Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển nh vũ bão của khoa học và công nghệ ngày nay, nền
kinh tế thế giới đang chuyển mình từng bớc đi lên mạnh mẽ. Sự biến chuyển của nền
kinh tế gắn liền với sự thay đổi mạnh mẽ của từng quốc gia trong từng khu vực trên
thế giới. Song cùng với sự thay đổi đó, bớc vào những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ
XX xu hớng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã phát triển mạnh. Nền kinh tế
Việt Nam có sự biến chuyển mạnh mẽ, bớc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng đã làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế
quốc dân. Nền kinh tế mở đặt ra nhiều yêu cầu mới. Trớc sự đòi hỏi của nền kinh tế,
hoạt động kiểm toán đã đợc công nhận ở Việt Nam với sự ra đời của các tổ chức độc
lập về kế toán kiểm toán nhằm giúp cá nhân, tổ chức nắm rõ kiến thức, tăng cờng
hiểu biết về tài chính, kế toán trong bối cảnh mới. Sự ra đời của các công ty kiểm
toán độc lập quốc tế và nội địa ở Việt Nam đánh dấu một bớc ngoặt quan trọng trong
việc cung cấp dịch vụ kiểm toán và t vấn cho những ngời quan tâm đến các số liệu tài
chính ở Việt Nam. Kiểm toán đã trở thành một hoạt động chuyên sâu, một khoa học
chuyên ngành. Theo ier - Khan - Sere: Kiểm toán có ý nghĩa lớn trên nhiều mặt: đó
là Quan toà công minh của quá khứ, là Ngời dẫn dắt cho hiện tại và Ngời cố
vấn sáng suốt cho tơng lai.
AASC là một trong những tổ chức đầu tiên và lớn nhất của Việt Nam hoạt
động độc lập trong lĩnh vực dịch vụ về kế toán kiểm toán và t vấn tài chính. Sự am
hiểu sâu sắc và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thuế
là cơ sở để công ty phục vụ với chất lợng tốt nhất bất kỳ dịch vụ chuyên ngành nào
mà khách hàng yêu cầu.
Với đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp đợc đào tạo có quy mô, AASC đã
cung cấp dịch vụ cho lực lợng khách hàng đông đảo hoạt động trong nhiều lĩnh vực
của nền kinh tế quốc dân và thuộc nhiều thành phần kinh tế.
Trong hơn một thập kỉ vừa qua, AASC đã nhanh chóng khẳng định vị trí của
mình trên thị trờng trong hoạt động kiểm toán đầy mới mẻ. AASC đã không ngừng
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
1
1. Khái niệm về kiểm toán tài chính.
1.1. Khái niệm kiểm toán.
Cũng nh kế toán, kiểm toán đợc xem xét nh một hoạt động kiểm tra kiểm soát
trong quản lí và chỉ xuất hiện khi chủ thể quản lí đòi hỏi vợt quá khả năng của kế
toán và đợc phát triển thành ngành khoa học thực thụ.
Thuật ngữ Kiểm toán mới thực sự xuất hiện và công nhận ở Việt Nam từ
năm 1991. Trong qúa trình sử dụng chúng ta vẫn cha thống nhất về khái niệm kiểm
toán. Nhìn chung kiểm toán đợc nhìn nhận dới ba quan điểm.
- Quan điểm truyền thống về kiểm toán: kiểm toán đồng nghĩa với kiểm tra
kế toán, là một chức năng của kế toán; nghĩa là rà soát thông tin từ chứng từ
kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán.
- Quan điểm kiểm toán theo thời điểm phát sinh: kiểm toán là sự kiểm tra
độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính do kiểm toán viên
độc lập thực hiện theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định nào có liên quan.
- Quan điểm hiện đại về kiểm toán: trong quá trình phát triển, kiểm toán
không chỉ giới hạn ở kiểm toán báo cáo tài chính mà còn thâm nhập vào nhiều
lĩnh vực khác nhau, vì vậy theo quan điểm này, phạm vi kiểm toán bao gồm
các lĩnh vực chủ yếu sau: Kiểm toán qui tắc, kiểm toán hiệu quả, kiểm toán
thông tin, kiểm toán hiệu năng.
Qua ba quan điểm cụ thể trên về kiểm toán, nội dung của các quan niệm
không hoàn toàn đối lập nhau mà phản ánh quá trình phát triển của thực tiễn và lí
luận của kiểm toán. Và cả ba quan điểm đó đều hớng tới bản chất chung của kiểm
toán: kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đợc kiểm toán bằng hệ thống phơng pháp kĩ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài
chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tơng xứng thực hiện trên cơ sở
hệ thống pháp lí đang có hiệu lực.
1.2. Kiểm toán tài chính trong hệ thống kiểm toán.
Đối tợng: kiểm toán tài chính có đối tợng là các bảng khai tài chính. Bộ
phận quan trọng của những bảng khai này là báo cáo tài chính. Bảng khai tài chính
bao gồm hệ thống báo cáo đợc lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản
ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu của đơn vị, ngoài ra còn bao gồm những
bảng kê khai có tính pháp lí- là những bảng tổng hợp.
Chủ thể kiểm toán: thông thờng chủ thể kiểm toán tài chính là các kiểm
toán viên độc lập hoặc kiểm toán viên nhà nớc.
Khách thể kiểm toán: là thực thể kinh tế độc lập, là doanh nghiệp, cơ
quan hoặc tổ chức có bảng khai cần xác minh, cá nhân có tài khoản, bảng khai cần
xác minh.
Mục đích: thu thập báo cáo cho những kết luận kiểm toán phục vụ công
khai hoá tài chính.
Chức năng: xác minh tính trung thực hợp lí, hợp pháp của bảng khai tài
chính và bày tỏ ý kiến của mình.
Cơ sở pháp lí: những chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực kế toán
(GAAP).
Phơng pháp: kiểm toán tài chính sử dụng tổng hợp các phơng pháp kiểm
toán cơ bản bao gồm cả kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ.
Tổ chức công tác kiểm toán: gồm ba giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện và
kết thúc kiểm toán.
Trình tự tiến hành: trình tự kiểm toán tài chính ngợc với trình tự kế toán.
Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán: mang tính ngoại
kiểm là chủ yếu.
2.2. Mục tiêu của kiểm toán tài chính.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200: mục tiêu của kiểm toán tài
chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến xác nhận rằng
báo cáo tài chính có đợc lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kế hoạch chiến lợc: là kế hoạch do các kiểm toán viên cao cấp lập, là định h-
ớng cơ bản cho một cuộc kiểm toán dựa trên hiẻu biết của kiểm toán viên và công ty
kiểm toán về tình hình hoạt động của khách hàng và trọng tâm của cuộc kiểm toán.
Lập kế hoạch tổng thể.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300: kế hoạch kiểm toán tổng thể
phải đợc lập cho mọi cuộc kiểm toán, trong đó mô tả phạm vi dự kiến và cách thức
tiến hành công viẹc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán tổng thể phải đầy đủ chi tiết làm
cơ sở để lập chơng trình kiểm toán. [21,50]
Việc lập kế hoạch tổng thể bao gồm các bớc cơ bản sau:
- Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán.
- Thu thập thông tin cơ sở.
- Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng.
- Thực hiện thủ tục phân tích.
- Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro.
- Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát.
Thiết kế chơng trình kiểm toán.
Chơng trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán
cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các kiểm toán
viên cũng nh dự kiến về t liệu, về thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập.
Trình tự: chơng trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán đợc thiết kế
thành ba phần: thiết kế các trắc nghiệm công việc, thiết kế các trắc nghiệm phân tích,
thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số d.
3.2. Giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán.
Khái quát giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán.
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phơng pháp kỹ thuật
kiểm toán thích hợp tơng ứng với đối tợng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng
kiểm toán. Đây là giai đoạn kiểm toán viên triển khai thực hiện các công việc đã
hoạch định trong kế hoạch kiểm toán và chơng trình kiểm toán.
toán viên phải tiến hành nhiều công việc cụ thể tronh giai đoạn kết thúc kiểm toán.
Kết luận kiểm toán là sự khái quát kết quả thực hiện các chức năng kiểm toán
trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. Vì vậy kết luận kiểm toán phải đảm bảo yêu cầu cả
về nội dung cũng nh tính pháp lý.
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ii. Nội dung của giai đoạn kết thúc kiểm toán trong kiểm
toán báo cáo tài chính.
1. ý nghĩa của giai đoạn kết thúc kiểm toán.
1.1. vị trí, chức năng của giai đoạn kết thúc kiểm toán.
- Vị trí: Giai đọan kết thúc kiểm toán là giai đoạn cuối cùng của một cuộc
kiểm toán. Trong khâu cuối cùng của giai đoạn kiểm toán báo cáo tài chính là công
việc lập báo cáo kiểm toán, đa ra kết luận kiểm toán. Đây là kết quả tổng kết công
việc thực hiện của kiểm toán viên trong suốt quá trình kiểm toán báo cáo tài chính.
- Sản phẩm cuối cùng của quá trình này là báo cáo kiểm toán hoặc biên bản
kiểm toán. Nội dung và hình thức cụ thể của kết luận hay báo cáo kiểm toán rất đa
dạng tuỳ theo mục tiêu, phạm vi, loại hình kiểm toán. Tuy nhiên về mặt khoa học
cũng cần khái quát các yêu cầu và nội dung cơ bản của kết luận và báo cáo hoặc biên
bản kiểm toán. Báo cáo kiểm toán và báo cáo tài chính thực chất là một bản thông
báo về kết quả cuộc kiểm toán về báo cáo tài chính cho ngời sử dụng báo cáo tài
chính.
- Giai đoạn kết thúc kiểm toán đợc tổng kết qua báo cáo kiểm toán và báo
cáo tài chính, chuyển đến cho ngời đọc bản báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
những đánh giá của kiểm toán viên về sự phù hợp của những thông tin định lợng của
báo cáo tài chính cũng nh sự tuân thủ các chuẩn mực hoặc chế độ kế toán hiện hành
khi lập báo cáo tài chính này.
Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, sau khi xem xét đánh giá các kết luận rút
ra từ các giai đoạn trớc của quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải hình thành các
kết luận toàn diện về các khía cạnh:
khoản công nợ hay thiệt hại mà cho đến thời điểm khoá sổ vẫn cha thể xác định là có
chắc chắn xảy ra hay không và số tiền cụ thể là bao nhiêu. Nợ ngoài dự kiến là
những khoản nợ tiềm ẩn trong tơng lai về một số tiền cha xác định cụ thể là bao
nhiêu phát sinh từ hoạt động đã xảy ra. Để một khoản nợ ngoài dự kiến tồn tại phải
qui tụ đủ các yếu tố sau:
+ Phải có một khoản thanh toán tiềm ẩn trong tơng lai mà là kết quả của một
điều kiện hiện có.
+ Số tiền của khoản thanh toán trong tơng lai này có sự không chắc chắn.
+ Khoản nợ ngoài ý muốn này sẽ đợc giải quyết bằng những sự kiện trong t-
ơng lai.
Thông thờng các sự kiện này gồm có:
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Các vụ kiện cha xét xử do vi phạm quyền sở hữu công nghiệp hoặc trách
nhiệm pháp lí đối với sản phẩm.
- Các tranh chấp về thuế đối với cơ quan thuế vụ.
- Các bảo lãnh về công nợ của ngời khác.
Đối với những khoản công nợ ngoài dự kiến này, kiểm toán viên phải xem xét
đánh giá nội dung, số tiền và ảnh hởng của từng khoản mục thông qua các thủ tục
kiểm toán thích hợp. Thông qua đó kiểm toán viên phải đánh giá tính trọng yếu của
các khoản mục đến báo cáo tài chính của khách hàng, rút ra nhận xét kiến nghị, đề
xuất biện pháp điều chỉnh hoặc sự thể hiện trong báo cáo tài chính đã đợc xác nhận.
2.1.2. Các thủ tục kiểm toán các khoản công nợ ngoài dự kiến.
Các thủ tục kiểm toán thích hợp để khoả sát các khoản nợ ngoài dự kiến thờng
không đợc xác định rõ ràng nh đối với các lĩnh vực kiểm toán khác trong giai đoạn
thực hiện kiểm toán bởi mục tiêu của các khảo sát này là xác định sự hiện diện của
các khoản công nợ ngoài ý muốn. Một số thủ tục kiểm toán thích hợp thờng đợc sử
dụng đối với các khoản công nợ ngoài ý muốn:
- Trao đổi với các nhà quản lí về khả năng phát sinh các khoản công nợ
- Các loại sự kiện này bao gồm:
+ Các kết quả của các khoản công nợ ngoài dự kiến đợc đánh giá là trọng yếu.
+ Những tài sản cố định không sử dụng đợc nhợng bán sau ngày khoá sổ kế
toán với giá thấp hơn nguyên giá ghi trên sổ.
+ Các khách hàng có số d lớn nhng đầu năm sau mới phát hiện là không có
khả năng thanh toán.
Sự kiện không ảnh hởng trực tiếp nhng cần công bố trên báo cáo tài chính.
- Các sự kiện này chỉ thực sự phát sinh sau ngày kết thúc niên độ nên không
phải điều chỉnh lại số liệu trên báo cáo tài chính. Nhng do tầm quan trọng của thông
tin nên cần công bố trong thuyết minh báo cáo tài chính.
- Ví dụ các sự kiện:
+ Hoả hoạn, lũ lụt xảy ra sau ngày kết thúc niên độ kế toán.
+ Những sự kiện xảy ra bất ngờ cho khách nợ.
+ Sự sụt giảm giá trị đột ngột của cổ phiếu.
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2.3. Các thủ tục kiểm toán.
Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài chính liên quan
đến trách nhiệm của kiểm toán viên đợc chia ra làm ba giai đoạn sau:
Các sự kiện phát sinh tính đến ngày kí báo cáo kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560: kiểm toán viên phải xây dựng
và thực hiện các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích
hợp để xác định tất cả những sự kiện đã phát sinh đến ngày kí báo cáo kiểm toán xét
thấy có thể ảnh hởng đến báo cáo tài chính và phải điều chỉnh hoặc thuyết minh trên
báo cáo tài chính.[10,31]
Trớc khi kí báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên cần tiến hành các biện pháp dự
kiến để chứng minh mọi sự kiện xảy ra cho đến ngày kí báo cáo kiểm toán có thể
phải điều chỉnh hoặc đã đợc điều chỉnh đã đợc thể hiện trong báo cáo tài chính đã đ-
ợc phê duyệt. Những thủ tục này nhằm bổ sung thêm cho các thủ tục đặc biệt có thể
làm nh vậy đợc kí kết không.
+ Doanh nghiệp có bị tổn thất về tài sản do chng dụng, phá huỷ, mất mát do
hoả hoạn lũ lụt...hay không.
+ Có những rủi ro hay dự kiến có thể xảy ra.
+ Có những điều chỉnh kế toán bất thờng đã thực hiện hay dự định điều chỉnh
báo cáo sau ngày lập bảng tổng kết tài sản không.
+ Có hay không những sự kiện đã xảy ra hoặc có khả năng xảy ra làm chính
sách kế toán đã và đang sử dụng để lập báo cáo tài chính không còn phù hợp.
+ Có biểu hiện gì vi phạm khái niệm Doanh nghiệp hoạt động liên tục
không.
Nếu kiểm toán viên xem xét thấy có sự kiện xảy ra sau ngày lập bảng tổng kết
tài sản tính đến ngày kí báo cáo kiểm toán có thể ảnh hởng trọng yếu đến báo cáo tài
chính thì kiểm toán viên phải xác định xem các sự kiện đó có đợc phản ánh đúng và
chính xác trong báo cáo tài chính không và đề ra ý kiến nhận xét thích hợp trong báo
cáo kiểm toán.
Các sự kiện phát sinh sau ngày kí biên bản kiểm toán nhng trớc ngày phát hành
báo cáo tài chính.
Các nhà quản lí doanh nghiệp phải có trách nhiệm thông báo cho kiểm toán viên
biết sự kiện đã xảy ra từ khi kí báo cáo kiểm toán cho đến lúc phát hành báo cáo
kiểm toán hàng năm và những sự kiện có khả năng ảnh hởng đến báo cáo tài chính.
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kiểm toán viên không bắt buộc phải áp dụng các thủ tục hoặc phải xem xét những
vấn đề có liên quan đến báo cáo tài chính xảy ra sau ngày kí báo cáo kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560 Trờng hợp kiểm toán viên biết đ-
ợc sự kiện có khả năng ảnh trọng yếu đến báo cáo tài chính phát sinh sau ngày kí báo
cáo kiểm toán nhng trớc ngày công bố báo cáo tài chính, thì kiểm toán viên phải cân
nhắc xem có nên sửa lại báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán hay không và phải
thảo luận vấn đề này với giám đốc đơn vị đợc kiểm toán để có những biện pháp phù
Sau ngày phát hành báo cáo tài chính chính thức, kiểm toán viên không có nghĩa
vụ phải thẩm tra tiếp tục đối với các sự kiện, số liệu nào có liên quan đến báo cáo tài
chính. Tuy nhiên nếu kiểm toán viên nhận thấy có những ảnh hởng nghiêm trọng tới
báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán mà trớc khi kí báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên
cha đợc biết thì kiểm toán viên phải cân nhắc về việc sửa chữa lại báo cáo tài chính
và báo cáo kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560: Sau ngày công bố báo cáo tài
chính và báo cáo kiểm toán nếu kiểm toán viên nhận thấy vẫn còn sự kiện xảy ra đến
ngày kí báo cáo kiểm toán cần phải sửa đổi báo cáo kiểm toán, thì kiểm toán viên
phải cân nhắc xem có nên sửa lại báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán hay không,
phải thoả thuận vấn đề này với giám đốc đơn vị đợc kiểm toán và có những biện pháp
thích hợp tuỳ theo từng trờng hợp cụ thể.[20,34]
Theo đó thì kiểm toán viên phải xem lại các bớc công việc mà các nhà quản li
doanh nghiệp đã làm để khẳng định xem liệu khoản mục đơn lẻ trong các báo cáo tài
chính phát hành chính thức và báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính này có sai sót,
thay đổi không. Kiểm toán viên sẽ thảo luận với ban giám đốc công ty khách hàng.
Trờng hợp ban giám đốc đơn vị khách hàng chấp nhận sửa đổi báo cáo tài chính thì
kiểm toán viên phải thực hiện thủ tục, biện pháp xét thấy cần thiết và phù hợp để lập
báo cáo kiểm toán trên cơ sở báo cáo tài chính đã đợc sửa đổi. Bản báo cáo kiểm
toán mới lập sẽ nêu thêm vấn đề giải thích về báo cáo tài chính mới và giải thích về lí
do xem lại báo cáo tài chính phát hành trớc đó. Kiểm toán viên đảm bảo các vấn đề
này phải đợc thông báo đến các bên nhận báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán đã
công bố trên báo cáo kiểm toán mới. Trờng hợp kiểm toán viên bị hạn chế trong việc
kiểm tra xem xét lại các sự kiện tiếp theo thì cũng phải ghi những ảnh hởng này vào
báo cáo.
Trong trờng hợp nếu ban giám đốc đơn vị khách hàng không thông báo các vấn
đề xảy ra cho các bên nhận báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán và cũng không
sửa đổi báo cáo tài chính theo yêu cầu của kiểm toán viên, của công ty kiểm toán thì
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
16
cũng đợc tái phân loại.
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 7- 01 định nghĩa về khái niệm doanh
nghiệp hoạt động: Thông thờng một doanh nghiệp đợc coi là đang hoạt động khi mà
nó tiếp tục hoạt động cho một tơng lai định trớc. Ngời ta quan niệm rằng doanh
nghiệp không có ý định và cũng không cần phải giải tán hoặc quá thu hẹp qui mô
hoạt động của mình. Chuẩn mực qui định ban giám đốc đơn vị đợc kiểm toán phải
xem xét đánh giá cụ thể khả năng hoạt động liên tục của đơn vị và một số chuẩn mực
kế toán khác qui định các vấn đề liên quan đến khả năng hoạt động liên tục cần xem
xét và trình bày trên báo cáo tài chính. Trong quá trình đánh giá khả năng hoạt động
liên tục, nếu ban giám đốc nhận biết đợc bất cứ sự không chắc chắn trọng yếu nào
liên quan tới các sự kiện hoặc điều kiện có thể gây ra nghi ngờ đáng kể về khả năng
tiếp tục hoạt động của đơn vị thì các vấn đề không chắc chắn này phải đợc trình bày
trên báo cáo tài chính. Khi báo cáo tài chính không đợc lập trên cơ sở hoạt động liên
tục thì đơn vị phải trình bày điều này và cơ sở áp dụng trong việc lập báo cáo tài
chính cùng các lí do đơn vị không đợc đánh giá là có khả năng hoạt động liên tục.
Khi đánh giá sự phù hợp của giả định liên tục, ban giám đốc phải xem xét tất cả các
thông tin có sẵn cho tơng lai gần có thể dự đoán đợc, ít nhất là 12 tháng kể từ ngày
kết thúc niên độ kế toán. Mức độ xem xét hoàn toán phụ thuộc vào các sự kiện thực
tế trong từng trờng hợp cụ thể.
2.3.2. ý nghĩa của khái niệm hoạt động liên tục.
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét khả năng tiếp tục hoạt
động của doanh nghiệp, khái niệm này có đợc thể hiện trong báo cáo tài chính
không. Nếu kiểm toán viên nghi ngờ khả năng tiếp tục hoạt động thì phải tìm bằng
chứng hoặc xoá bỏ nghi ngờ. Khi lập báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn bộ, kiểm
toán viên phải đảm bảo rằng doanh nghiệp tiếp tục hoạt động ít nhất là một năm kể
từ khi kí duyệt báo cáo. Nếu khả năng tiếp tục hoạt động là không chắc chắn thì phải
tính đến khả năng báo cáo kiểm toán chấp nhận từng phần hoặc cho rằng doanh
- Không có khả năng hoàn trả khoản tín dụng đến hạn.
- Gặp khó khăn trong việc thực hiện các điều khoản của khế ớc vay mợn.
- Chuyển đổi từ các giao dịch mua chịu sang thanh toán ngay.
- Không có khả năng đạt đợc các nguồn tài trợ cho việc phát triẻn sản xuất
sản phẩm mới cần thiết hoặc khoản đầu t cần thiết khác.
Biểu hiện về hoạt động.
- Doanh nghiệp thiếu cán bộ chủ chốt mà không bổ sung đợc.
- Doanh nghiệp thiếu thị trờng chính, đặc quyền, giấy phép hoặc thiếu nhà
cung cấp quan trọng.
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động hoặc thiếu nguồn
cung cấp quan trọng.
Biểu hiện khác.
- Doanh nghiệp không đủ vốn hoặc không thể thực hiện các yêu cầu của
pháp luật.
- Doanh nghiệp đang bị vớng vào các vụ kiện tụng tại toà án và nếu thua
kiện phải gánh chịu khủng hoảng nghiêm trọng về tài chính.
- Có những thay đổi về pháp luật hoặc chính sách của nhà nớc làm ảnh hởng
bất lợi đến doanh nghiệp.
- Các dấu hiệu khác.
Đây là một số biểu hiện điển hình, không bao gồm toàn bộ các biểu hiện vi
phạm tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp và cũng không có nghĩa là khi doanh
nghiệp có một hoặc một vài biểu hiện đó thì đã bị coi là vi phạm khái niệm doanh
nghiệp đang hoạt động liên tục.
2.3.4. Các thủ tục kiểm toán khi xác định sự kiện ảnh hởng tới khả năng hoạt
động liên tục.
Khi đánh giá kết quả công việc, kiểm toán viên cần đề phòng khả năng giả
định hoạt động liên tục không đợc thực hiện. Khi khả năng này có thể xảy ra, kiểm
dụng báo cáo tài chính khi xem xét khả năng đơn vị có thể không tiếp tục thực hiện
đợc giá trị các tài sản và thanh toán các khoản nợ phải trả trong kì hoạt động bình th-
ờng. Trong một số ít trờng hợp, khi có nhiều sự kiện không chắc chắn trọng yếu xảy
ra gây ảnh lớn đến báo cáo tài chính, kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể
xem xét đa ra ý kiến từ chối sẽ thích hợp hơn việc đa ra đoạn nhấn mạnh vấn đề.
Trong trờng hợp báo cáo kiểm toán đã khẳng định chắc chắn về sự vi phạm giả định
hoạt động của doanh nghiệp thì báo cáo kiểm toán phải bao gồm tham chiếu cụ thể
về thực tế tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu có thể gây ra nghi ngờ đáng kể
về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp.
Trờng hợp giả định về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị khách hàng là
không phù hợp. Trên cơ sở tiến hành thủ tục kiểm toán bổ sung và những thông tin
thu thập đợc bao gồm ảnh hởng của các kế hoạch của ban giám đốc, kiểm toán viên
và công ty kiểm toán vẫn phải kết luận là giả định hoạt động liên tục đã sử dụng
trong việc lập báo cáo tài chính của đơn vị khách hàng là không phù hợp và đa ra ý
kiến trái ngợc. Khi ban giám đốc đơn vị khách hàng đã kết luận giả định hoạt động
liên tục sử dụng khi lập và trình bày báo cáo tài chính là không phù hợp thì báo cáo
tài chính cần phải lập lại trên cơ sở mới có căn cứ. Kiểm toán viên và công ty kiểm
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
toán xác định cơ sở thay thế là phù hợp sẽ đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn
nhấn mạnh về căn cứ thay thế.
Tròng hợp ban giám đốc dơn vị khách hàng không thực hiện hoặc không mở
rộng đánh giá về khả năng hoạt động liên tục thì kiểm toán viên cũng không có trách
nhiệm biện hộ cho việc thiếu sự phân tích của ban giám đốc và kiểm toán viên đa ra
ý kiến trong báo cáo kiểm toán là hạn chế không thể thu thập đầy đủ bằng chứng
thích hợp liên quan đến việc sử dụng giả định hoạt động liên tục trong việc lập và
trình bày báo cáo tài chính. Tuy nhiên một số trờng hợp khi thiếu sự phân tích của
ban giám đốc đơn vị khách hàng, kiểm toán viên vẫn có thể đa ra ý kiến chấp nhận
về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp khi các thủ tục kiểm toán khác có
thu thập đợc phải có độ tin cậy cao. Sức thuyết phục của bằng chứng kiểm toán phụ
thuộc vào nguồn gốc, thể loại và sự kết hợp của các bằng chứng kiểm toán. Bằng
chứng kiểm toán thu thập đợc phải đầy đủ và thích hợp để làm cơ sở cho kiểm toán
viên đa ra ý kiến nhận xét của mình về báo cáo tài chính. Nếu kiểm toán viên kết
luận là bằng chứng cha đầy đủ và thích hợp để đa ra kết luận về tính trung thực và
hợp lí của các thông tin trên báo cáo tài chính của khách hàng thì kiểm toán viên
phải tiếp tục thu thập thêm các bằng chứng hoặc đa ra ý kiến chấp nhận từng phần
hoặc ý kiến không chấp nhận.
2.2.3. Tổng hợp các sai sót phát hiện đợc.
Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên phải tổng hợp đánh giá các
sai sót phát hiện đợc trong quá trình kiểm toán. Đối với những sai sót trọng yếu kiểm
toán viên lập các bút toán điều chỉnh ngay trong quá trình kiểm toán các khoản mục
có sai sót đó. Ngoài các sai sót trọng yếu còn có một số lợng lớn các sai sót tuy
không trọng yếu nhng cần thiết phải lập bút toán điều chỉnh vì khi tổng hợp những
sai sót này sẽ có ảnh hởng trọng yếu tới báo cáo tài chính đợc kiểm toán. Thông qua
việc tổng hợp các sai sót, kiểm toán viên đánh giá một cách tổng thể về các thông tin
trên báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán. Việc tổng hợp các sai sót phát hiện
trong quá trình kiểm toán sẽ thống nhất đợc kết quả kiểm toán giữa các kiểm toán
viên để hình thành nên kết luận kiểm toán.
2.4.4. Thu thập th giải trình của nhà quản lí.
Đối với các sự kiện đòi hỏi phải có sự giải trình thì kiểm toán viên yêu cầu nhà
quản lí đơn vị khách hàng phải cung cấp các th giải trình giải thích về các sự kiện có
nghi vấn mà trong quá trình kiểm toán kiểm toán viên đã phát hiện, ví dụ nh các
khoản công nợ ngoài dự kiến, các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ kế
toán. Th giải trình là sự thừa nhận trách nhiệm của ban giám đốc đơn vị đợc kiểm
Đào Thị Thuý-Kiểm toán 42B Trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
toán trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lí và phù hợp với
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thực và hợp lí trên các khía cạnh trọng yếu, trên phơng diện tuân thủ các chuẩn mực
và chế độ kế toán hiện hành cũng nh các qui định pháp lí có liên quan.
3.1.2. ý nghĩa của báo cáo kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán là kết quả của một cuộc kiểm toán.
Đây là sản phẩm cuối cùng của một cuộc kiểm toán độc lập, thể hiện ý kiến
nhận xét của kiểm toán viên về báo cáo tài chính mà họ đã kiểm toán. Kết quả của
cuộc kiểm toán báo cáo tài chính đợc thông báo thông qua báo cáo kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán là sự đảm bảo thông tin định lợng trên báo cáo tài
chính: phản ánh trung thực và hợp lí trên các khía cạnh trọng yếu.
ý kiến của kiểm toán viên đa ra trên báo cáo kiểm toán là một sự đảm bảo
chắc chắn rằng báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lí trên các khía cạnh
trọng yếu; nhng không đảm bảo tuyệt đối rằng không có bất kì sai sót nào trên báo
cáo tài chính đã đợc kiểm toán. Kiểm toán viên chỉ quan tâm đến các yếu tố trọng
yếu của các báo cáo tài chính.
3.1.3. Nội dung cơ bản của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính.
Báo cáo kiểm toán phải đợc trình bày nhất quán về hình thức và kết cấu để ng-
ời đọc hiểu thống nhất và dễ nhận biết đợc có những tình huống bất thờng xảy ra.
Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính theo thông lệ chung bao gồm các yếu
tố cơ bản đợc trình bày theo thứ tự sau:
Tên và địa chỉ công ty kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ tên, biểu tợng, địa chỉ, số điện thoại, số fax và
số hiệu liên lạc khác của công ty hoặc chi nhánh công ty kiểm toán phát hành báo
cáo kiểm toán.
Khi có từ hai công ty trở lên cùng thực hiện một cuộc kiểm toán thì cũng phải
ghi đầy đủ các thông tin về các công ty đó.
Số hiệu báo cáo kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán phải ghi rõ số hiệu phát hành báo cáo kiểm toán của công
ty hoặc chi nhánh công ty kiểm toán theo từng năm. Đây là số đăng kí chính thức
trong hệ thống văn bản của công ty hoặc chi nhánh công ty kiểm toán.