ĐỀ TÀI
"Đánh giá khả năng cạnh tranh của
công ty giầy Thụỵ Khê trong điều kiện
hội nhập AFTA"
Giáo viên hướng dẫn :
Họ tên sinh viên :
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng hội nhập hoá, toàn cầu hoá về kinh tế các nước và nền
kinh tế và thế giới, hoạt động kinh tế trở nên hêt sức quan trọng, tạo tiền đề
thúc đẩy nền kinh tế các quốc gia cũng như thế giới phát triển cả về bề rộng
lẫn chiều sâu.
Cùng với sự hình thành các khu vực Thương mại tự do như EU,
NAFTA, các nước ASEAN cũng đang hình thành khu vực thương mại tự do
ASEAN (ASEAN FREETRADEAREA – AFTA). Mở ra cho các nước trong
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP AFTA.
A. CẠNH TRANH.
I. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Thị trường - kinh tế thị trường - cơ chế thị trường và các quy luật của
thị trường.
Khái niệm thị trường cho đến nay đã có rất nhiều trong quá trình phát
triển của nó. Mỗi khái niệm tiếp cận dưới một góc độ khác nhau nhưng mục
đích cuối cùng là để trả lời câu hỏi:
Thị trường là gì?
- Theo quan điểm của hội quản trị Hoa Kỳ: “Thị trường là tổng hợp các
lực lượng trong đó người mua và người bán thực hiện cách quyết định chuyển
giao hàng hoá và dịch vụ từ người bán sang người mua".
- Thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau để tiến hành các
cuộc mua bán nhằm thoả mãn nhu cầu của mỗi bên.
- Thị trường là tổng thể cung cầu đối với một loại hàng hoá trên thị
trường vận động theo những quy luật riêng và điều tiết thị trường thông qua
quan hệ cung cầu, đây là định nghĩa mang nhiều tính lý thuyết.
- Ta cũng có thể nói rằng thị trường là nơi hàng hoá thực hiện các chức
năng trao đổi của nó. Theo Mác thị trường là biểu hiện của sự phân công lao
động của xã hội là một trong những khâu của quả trình tái sản xuất mở rộng,
là lỉnh vực lưu thông hàng hoá là nơi gặp gở của cung và cầu.
Đứng trên góc độ của doanh nghiệp thì thị trường của doanh nghiệp là
tập hợp các khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó tức là nơi khách hàng
đang mua và có thể sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp vận dụng cho khái
niệm thị trường quốc tế của doanh nghiệp, ta có khái niệm “thị trường quốc tế
của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nước ngoài tiềm năng của
doanh nghiệp đó“.
Bên cạnh đó nói tới thị trường đi liền với nó là khái niệm kinh tế thị
người bán và người bán giữa người mua với người mua và luôn diễn ra mọi
nơi mọi lúc trong tất cả các hoạt động kinh tế trên thị trường.
Do đó trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp các chủ thể kinh
tế luôn phải năng động đáp ứng nhu cầu của thị trường, các doanh nghiệp này
3
luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau để tồn tại, phát triển và trong cuộc cạnh
tranh khốc liệt nhằm đạt tới lợi nhuận cao nhất.
2. Cạnh tranh - đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh là thuộc tính quan trọng tất yếu trong nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh là sự đấu tranh gay gắt quyết định giữa các nhà sản xuất, kinh
doanh vời nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm
chiếm được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo ra
điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Do đó, nói tới cạnh tranh là ta không
thể không nói đến các nhân tố cấu thành cạnh tranh. Cạnh tranh chỉ xẩy ra khi
có đủ ba yếu tố sau đây:
Một là, các chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh, tức là những người có
cung và có cầu về hàng hoá và dịch vụ.
Hai là, đối tượng để thực hiện sự cạnh tranh tức là hàng hoá dịch vụ.
Ba là, môi trường cho cạnh tranh đó chính là thị trường.
Tuỳ theo từng góc độ tiếp cận chúng ta có thể phân cạnh tranh theo các
nội dung khác nhau:
+ Theo chủ thể tham gia trên thị trường, cạnh tranh được chia làm ba
loại :
Một là, Cạnh tranh giữa người bán và người mua.
Hai là, cạnh tranh giữa người mua với người bán.
Ba là, cạnh tranh giữa người bán với người bán.
Cạnh tranh giữa người babs với ngươi mua là cuộc cạnh tranh diễn ra
dưới hình thức sẽ bán đắt, người bán luôn mong muốn bán sản phẩm, dịch vụ
của mình với giá cao. Trong khi người mua lại muốn mua với giá thấp. Sự
của chính phủ và chon lựa đungs đắn thị trường nguyên liệu và thị trường sản
phẩm.
2) Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và các nhà cung cấp. Sự
cạnh tranh ảnh hưởng đến doanh nghiệp về khía cạnh sinh lợi, tăng giá hoặc
giảm giá, giảm chất lượng hàng hoá khi tiến hành giao dịch với công ty.
3) Cạnh tranh giữa doanh nghiệp và những người mua. Khách hàng có
thể mặc cả thông qua sức ép làm giảm giá, giảm khối lượng hàng hoá mua từ
công ty hoặc đưa ra yêu cầu chất lượng phải tốt hơn với cùng một mức giá.
4) Cạnh tranh giữa các sản phẩm của doanh nghiệp với sản phẩm thay
thế khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ tăng lên thì khách hàng có xu hướng sử
dụng sản phẩm dịch vụ thay thế sự cạnh tranh này đe doạ sự mất mát về thị
trường của công ty. Các công ty đưa ra thị trường những sản phẩm có khả
năng khác biệt hoá cao độ so với sản phẩm của công ty hoặc tạo ra các điều
kiện ưu đãi hơn về các dịch vụ hay các điều kiện tài chính.
5
5) Cạnh tranh trong mọi bộ ngành. Trong điều kiện này các công ty
cạnh tranh với nhau khốc liệt về giá cả, sự khác biệt hoá về sản phẩm hoặc sự
đổi mới về sản phẩm giữa các công ty hiện đang cùng tồn tại trong thị trường.
Sự cạnh tranh này ngày càng gay gắt là do các đối thủ cạnh tranh nhiều và
gần như cân bằng; do sự tăng trưởng của ngành công nghiệp hiện đại ở mức
độ thấp ; do các loại chi phí ngày càng tăng ; do chưa quan tâm tới quá trình
khác biệt hóa sản phẩm hoặc các chi tiết về chi phí do sự thay đổi của các nhà
cung cấp ; do các đối thủ cạnh tranh có chiến lược kinh doanh đa dạng, có
xuất xứ khác nhau ; do các hàng rào kinh tế làm cho công ty khó có thể tự do
di chuyển giữa các ngành.
3. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh.
Chính sự cạnh tranh đã tạo ra động lực cho nền kinh tế phát triển tạo
nên sức thu hút, hấp dẫn cho nền kinh tế, không có cạnh tranh thì sẽ không có
II. MÔ HÌNH PHÂN TÍCH KHĂ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
(MÔ HÌNH SWOT).
Mô hình SWOT là viết tắt của chữ Streng ths (các điểm mạnh)
Oppotunities (các cơ hội) Weaknesses (Các điểm yếu), Threates (Các thách
thức). Trên cơ sở phân tích 4 nhân tố trên để tìm ra các điểm mạnh điểm yếu
của doanh nghiệp cũng như cơ hội, thách thức đối với doanh nghiệp trên thị
trường. Để từ đó các nhà lãnh đạo doanh nghiệp trên thị trường ở thời điểm
hiện nay và giúp cho doanh nghiệp để ra được những chiến lược đúng đắn
trong giai đoạn trước mắt và tương lai sau này.
SƠ ĐỒ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH.
P
hân tích
Phân tích bên
Cơ hội (O)
thách
Điểm mạnh ( S)
Điểm yếu (W)
Lựa chọ chiến lược cho
Doanh nghiệp
cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Có biết được nhược điểm và
những điểm mạnh của mình thì doanh nghiệp mới biết được cách để khắc
phục, giải quyết vấn đề đang và sẽ đặt ra đối với Doanh nghiệp.
3. Mô hình đa giác cạnh tranh
Đứng trước một thị trường và các đối thủ cạnh tranh, Các doanh nghiệp
cần thiết lập được một bản đánh giá tương đối về các điểm mạnh và các điểm
yếu của mình. Điều này đặt ra hai vấn đề chính: Một mặt doanh nghiệp có
những năng lực nào vượt trội và mặt khác, tình trạng hiện tại hoặc tiềm năng
8
của các doanh nghiệp như thế nào. Phân tích khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp tức là nghiên cứu những nguồn lực mà doanh nghiệp có từ môi
trường khu vực và trong nước.
Phương pháp có thể được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh là
dùng đồ thị dưới dạng đa giác cạnh tranh đa giác này mô tả khả năng của
doanh nghiệp theo các yếu tố trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh
tranh hoặc một tập hợp các đối thủ cạnh tranh để xây dựng một phân tích về
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi chồng sơ đồ này lên nhau ta có
thể thu được nhanh chóng những ưu thế tương đối của doanh nghiệp.
- Ngoại giao là khả năng điều hành theo hướng tích cực những mối
liên hệ với các nhân tố của môi trường điều này tạo điều kiện cho doanh
9
nghiệp hoạt động kinh doanh của mình. Đây là những tiền đề cho doanh
nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình và mở rộng thị trường.
- Trước bán hàng là khả năng dự báo nhu cầu của thị trường và áp
dụng các hoạt động thành thạo để thuyết phục khách hàng và khả năng đáp
ứng nhu cầu của khách hàng tôt nhất thì doanh nghiệp không những đứng
vững trên thị trường mà còn có thể mở rộng thị trường của mình.
- Tài chính theo nghĩa là các nguồn tài chính hiện có và có thể huy
động một cách nhanh chóng . doanh nghiệp có thể mở rộng và sản xuất kinh
doanh tăng cường hoạt động nghiên cứu triển khai, mở rộng thị trường đều
phải dựa trên nguồn tài chính hiện có và khả năng huy động nhanh chóng.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP.
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào cũng đều
phải chịu sự tác động của môi trường xung quanh và chiụ sự tác động từ
chính bản thân doanh nghiệp. Do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
không chỉ phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào các
yếu tố khách quan khác của môi trương xung quanh doanh nghiệp. Nhìn
chung có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, song tóm gọn lại đều có ba nhóm nhân tố cơ bản sau.
- Môi trường vĩ mô.
- Môi trường ngành: Mô hình 5 sức mạnh của Michael porter.
- doanh nghiệp,.
1. Môi trường vĩ mô.
Môi trường vĩ mô chính là môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt
động. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều nhân tố phức
tạp ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Môi trường đó
Chính trị và pháp luật có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của bất cứ
doanh nghiệp nào, nhất là đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế.
Chính trị và pháp luật là nền tảng cho sự phát triển kinh tế cũng như là cơ sở
pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất cứ thị
trường nào dù là trong nước hay nước ngoài.
Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có một nền kinh tế ổn
định, phát triển thực sự lâu dài và lành mạnh. Luật pháp tác động điều chỉnh
trực tiếp đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế. Mỗi thị
trường đều có hệ thống pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Luật
pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh
doanh của từng doanh nghiệp. Đặc biệt đối với từng doanh nghiệp tham gia
vào hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của quan hệ giữa các chính phủ, các
11
hiệp định kinh tế quốc tế Các doanh nghiệp này cũng đặc biệt quan tâm tới
sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia. Sự khác biệt này có thể sẽ làm
tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp những đièu này sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến các hoạt động, chính sách kế hoạch chiến lược phát triển,
loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấp cho thị trường.
Vì vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định một
môi trường pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp,
cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Khuyến khích phát triển, tham gioa khả
năng cạnh tranh.
c. Nhân tố xã hội :
Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời gian
nên đôi khi khó nhận biết nhưng lại qui định các đặc tính của thị trường mà
bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị trường đó
cho dù có muốn sống hay không. Nhân tố xã hội có thể bao gồm.
-Lối sống, phong tục, tập quán.
-Thái độ tiêu dùng.
doanh nghiệp thông qua chất lượng sản phẩm và giá bán bất kỳ một sản phẩm
nào được sản xuất ra cũng đều phải gắn với một công nghệ nhất định. Công
nghệ sản xuất đó sẽ quyết định chất lượng sản phẩm cũng như tác động tới chi
phí cá biệt của từng doanh nghiệp từ đó tạo ra khả năng cạnh tranh của từng
doanh nghiệp.
Khoa học công nghệ tiên tiến sẽ giúp các doanh nghiệp xử lý thông tin
một cách chính xác và có hiệu quả nhất trong thời đại hiện nay, bất kỳ một
doanh nghiệp nào muốn thành công cũng cần có một hệ thống thu thập, xử lý,
lưu trữ, truyền phát thông tin một cách chính xác, đầy đú nhanh chóng hiệu
quả về thị trường và đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, khó học công nghệ tiên
tiến sẽ tạo ra một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của nền kinh tế
quốc dân nói chung cũng như thị trường doanh nghiệp nói riêng. Vì vậy, có
thể nói rằng khoa học công nghệ là tiền đề cho các doanh nghiệp nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình.
2. Môi trường ngành.
Môi trường ngành là môi trường bao gồm các doanh nghiệp trong cùng
tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Môi trường ngành còn được hiểu là
môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp sự tác động của môi trường ngành
ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là điều không thể
phủ nhận.
Môi trường ngành bao gồm năm nhân tố cơ bản là : đối thủ cạnh tranh,
người mua, người cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và các đối thủ thay thế. Đó là
13
nhân tố thuộc mô hình 5 sức mạnh của Michael porte. Sự am hiểu các nguồn
sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhân ra mặt mạnh mặt yếu cũng như
các cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp ngành đó đã và đang và sẽ gặp
phải.
Đối thủ mới tiềm năng
Có thể thấy trước hết là đối thủ cạnh tranh quyết định mức độ cuộc
tranh đua để giành lợi thế trong ngành và trên thị trường nói chung.
Mức độ cạnh tranh dữ dội phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố
như số lương các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp
đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ và tăng thi phần nâng cao
khả năng cạnh tranh.
b. Khách hàng .
Câu nói “khách hàng là thương đế” luôn luôn đúng đối với mọi doanh
nghiệp bất cứ một doanh nghiệp nào cũng không được quyên rằng khách hàng
luôn luôn đúng nếu họ muốn thành công, chiếm lĩnh thị trường. Những khách
hàng mua sản phẩm của một ngành hay một doanh nghiệp nào đó thì họ có
thể làm giảm lợi nhuận của ngành đấy, của doanh nghiệp đấy bằng cách yêu
14
cầu chất lượng sản phẩm hặc dịch vụ cao hơn, hoặc có thể bằng cách dùng
doanh nghiệp này chống lại doanh nghiệp kia.
Vì vậy, trong thực tế khách hàng thường có quyền lực trong các trường
hợp sau.
Khi có nhu cầu khách hàng là ít hơn so với lương cung trên thị trường
về sản phẩm nào đó thì họ có quyền quyết định về gía cả.
Các sản phẩm mà khách hàng mua phá tỷ lệ đáng kể trong chi tiêu của
người mua. Nếu sản phẩm đó chiếm một tỷ trọng hơn trong chi tiêu của người
mua thì gía cả là một vấn đề quan trọng đối với khách hàng đó. Do đó họ sẽ
mua với giá có lợi và sẽ chọn mua những sản phẩm có giá trị thích hợp.
Những sản phẩm mà khách hàng mua trong khi không được cung cấp
đầy đủ về thông tín và chủng loại, chất lượng, đặc tính, hình thức, kiếu dáng
của sản phẩm thì họ có xu hướng đánh dòng các sản phẩm cùng loại trên thị
trường với nhau họ sẽ có xu hướng thiên về hướng bất lợi cho doanh nghiệp
vì họ không thể đánh giá cũng như hiểu chính xác được rõ giá trị của sản
phẩm doanh nghiệp sản xuất.
ngành do mức giá cao nhất bị khống chế. Nếu không chú ý tới sản phẩm thay
thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với nhu cầu thị trường.
Phần lớn các sản phẩm thay thế mới là kết quả của sự tiến bộ về công
nghệ. Muốn đạt được thành công các doanh nghiệp cần phải chú ý và giành
nguồn lực để phát triển hay vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của
mình.
3. Doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp sức mạnh từ các
nguồn lực hiện có và có thể huy động được với doanh nghiệp. Khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu qua nguồn nhân lực, nguồn lực
vật chất, nguồn lực tài chính tổ chức, kinh nghiệm.
a. Nguồn nhân lực.
Ngày nay thông thường khi đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, người ta thường đánh giá trước tiên nguồn nhân lực của doanh
nghiệp:
Yếu tố nhân lực được coi là tài sản vô cùng quý báu cho sự phát triển thành
công của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp.
Với một đội ngũ nhân lực tốt, doanh nghiệp có thể được làm đựợc tốt
tất cả những gì như mong muốn, đội ngũ nhân lực này sẽ làm tăng các nguồn
lực khác cho doanh nghiệp khác lên một cách nhanh chóng, trí tuệ chất xám là
những thứ vô cùng quý giá. Nó tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, ưu viêt
hơn với giá thành thấp nhất, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng, đưa doanh
16
nghiệp vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh. Một đội ngũ công nghiệp lãnh
đạo, quản lý giàu kinh nghiệm, trình độ cao, năng động, linh hoạt và hiểu
biết sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ là lợi ích trước nmắt như tăng
doanh thu, tăng lợi nhuận mà cả uy tín của doanh nghiệp. Họ sẽ đưa ra nhiều
ý tưởng chiến lược sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành của
doanh nghiệp cũng như phù hợp với sự thay đổi của thị trường.
Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm trang thiết bị , nguyên liệu hay
phân phối, quảng cáo cho sản phẩm đều phải được tính toán dựa trên thực
trạng tài chính của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính
mạnh mẽ sẽ có khả năng trang bị công nghệ máy móc hiện đại, Bởi vì bất có
một hoạt động đầu tư mua saqứm trang thiết bị nào cũng phải được tính toán
dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp. doanh nghiệp nào có tiềm lực
tài chính hùng mạnh sẽ có khả năng trang bị dây chuyền công nghệ sản xuất
hiện đại, đảm bảo chất lượng, hạ giáthành sản phẩm, giá bán sản phẩm tổ
chức các hoạt động quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ nâng cao sức cạnh tranh.
Ngoài ra, với một khả năng tài chính hùng mạnh, doanh nghiệp cũng có khả
năng chấp nhận lỗ một thời gian ngắn để hạ giá thành sản phẩm nhằm giữ
vững và mở rộng thị phần cho doanh nghiệp để tăng giá, thu lợi nhuận nhiều
hơn.
Vì vậy vấn đề tài chính luôn luôn là vấn đề gây nhiều trăn trở cho nhà
quản lý. Không chỉ vậy trong nền kinh tế thị trường, trở thành biểu tượng cho
sự giàu có phát đạt, sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp nguồn tài chính
vững chắc sẽ là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp dành được sự tin
cậy, đầu tư từ phía khách hàng lẫn nhà đầu tư nước ngoài.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp gồm vốn chủ sở hữu hay vốn tự
có và các nguồn vốn khác có thể huy động được. Tài chính không chỉ gồm
các tài sản lưu động và tài sản cố định của doanh nghiệp, mà gồm cả các
khoản vay, khoản nhập sẽ có trong tương lai và cả giá trị uy tín của doanh
nghiệp đó trên thị trường. Vốn tự có có thể do các thành viên sáng lập đóng
góp hoặc do một phần lợi nhuận được để lại từ đầu tư, hoặc vốn góp thêm
của các cổ đông sau này. Vốn vay có thể được huy động từ ngân hàng các tổ
chức tài chính các đơn vị quen biết. Thiếu nguồn tài chính cần thiết , doanh
nghiệp có thể bị phá sản, sụp đỗ bất cứ lúc nào. Tài chính được coi là phương
tiện chủ yếu vũ khí sắc bén để tấn công, đánh thắng các đối thủ cạnh tranh .
Doanh nghiệp nào không đủ khả năng tài chính sẽ bị thôn tính bới các
đối thủ hùng mạnh hơn hoặc tự rút lui khỏi thị trường.
I. Môi trường vĩ mô.
1. Nhân tố kinh tế.
2. Nhân tố chính trị và pháp luật.
3.Nhân tố xã hội .
4. Nhân tố tự nhiên.
5. Nhân tố công nghệ. II. Môi trường ngnh
1. Nhà cung cấp.
cùng phát triển từng bước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư bản ,
lực lương lao động hàng hoá dịch vụ tiến tới tự do toàn cầu nhữnh di
chuyển mối liên hệ giữa các nước thành vien trong khu vực.
Ở những quốc gia có kinh tế thị trường phát triển, thì xu hướng tham
gia hội nhập voà nền kinh tế trong khu vực bảo hộ mậu dịch ngày càng tăng.
Việc tham gia mạnh mẽ và rông rãi các khối liên minh kinh tế khu vực, tiến
tới sự nhất thể hoá cao trog thông qua văn bản, hiệp định ký kết đã đưa lại cho
các quốc gia trong liên minh sự ổn định hợp tác cùng phát triển. Trong điều
kiện đó các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên được hưởng những ưu
đãi về thương mại cũng như các gánh vác các nghĩa vụ về tài chính giảm thuế
cũng như giảm miễn phí khác Tình hình này trong quá khứ, hiện tại và
tương lai đang đặt ra cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới nói chung
các quốc gia Đông Nam á nói riêng những cơ hội và thách thức mới.
Sự hình thành kiên kết giữa các quốc gia đang phát triển, ngoài mục
tiêu hợp tác , hỗ trợ nhau phát triển còn nhằm mục tiêu chống lại các chính
sách bảo hộ mậu dịch của các nước công nghiệp phát triển.
Việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực và sự hội nhập của từng
quốc gia vào nền kinh tế các nước trong khu vực vời nhiều mức độ khác nhau
tuỳ thuộc vào từng khu vực liên kết và hình thức liên kết.
Khu vực mậu dịch tự do hay khu buôn bán tự do là giai đoạn đầu của
quá trình hội nhập kinh tế khu vực. Đây là một liên minh quốc tế giữa hai hay
nhiều quốc gia nhằm mục đích tự do hoá buôn bán đối một hoặc một số nhóm
mặt hàng náo đó. đặc trưng của khu vực mậu dịch tự do là xoá bỏ các hàng
rào thuế quan và phi thuế quan nhằm tạo ra một thị trường thống nhất của
khu vực. Nhưng mỗi quốc gia là thành viên vẫn thi hành chính sách ngoại
thương độc lập đối với các quốc gia ngoài liên minh.
21
Sự hôi nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực đang đưa lại
những lợi ích khác nhau cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong các
CEPT là một cột chính để thành lập AFTA. CEPT ( Common Effective
Preferential Tarif). Được đưa ra nhằm thoả thuận các nước thành viên
22
ASEAN trong việc giảm thuế quan trong thương mại nội bộ ASEAN xuống
0- 5% đồng thời loại bỏ những hạn chế về định lượng các hàng rào phi thuế
quan trong vòng 10 năm bắt đầu từ 1/1/1993 và hoàn thành 1/1/2003 đồng
thời các nước thành viên cũng sẽ đi đến thống nhất giữa các danh mục biếu
thuế và các thủ tục hải quan để thực hiện CEPT.
Các nước ASEAN đã nêu ra 15 nhóm sản phẩm giảm thuế nhanh với
mức thuế ưu đãi phải đạt 0 – 5 % trong thời gian dài nhất là 7 năm ( 5 năm
đối với hàng hoá chọn thuế thấp ) 15 nhóm sản phẩm
Đồ nhựa Đá quý và đồ trang sức
Sản phẩm cao su Cực âm dòng
Sản phẩm da Hàng điện tử
Bột giấy Nội thất bằng gỗ và mây
Hàng dệt Hoa chất
Dàu thực vật Dược phẩm
Xi măng Phân bón
Sản phẩm gốm và thuỷ tinh
Đối với nhóm giảm thông thường tốc độ giảm hơn và những hàng hoá
chịu thuế cao hơn thì việc giảm thuế có thể thực hiện trong 15 năm.
Ban đầu, người ta dự tính có thể áp dụng CEPT cho tất cả các hàng hoá
chế tạo nhưng cho phép thực hiện ngoại lệ đối với các hàng hoá dễ bị tổn
thương và khó tính cạnh tranh trực tiếp. Tuy nhiên, ngoài những trường hợp
hạn chế buôn bán là cần thiết để đảm bảo an toàn an ninh quốc gia, sức khoẻ
và truyền thống văn hoá. Và việc loại bỏ ra khỏi CEPT các sản phẩm chỉ
mang tính tạm thời. Một nước thành viên laọi bỏ tạm thời một sản phẩm thì sẽ
không còn tư cách để hướng sự xâm nhập ưu đãi cho sản phẩm đó vào thị