Lời mở đầu
Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của cơ chế thị trờng, là động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế. Cạnh tranh tạo sức ép hoặc kích thích ứng dụng khoa học,
công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cải tiến công nghệ, thiết bị sản xuất và phơng
thức quản lý nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành và giá bán hàng hoá.
Bất kỳ một loại sản phẩm hàng hoá nào, muốn tồn tại, đứng vững, phát triển và có
thị phần cao trên thị trờng cần phải có khả năng cạnh tranh ít nhất là ngang bằng
hoặc cao hơn khả năng cạnh tranh của sản phẩm thay thế của đối thủ cạnh tranh.
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế với khu vực
và thế giới, chúng ta sẽ phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt
trên thị trờng trong nớc cũng nh thị trờng quốc tế. Các nớc trên thế giới cũng dã tìm
đợc chổ đứng cho mình trên thị trờng hàng hoá tiêu thụ thiết yếu. Trớc yêu cầu mở
rộng thị trờng và hội nhập kinh tế quốc tế, đã dẫn đến lúc chúng ta cần phải có ph-
ơng hớng và các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, hàng hoá tiêu dùng Việt Nam.
Giầy dép là thứ hàng hoá tiêu dùng thiết yếu, không thể thiếu trong sinh hoạt
hằng ngày. Làm sao để việc kinh doanh giầy dép đạt hiệu quả tốt nhất là việc rất
khó, để chiếm đợc thị trờng trong nớc cũng nh các nớc trong khu vực, các nớc trên
thế giới đòi hỏi sản phẩm phải có u thế rõ rệt, muốn vậy sản phẩm của doanh nghiệp
phải có chất lợng tốt phù hợp với giá cả... và phải cộng thêm uy tín của doanh
nghiệp trên thị trờng. Hiện nay có một số nhãn hiệu Giầy dép đợc a chuông trên thị
trờng thế giới nh : bitis, adidas... ở nớc ta cũng có các thơng hiệu lớn nh giầy Thợng
Đình, công ty giầy gia Hà Nội....
Với mong muốn hiểu rỏ hơn về bản chất của cạnh tranh và tìm hiểu về sức
cạnh tranh của mặt hàng giầy dép ở nớc ta hiện giờ, Em xin chọn đề tài: "Tiêu thức,
đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm giầy dép Việt Nam . Qua đó đa
ra một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm giầy dép Việt
Nam trên thị trờngỉtong nứoc và quốc tế. Nội dung của đề tài Em xin đề cập đến
một số vấn đề sau:
-Chơng 1: Tiêu thức đánh giá và các yếu tố ảnh hởng đến cạnh tranh
1
cho rằng phải xem xét khả năng cạnh tranh trên thơng trờng và phải theo quan điểm
phân tích cạnh tranh động. Nh vậy, sẽ có một loạt các yếu tố tác động tới khẩ năng
cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thơng trờng nh: giá cả, chất lợng sản phẩm,
mức độ chuyên môn hoá sản phẩm, năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm,
năng lực nghiên cứu thị trờng, mạng lới phân phối, dịch vụ sau bán, sự tin tởng của
khách hàng, sự tin cậy của nhà cung cấp .
Đối với sản phẩm của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh đợc đánh giá qua việc
doanh nghiệp đó sử dụng các lợi thế so sánh, công nghệ hiện đại và các điều kiện
3
thuận lợi khác để tạo ra sản phẩm có chất lợng cao, giá thành hạ, mẫu mã độc đáo
đảm bảo tồn tại, đứng vững, phát triển và có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm
thay thế cùng loại của các doanh nghiệp khác qua đó nâng cao đợc thị phần, lợi
nhuận và vị thế của sản phẩm doanh nghiệp trên thị trờng.
Nền kinh tế nớc ta cũng bớc vào hội nhập với các nớc trên thế giới với những
cơ hội mới và những thách thức gay gắt, buộc chúng ta phải cân nhắc, tính toán một
cách ghiêm túc và trí tuệ về mặt đờng lối, chính sách. Một trong những vấn đề kinh
tế bức xúc hiện nay của chúng ta là: năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam
còn rất yếu kém so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới. Chỉ xem xét đến
một số yếu tố cơ bản đã cho thấy khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam đang
ngày càng có nguy cơ suy giảm. Tình trạng này thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh
vực: hàng hoá mang nhãn hiệu Việt Nam hiện nay tuy đã có một số mặt hàng(cha
nhiều) đạt đợc chất lợng tốt, nhng nói chung chất lợng cha cao, trong khi đó giá
thành lại cao hơn một số nớc trong khu vực(Thái Lan, Trung Quốc ) do nhiều
nguyên nhân, trong đó đáng lu ý là do giá đầu vào của sản xuất nói chung cao, máy
móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu, hiểu biết về thị trờng, kinh nghiệm và kinh doanh quản
lý, công tác tiếp thị, Marketing còn hạn chế, hầu hết các doanh nghiệp cha có chiến
lợc phát triển lâu dài, ổn định mà chỉ mới có kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, thậm
chí kế hoạch kinh doanh cho từng thơng vụ
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình gia nhập AFTA, sự bảo hộ bằng
hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá sản xuất trong nớc không còn
1.2.2. Giá cả sản phẩm
Giá là một trong các công cụ quan trọng trong cạnh tranh thờng đợc sử dụng
trong giai đoạn đầu của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bớc vào một thị trờng mới.
Hiện nay, tuy mức sống của ngời dân Việt Nam chúng ta ngày một nâng cao song
độ nhạy của cầu khi giá cả thay đổi còn rất lớn. Do đó công cụ này đợc sử dụng cho
hầu hết các loại sản phẩm trên thị trờng. Cạnh tranh bằng giá thờng đợc thể hiện qua
các biện pháp sau:
* Bán với mức giá hạ và mức giá thấp.
* Kinh doanh với chi phí thấp.
5
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Nếu nh chênh lệch về giá
giữa doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng
sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại
lợi ích cho ngời tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ. Vì lẽ đó sản phẩm của doanh
nghiệp sẽ ngày càng chiếm đợc lòng tin của ngời tiêu dùng và cũng có nghĩa là sản
phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh càng cao.
Để đạt đợc mức giá thấp doanh nghiệp cần xem xét khả năng hạ giá sản phẩm
của đơn vị mình. Có càng nhiều khả năng hạ giá sẽ có nhiều lợi thế so với đối thủ
cạnh tranh. Khả năng hạ giá phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chi phí về kinh tế thấp.
- Khả năng bán hàng tốt, do đó khối lợng bán lớn.
- Khả năng về tài chính tốt.
Giá cả ảnh hởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp do đó khi sử dụng vũ
khí này phải chọn thơì điểm hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao bằng không doanh
nghiệp sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn về tài chính. Nh thế doanh nghiệp cần phải
kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá cả và các bộ phận về chiết khấu với những phơng
pháp bán mà doanh nghiệp đang sử dụng, với những phơng pháp thanh toán, với xu
thế, trào lu của ngời tiêu dùng
Một sản phẩm có mức giá thành thấp, nghĩa là nó có khả năng chủ động trong
cạnh tranh về giá, sản phẩm đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao, có vị thế trên thị tr-
thị trờng trong điều kiện cạnh tranh rất gay gắt hiện nay.
1.2.4.Các dịch vụ trớc, trong và sau khi bán
Khi đánh gía khả năng cạnh tranh của một sản phẩm, không thể không
nhắc đến một nhân tố, đó là các dịch vụ bán và dịch vụ sau khi bán. Trong thời đại
ngày nay, các dịch vụ bán và dịch vụ sau khi bán ảnh hởng trực tiếp đến khả năng
cạnh tranh của sản phẩm. Một doanh nghiệp có các dịch vụ bán và sau khi bán hợp
lý, sản phẩm của doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh cao hơn trong điều kiện
các yếu tố khác không thay đổi. Trong quá trình bán hàng, khâu quan trọng nhất là
chào mời khách hàng. Điều này đòi hỏi ngời bán hàng phải thật sự tôn trọng khách
hàng, lịch sự, ân cần, và chu đáo. Việc tiếp theo là doanh nghiệp cần phải tạo ra
những điều kiện thuận lợi nhất trong thanh toán, có chính sách tài chính và tiền tệ
7
hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc mua bán với khách hàng. Sau khi bán
hàng, phải có những dịch vụ nh bao bì và giao hàng đến tận tay ngời mua, các dịch
vụ bảo hành, sửa chữa hàng hoá Những dịch vụ này nhằm tạo sự tin t ởng, uy tín
của doanh nghiệp đối với ngời tiêu dùng. Tuy nhiên để các dịch vụ trên phát huy đ-
ợc hiệu quả, doanh nghiệp cần cung cấp một cách nhanh nhất, chính xác nhất, kịp
thời nhất .Hiện nay, các doanh nghiệp còn sử dụng rất rộng rãi các biện pháp nh :tổ
chức các chơng trình khuyến mại, chiết khấu hàng hoá khi mua với số lợng lớn, tăng
gía..nhằm thu hút khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
1.3. Các nhân tố ảnh h ởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hởng của rất nhiều nhân tố khác nhau,
bao gồm các nhân tố thuộc về nội bộ doanh nghiệp và các nhân tố thuộc về môi tr-
ờng. Dới đây xin nêu một vài nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của sản
phẩm
1.3.1.Các nhân tố thộc về nội bộ doanh nghiệp
1.3.1.1.Công nghệ
Có thể hiểu công nghệ là tổng hợp của rất nhiều các phơng tiện kỹ thuật, kỹ năng,
phơng pháp đợc dùng để chuyển hoá các nguồn lực thành một loại sản phẩm hoặc
một loại dịch vụ nào đó.
chú trọng đến những sáng kiến cải tiến của ngời lao động ở các khâu khác nhau
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp cần
có các hình thức khuyến khích lao động cả về vật chất lẫn tinh thần, góp phần nâng
cao năng suất lao động, khả năng sáng tạo của ngời lao động nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp.
1.3.1.3.Uy tín, thơng hiệu của sản phẩm
Uy tín doanh nghiệp, thơng hiệu của những sản phẩm là những tài sản vô hình rất
quan trọng của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp tạo nên sự tin cậy của các nhà cung ứng, và sự tin tởng
của khách hàng. Điều đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc giành giật
khách hàng về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh
toán nh: quy ớc về giá cả, số lợng, kích cỡ, mẫu mã bằng văn bản hoặc bằng miệng
9
hay thanh toán với các hình thức nh bán trả góp, bán chịu, bán gối đầu Do vậy uy
tín của doanh nghiệp trở thành sắc bén trong cạnh tranh, tạo cơ hội mở rộng thị
phần, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Cùng với uy tín của doanh nghiệp, thơng hiệu sản phẩm cũng ảnh hởng rất
nhiều đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó. Một thơng hiệu mạnh có thể giúp
cho các doanh nghiệp đạt đợc vị thế dẫn đầu trong ngành. Thơng hiệu càng nổi tiếng
thì khả năng tăng thị phần của sản phẩm trên thị trờng càng cao. Nhờ đó doanh
nghiệp có thể điều tiết thị trờng, định gía cao hơn, chi phối làm cho các đối thủ phải
nản lòng khi muốn chia thị phần với họ. Do đó, để nâng cao khả năng cạnh tranh
của sản phẩm doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một thơng hiệu mạnh. Đây là
một công việc rất khó khăn đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của các doanh nghiệp.
1.3.1.4.Nguồn lực về tài chính
Khả năng về tài chính có ảnh hởng rất lớn tới khả năng cạnh tranh của sản
phẩm của doanh nghiệp. Khả năng tài chính đợc hiểu là quy mô tài chính của doanh
nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm nh tỷ lệ thu hồi
vốn,khả năng thanh toán Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả