó, tai các hội
chợ quốc tế như EXPO, hội chợ ở NEW YORK , Milan( ý) …hang thủ công
mỹ nghệ đã gây được sự chú ý của khách háng nước ngoài bởi sự tinh xảo trong
các đường nét hoa văn trạm trổ trên các sản phẩm , hay những kiể u dáng mẫu
mã độc đáo, mặc dù nguyên liệu rất đơn giản có khi chỉ là một hòn đá, xơ dừa…
qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ thuật có
giá trị cao.
2.3. Tính đơn chiếc
Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc thái
riêng của mỗi làng nghề. Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân
biệt được đâu là gốm Bát Tràng, Thồ hà, Hương Canh…nhờ các hoa văn, màu
men, hoạ tiết trên đó. Bên cạnh đó, tính đơn chiếc có được là do hàng thủ công
mỹ nghệ Việt Nam mang hồn của dân tộc Việt Nam , mang nét văn hoá và bản
sánh kịp tính ích dụng của các sản phẩm này nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ
luôn gây được sự yêu thích của người tiêu dùng.
3. Xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và vai trò của xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ
3.1. Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác hàng hoá khác ở chỗ nó vừa có thể sử
dụng vừa có thể là vật trang trí, làm đẹp cho nhà cửa, văn phòng hay cũng có thể
là đồ lưu niệm hấp dẫn trong mỗi chuyến du lịch của khách quốc tế. Chính vì
vậy, hàng thủ công mỹ nghệ có thể được xuất khẩu ra nước ngoài theo 2 phương
thức sau:
- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nước ngoài vào Việt Nam và
mua hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam. Với xu hướng phát triển của
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
du lịch như hiện nay, hình thức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể vào kim
ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hàng năm.
- Xuất khẩu ra nước ngoài: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ
công mỹ nghệ cho các đối tác nước ngoài bằng cách mang hàng sang tận nơi
băng các phương tiện vận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số
thủ tục xuất khẩu nhất định.
3.2. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
3.2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
* Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá- hiện
đại hoá đất nước.
Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta trong mấy năm gần
đây đã mang lại cho nước ta nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp không nhỏ cho sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cụ thể trong năm 2003 Việt Nam đã xuất
khẩu được gần 400 triệu USD, và tính đến tháng 4 năm nay, kim ngạch hàng
thủ công mỹ nghệ đã đạt trên 100 triệu USD, tăng 10% so với năm ngoái. Đây
là nguồn thu ngoại tệ to lớn thực thu về cho đất nước từ nguồn nguyên liệu rẻ
nông thôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản xuất
nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự
cung cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm . Do
đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và
phong phú , đem lại thu nhập cao cho người lao động.
Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá- hiện đại hoá. Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã
mở rộng quy mô và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động. Cho đếnnay cơ
cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40%
cho nông nghiệp.
* Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.
Tác động của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đến đời sống bao gồm rất
nhiều mặt. Trước hết thông qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu với nhiều công
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập
không thấp tăng gía trị lao động tăng thu nhập quốc dân. Bên cạnh đó, xuất khẩu
thủ công mỹ nghệ còn tạo nguồn để nhập nguồn vật phẩm tiêu dùng thiết yếu,
phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của nhân
dân và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động .
- Tạo việc làm cho người lao động.
Trên phương diện xã hội đẩy mạnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đã kích
thích việc phát triển các làng nghề truyền thống. Hiện nay trong các làng nghề
truyền thống bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho 27
lao động thường xuyên và 8 đến 10 lao động thời vụ, mỗi hộ chuyên nghề tạo
việc làm cho 4 đến 6 lao động thường xuyên và 2 đến 5 lao động thời vụ. Đặc
biệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 đến 250 lao
động.
Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa
nghề truyền thống đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia
đình và của địa phương.
Sự phát triển ổn định của làng nghề tạo ra nguồn hàng ổn định đối với các
doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này . từ đó tạo ra sự thuận lợi trong kinh
doanh, mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao thu nhập
và mức sống cho người lao động.
Ngoài ra việc khôi phục và sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn kéo
theo nhiều ngành khác phát triển nhất là ngành du lịch và các ngành dịch vụ có
liên quan. Sản xuất thủ công mỹ nghệ và du lịch là 2 nhân tố có tác động 2
chiều . Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn là một nét hấp dẫn rất quan trọng
và ấn tượng đối với khách du lịch nhất khách du lịch văn hoá ,các sản phẩm
càng đa dạng phong phú càng có tác dụng thu hút mạnh mẽ du khach tới tham
quan, qua đó các dịch vụ về du lịch phát triển đồng thời hàng thủ công mỹ nghệ
của Việt Nam cũng được các nước bạn biết đến nhiều hơn, đây chính là một
biểu hiện của hình thức xuất khẩu tại chỗ. Ngược lại, nếu du lịch phát triển, có
nhiều khách du lịch đến tham quan tại các làng nghề c sản phẩm thủ công mỹ
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghệ sẽ được biết đến nhiều hơn, được quảng bá nhiều hơn, đó cũng là một hình
thức khuyêch trương giới thiệu sản phẩm của Việt Nam ra nước ngoài, từ đó ta
có thể mở rộng quan hệ kinh doanh và có thể tăng kim ngạch xuất khẩu thủ công
mỹ nghệ.
* Xuất khẩu TCMN là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối
ngoại của nước ta.
Đẩy mạnh xuấu khẩu nói chung và thủ công mỹ nghệ nói riêng có vai trò
tăng cường sự hợp tác quốc tế với các nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước
ta trên thị trường quốc tế…Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và công nghiệp
sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng đầu tư, mở rộng vận tải quốc
tế…Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại mà chúng ta kể trên lại tạo
tiền đề mở rộng xuất khẩu.
tồn và phát triển các giá trị văn hoá của dân tộc Việt nam mà còn có nhằm quảng
bá chúng trên khắp thế giới .
3.2.2. Đối với các doanh nghiệp
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của các
doanh nghiệp không chỉ được khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở
thị trường nước ngoài.
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp , tăng dự trữ, qua đó
nâng cao khả năng nhập khẩu ,thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị
phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao tính năng động sáng tạo của các cán bộ xuất nhập
khẩu cũng như các đơn vị tham gia, tích cực tìm tòi và phát triển các mặt hàng
trong khả năng xuất khẩu vào các thị trường có khả năng thâm nhập.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản trị kinh doanh , đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ
chu kỳ sống của sản phẩm .
Xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia
xuất khẩu trong và ngoài nước. Chính vì vậy, các doanh nghiệp buộc phải nâng
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cao chất lượng hàng hoá, tìm mọi cách để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào hay tiết kiệm nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động
và tăng thêm thu nhập,ổn định đời sống cán bộ công nhân viên và tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ
buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có
lợi.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủ công mỹ nghệ
4.1. Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
sản xuất hàng hóa xuất khẩu .
- Chính sách tỷ giá hối đoái
Trong thanh toán quốc tế, người ta thường sử dụng những đồng tiền của
các nước khác nhau, do vậy tỷ suất ngoại tệ so với đồng tiền trong nước có ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu: nếu tỷ gia hôi đoái lớn hơn tỷ suất lợi
nhuận thì hoạt đông xuất khẩu có lãi, vì vậy thúc đẩy xuất khẩu và ngược lại.
Chính vì thế mà tỷ giá hối đoái trở thành một công cụ điều tiết của Nhà nước.
- Hệ thống ngân hàng tài chính.
Hoạt động xuất nhập khẩu liên quan chặt chẽ đến vấn đề thanh toán quốc
tế, thông qua hệ thống Ngân hàng Tài chính giữa các quốc gia. Nó tạo ra những
điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán được thực hiện một cách đơn giản, nhanh
chóng, chắc chắn. Nhờ có hệ thống ngân hàng này dẽ đảm bảo rằng người bán
sẽ thu được tiền và người mua sẽ nhận được hàng , làm giảm bớt việc phài dành
nhiều thời gian và chi phí để các bên đối tác tìm hiểu nhau.
Nếu như một quốc gia có hệ thống tài chính phát triển, hiện đại thì đó
cũng là một điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước trong hoạt
động xuất khẩu và ngược lại.
- Khả năng sản xuất
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam chịu sự tác động của nhiều
nhân tố, những nhân tố này có sự biên đổi trong từng thời kỳ và tác động theo
chiều hướng khác nhau. Chúng có thể là những nhân tố thúc đẩy nhng ngược lại
cũng có thể là những nhân tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất. ở mỗi vùng,
mỗi địa phơng, mỗi làng nghề do có những đặc đIểm khác nhau về các đIều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội , văn hóa nên sự tác động của các nhân tố này là không
giống nhau. Có thể hiểu một cách kháI quát chúng bao gồm các nhân tố sau:
Thứ nhất, nguồn nhân lực: là một trong những nguồn lực quan trọng nhất
của sản xuất. tại các làng nghề, nguồn nhân lực chính là các nghệ nhân, những
người thợ thủ công , và những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh. Những nghệ nhân
cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nhận thức được điều đó, nhiều làng
nghề thủ công mỹ nghệ đã đẩy mạnh việc áp dụng kỹ thuật và đổi mới công
nghệ, cải tiện phương pháp sản xuất để nâng cao năng suất lao động và chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành tạo ra sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho
ngành. Tuy nhiên, việc áp dụng khoa học kỹ thuật không phải là hoàn toàn mà
vẫn phải giữ nét văn hoá và truyền thống cốt yếu trong mỗi sản phẩm thủ công
mỹ nghệ .
Thứ năm, kết cấu hạ tầng : bao gồm hệ thống các đường giao thông, điện,
cấp thoát nước, bưu chính viễn thông. Thực tế cho thấy rõ, sản xuất thủ công
mỹ nghệ chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có kết cấu hạ tầng đảm bảo và
đồng bộ. Đây là yếu tố có tác dụng tạo điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát
triển của các cơ sở sản xuất, tạo tiền đề khai thác và phtá huy tiềm năng sẵn có
của các làng nghề. Sự phát triển của yếu tố này sẽ đảm bảo vận chuyển và cung
ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, đưa nhanh tiến bộ khoa học và công
nghệ mới vào sản xuất, đồng thời làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Hệ thống
thông tin liên lạc bưu chính viễn thông giúp doanh nghiệp nắm bắt các thông tin
thị trường để có những ứng xử kịp thời.
4.2. Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
* Tiềm lực tài chính
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua
khối lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả
năng phân phối( đầu tư) có hiệu quả nguồn vốn. Khả năng quản lý có hiệu quả
các nguồn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua cá chỉ tiêu: vốn
chủ sở hữu, vốn huy động, tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận, khả năng trả nợ ngắn
hạn và dài hạn…
* Tiềm năng con người
Trong kinh doanh con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo
thành công. Chính con người với năng lực của họ mới lựa chọn đúng cơ hội và
ngược lại, nếu công tác này không tốt doanh nghiệp sẽ chịu tổn thất lớn do
không tiêu thụ được sản phẩm đã sản xuất ra.
* Hoạt động sản xuất
Hoạt động sản xuất là một quắ tình bao gồm: thu mua nguyên vật liệu,
phụ liệu để sản xuất, sản xuất và đóng gói. Trong hoạt động xuất khẩu thì một
đòi hỏi rất khắt khe đó là chất lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng. Chất
lượng sản phẩm phải đáp ứng theo đúng yêu cầu của đối tác xuất khẩu về chất
liệu, mẫu mã. Trong quá trình sản xuất ngoài việc đảm bảo chất lượng sản
phẩm còn phải đảm bảo tiến độ sản xuất để kịp giao hàng đúng thời hạn. Nếu
không đảm bảo những yêu cầu trong hợp đồng của đối tác thì doanh nghiệp
trước hết bị mất uy tín trong kinh doanh và sau đó phải bồi thường hợp đồng gây
thiệt hại về tài chính.
II. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1. Nhật Bản và nhu cầu nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
* Đặc điểm thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là một thị trường mở quy mô rộng lớn với dân số 127 triệu
người có mức sống khá cao( GDP theo đầu người năm 2001 là 32.585 USD) và
GDP năm 2003 là 4,143 tỷ USD. Nhật Bản là một trong những nước có nền
công nghiệp phát triển mạnh và đứng hàng đầu thế giới. Nhưng do đặc điểm về
địa lý, Nhật Bản là một trong những nước rất hiếm về tài nguyên thiên nhiên,
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngoại trừ nguồn hải sản, do đó hầu hết các sản phẩm gia dụng,trang trí nội ngoại
thất đặc biệt là các hàng thủ công mỹ nghệ mà chủ yếu là nguyên liệu tự nhiên,
đều phải nhập khẩu.
* Tập quán tiêu dùng
Việc nắm rừ đặc điểm tiêu dùng và tính cách kinh doanh của người Nhật
sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam giao tiếp và kinh doanh thành công với họ.
Thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản rất đa dạng nhưng cũng khá độc
đáo. Theo Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, người tiêu dùng Nhật rất chú ý
hội công nghiệp với mức độ rất cao như hiện nay, người Nhật Bản ngày càng có
nhu cầu sử dụng những đồ vật bằng các chất liệu tự nhiên thay thế các vật liệu
bằng sắt, nhôm…Nhập khẩu các đồ thủ công mỹ nghệ có xu hướng tăng ở Nhật
Bản cũng do quá trình chuyển sản xuất các đồ thủ công mỹ nghệ giá rẻ sang khu
vực Đông Nam Á là nơi có nhân công rẻ, nguồn nguyên liệu dồi dào, chi phí
nhập khẩu thấp và đặc biệt là nỗ lực của các nhà nhập khẩu Nhật Bản giảm chi
phí trong khâu phân phối đã cho phép giảm giá bán cho đồ thủ công mỹ nghệ
nhập khẩu.
* Tập quán kinh doanh.
Thâm nhập thị trường Nhật Bản cần có chiến lược lâu dài, tầm nhìn sâu
rộng. Điều này đạt được bằng cách nghiên cứu kỹ các yếu tố như
- Dung lượng thị trường
- Đối thủ cạnh tranh
- Kênh phân phối.
- Mức giá.
- Giới hạn thời gian.
- Những diễn biến đối với người sử dụng và người tiêu dùng.
Coi trọng chất lượng và hoạt động kinh doanh: Người tiêu dùng và người
sử dụng Nhật Bản thường đòi hỏi cao về chất lượng và tiêu chuẩn.Những nhà
sản xuất nước ngoài thường phàn nàn là người Nhật thường đòi hổi quá cao
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Xu hướng nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Nhật Bản trong
thời gian gần đây
Trong một số năm gần đây, xu hướng nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
của Nhật Bản thể hiện như sau:
*Mặt hàng thảm.
Số lượng mặt hàng thảm nhập khẩu đạt đỉnh điểm vào năm 1995 trong đó
giảm sút cả về số lượng và giá trị. Tuy nhiên, năm 2000 lượng nhập khẩu bất
ngờ tăng mạnh trở lại. Năm 2001 lượng hàng nhẩp khẩu tăng tới 65.464 tấn
SL GT SL GT SL GT SL GT SL GT
Thảm
kết nơ
3.657 16.787 2.680 12.538 2.578 10.148 2.831 10.520 2.274 10.040
Thảm
dệt
20.616 15.527 18.077 14.174 20.603 13.496 26.968 15.689 26.843 16.9880
Thảm
lông
26.924 17.389 23.284 14.566 23.427 13.183 27.730 13.771 29.809 14.839
Thảm
nỉ
1.012 576 1.321 707 1.600 635 2.271 764 2.282 761
Thảm
khác
1.730 1.195 1.172 999 1.511 1.005 2.971 1.720 4.255 2.430
Đơn vị : SL: Tấn; GT: Triệu Yên. Nguồn : Kim ngạch xuất nhập khẩu Nhật Bản.
Bảng 2 : Đồ sứ nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản
Loại sản
phẩm
2000 2001 2002 2003 2004
SL GT SL GT SL GT SL GT SL GT
Đồ sứ
9.422 20.624 7.167 16.233 10.751 15.349 15.607 16.430 16.484 16.581
Đồ gốm
17.957 7.996 19.306 6.818 27.284 6.469 37.829 7.484 45.800 9.530
Tổng
27.379 28.620 26.472 23.050 38.035 21.817 53.436 23.914 62.284 26.111
Đơn vị : SL: Tấn; GT: Triệu Yên. Nguồn : Kim ngạch xuất nhập khẩu Nhật Bản.
* Mặt hàng rèm