………… o0o…………
Nghiên cứu triết học
Đề tài: " TRIẾT HỌC VỚI TƯ CÁCH LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC (HỘI NGHỊ BÀN TRÒN VỀ CUỐN
SÁCH CỦA V.V.XÔCÔLỐP “NHẬP MÔN
LỊCH SỬ TRIẾT HỌC”) (Tiếp theo kỳ trước) "
TRIẾT HỌC VỚI TƯ CÁCH LỊCH SỬ TRIẾT HỌC (HỘI NGHỊ BÀN
TRÒN VỀ CUỐN SÁCH CỦA V.V.XÔCÔLỐP “NHẬP MÔN LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC”)
(Tiếp theo kỳ trước)
V.V.Vaxiliép: Tôi rất vui khi được phát biểu vài lời về cuốn sách mới xuất bản
của V.V.Xôcôlốp và về những tư tưởng mà cuốn sách này đã gây sự chú ý đối
điểm khách quan được xem là thế mạnh của mình trong việc nhận thức bản
chất của triết học hoặc thậm chí, cả bản thân chân lý (ở đây, tôi không muốn
nói về những đòi hỏi khách quan, bởi những đòi hỏi chủ quan là đương nhiên)
và xem xét hệ thống triết học quá khứ theo cách tiếp cận dần tới nó (hoặc xa
dần nó). Đương nhiên, biểu hiện thái quá của cách tiếp cận như vậy là quan
điểm lịch sử triết học của Hêghen – người mà nói một cách chính xác, đã chép
lại chứ không phải tái cấu trúc lại lịch sử triết học. Những người nghiên cứu
lịch sử triết học sau này đã tiếp nhận con đường “kiến giải” ấy và trên thực tế,
họ đã sử dụng các nguồn tư liệu có được như là điểm tựa ngẫu nhiên cho sự tư
biện của mình. Tuy nhiên, tính ngẫu nhiên trong sự tồn tại của lịch sử triết học,
theo tôi, không kém phần hợp lý so với các thuộc tính khác của nó. Nếu quả là
như vậy thì tại sao Hêghen lại không bị một nhà triết học vĩ đại nào đó đẩy ra
khỏi những suy tư của mình? Cũng đã có nhiều người làm như vậy. Một thí dụ
điển hình cho cách làm này là nhà nghiên cứu lịch sử triết học nước ta –
M.Mamarơđasvili. Thật ra, trong cách tiếp cận mang tính kiến giải từ các hệ
thống nguyên bản vẫn còn lại không ít cái gì đó đã được tác giả biến thành
những cái hoàn toàn khác. Sự biến thái này còn diễn ra cả trong các cuộc hội
thảo về “sự chuẩn hoá”, nhưng nhà nghiên cứu lịch sử triết học được coi là
“chuẩn mực” này lại hướng tới việc làm thế nào để đưa ra được một bức tranh
khách quan về các học thuyết triết học. Không chỉ thế, khi “kiến giải” lịch sử
triết học, nhà nghiên cứu này dường như còn không quan tâm đến “tính chuẩn
mực” của việc trình bày các tác phẩm triết học, chẳng hạn, của Cantơ hoặc
Đêcáctơ. Ông chỉ quan tâm đến những tư tưởng riêng và dường như, ông cũng
không dám nhân danh cá nhân để nói về những tư tưởng đó. Và, khi “kiến
giải” những tư tưởng này, ông thường viện danh các thiên tài triết học. Nghiên
cứu lịch sử triết học theo lối “kiến giải” hoàn toàn đối lập với lối “liệt kê” các
tư tưởng triết học. Theo lối “liệt kê”, nhà nghiên cứu chỉ muốn chuyển tải một
cách cụ thể tư tưởng của nhà triết học được nói đến. Trong lịch sử đã từng có
hai cách nghiên cứu lịch sử triết học theo lối “liệt kê”. Cách thứ nhất, người
nghiên cứu xem như nhiệm vụ của mình đã hoàn thành sau khi đã “liệt kê” các
lối “phân tích” có thể đưa ra những hiểu biết sâu sắc về một hệ thống triết học
nào đó, thậm chí họ còn có thể hiểu hệ thống triết học đó một cách sâu sắc hơn
tác giả của nó. Song, sự nguy hại của phương pháp phân tích trong lịch sử triết
học là ở chỗ, nó có thể dẫn đến sự hiện đại hoá quan điểm của nhà triết học
đang được nghiên cứu và sự lệch hướng trong việc tái cấu trúc lịch sử triết học
đã có. Do vậy, cách tốt nhất để nghiên cứu lịch sử triết học kết hợp cách tiếp
cận thông diễn học với cách tiếp cận phân tích. Bây giờ đã đến lúc quay trở lại
với cuốn sách của V.V.Xôcôlốp để nói rằng, cuốn sách này chính là một thí dụ
điển hình về sự kết hợp một cách có hiệu quả các phương pháp nghiên cứu lịch
sử triết học khác nhau. Kinh nghiệm chuyên môn sâu rộng của V.V.Xôcôlốp
đã cho phép ông đạt tới sự kết hợp hài hoà các phương pháp nghiên cứu lịch sử
triết học. Hệ thống quan điểm của ông được trình bày một cách rõ ràng trong
phần mở đầu của cuốn sách và hơn nữa, nó không lấn át nguồn tư liệu thực tế.
Đó không phải là sự liệt kê lịch sử, mà chính là sự tái cấu trúc lịch sử. Những
tư tưởng của các nhà triết học được trình bày không phải trong một không gian
lôgíc, mà được “lèn chặt” trong bối cảnh văn hoá - xã hội của thời đại. Chúng
ta hầu như không tìm thấy bóng dáng của các nhà triết học, nhưng họ cũng
không bị đẩy ra ngoài lề của sự luận giải. Nói tóm lại, cuốn sách này, ngoài
những gì đã được nói tới, còn có thể được xem như một cuốn giáo trình chuẩn
để rèn luyện năng khiếu về lịch sử triết học. Duy có một điều mà tôi cảm thấy
còn thiếu trong cuốn sách này - đó là sự phân tích một cách kỹ lưỡng hơn luận
cứ của các nhà triết học đã được đề cập tới. Có lẽ, điều này liên quan đến quan
niệm của V.V.Xôcôlốp về triết học. Đối với ông, triết học trước hết là thế giới
quan, chứ không phải là một khoa học chính xác tới mức có thể có về các bản
nguyên khởi thuỷ. Và, mặc dù tác giả có nói đến thế giới quan đã được “duy lý
hóa một cách tối đa”, song sự trình bày đó vẫn thiên về thế giới quan “mang
tính quan điểm hoá” (theo tinh thần của Côngtơ (*)) chứ không phải là quan
điểm nhất quán, có luận cứ về thế giới và con người trong thế giới đó. Yếu tố
này, theo tôi, hoàn toàn có thực. Vậy, trên thực tế, các luận cứ và bằng chứng
trong triết học có đóng vai trò gì không? Liệu có phải những cơ sở hiện thực
vì sao ở chính điểm mấu chốt này, người ta lại viết được rất ít và có thể nói
thẳng ra là, thể loại này chưa được hình thành. Hơn nữa, chính cách tiếp cập đó
còn cho phép chúng ta hiểu được lôgíc phát triển lịch sử của triết học và học
được phong cách tư duy triết học. Có thể tạm đưa ra nhận định rằng, dường
như chính vì thế mà lịch sử triết học với tư cách lịch sử các vấn đề là phương
án rất ít khi gặp. Cách tiếp cận “vấn đề” không cho phép luận giải hời hợt theo
kiểu thuật lại và mô tả; nó đòi hỏi người luận giải phải có chuyên môn sâu và
giỏi về thông diễn học để làm rõ tư tưởng của các nhà triết học vĩ đại, mà điều
này thì không phải ai cũng làm được.
Cuốn sách giáo khoa của V.V.Xôcôlốp được viết theo đúng thể loại hiếm hoi
này, mặc dù tác giả đưa cả những yếu tố truyền thống vào đó; chẳng hạn, việc
tái cấu trúc môi trường văn hoá và trình bày nhân cách của các nhà triết học.
Cốt lõi của sự trần thuật mà V.V.Xôcôlốp tiến hành đã tạo ra lược đồ chủ –
khách thể và cần phải nói rằng, đó là sự lựa chọn có hiệu quả, bởi sự qui định
lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể chính là “hệ thần kinh” của triết học thế
giới. Mối liên hệ xác định giữa tư duy và tồn tại, giữa hoạt động và môi trường
chính là “số phận” của một học thuyết triết học và số phận này chính là điều
kiện tạo nên tính đặc thù, “độc đáo” và vị thế của học thuyết đó trong đời sống
tinh thần của thời đại. Đã từng có một cuộc tranh luận khá dài về vấn đề cần
phải kết cấu bài giảng cho các giảng viên triết học như thế nào. Trực giác cho
chúng ta thấy một điều khá rõ ràng là, việc đưa lịch sử các sự kiện đã được ghi
nhận về phương diện triết học vào giảng dạy là việc không nên làm. Nhưng ý
đồ xây dựng một cái gì đó giống như bộ môn “triết học hệ thống” lại không
gây ra một sự hào hứng nào cả, bởi ý đồ đó sẽ dẫn tới việc giới thiệu các
truyền thống “tự tạo” và chưa được thời gian kiểm nghiệm. Có lẽ, lịch sử các
vấn đề, nếu như đó không phải là lối thoát ra khỏi nan đề, thì cũng là sự thoả
hiệp có lý của cái lịch sử và cái lôgíc. Song, một cách đương nhiên, việc này
có thể làm được với điều kiện là các nhà nghiên cứu lịch sử triết học phải rất
thông thạo trong việc sắp đặt các vấn đề đó. Về mặt này mà nói thì giá trị mà
cuốn giáo khoa của V.V.Xôcôlốp đã đem lại có thể coi là một kiểu mẫu tuyệt
dung của triết học. “Nhập môn lịch sử triết học” - đó là tên gọi khá chính xác,
bởi mục đích mà tác giả đặt ra không phải là để công bố những luận điểm này
hay luận điểm khác (900 trang sách đủ nói lên điều đó), mà là ở sự khái quát
mang tầm trí tuệ. Xin nói thêm là, ở đây còn bộc lộ một thiếu sót được xem là
“đứt quãng” khi trình bày về Cantơ. Song, trong phạm vi những nhiệm vụ mà
“Nhập môn lịch sử” đặt ra thì đó không phải là điều quan trọng, mà điều quan
trọng là ở chỗ làm thế nào để việc đó cho phép tiếp tục vận động một cách độc
lập, mà về điều này, tác giả đã thực hiện được. Vả lại, đối với loại hình giáo
khoa truyền thống thì học thuyết của Cantơ đã được giới hạn ở mức cần thiết,
bởi sau Cantơ, sự phát triển tiếp theo của triết học châu Âu đã diễn ra theo
chiều hướng đi xuống. Theo tôi biết thì luận điểm này đã gây nên sự tranh
luận, nhưng chính chỗ này lại có thể tránh được những định kiến, khi người ta
quan tâm tới tính “làn sóng” của tiến trình lịch sử triết học và sự định vị chính
xác của Cantơ tại đỉnh điểm của biên độ thời Cận đại. Chắc gì đã là ngẫu
nhiên, khi chương cuối của cuốn sách có tên gọi là “Con người với tư cách chủ
thể của lịch sử và nhà nước”. Chính chủ đề này đã trở thành tinh hoa của lịch
sử cận đại và đã được Cantơ luận giải về phương diện lý luận.
Tôi cho rằng, cuốn giáo khoa này đã thành công, bởi định nghĩa của tác giả về
triết học cho phép chúng ta có thể khảo cứu đến ngọn ngành của triết học và
như vậy cũng có nghĩa là đã phản ánh được lịch sử triết học hiện thực, chứ
không phải là lịch sử triết học bị hệ tư tưởng xuyên tạc, đồng thời vạch ra được
những tuyến chính của các vấn đề lịch sử mà không bị rơi vào tình trạng tuỳ
tiện theo ý muốn chủ quan của tác giả. Tính lý luận xuyên suốt một cách có hệ
thống đã phần nào phân biệt nội dung của cuốn giáo khoa này với định hướng
làm rõ những “đối thoại” triết học vốn được xem là “mốt” hiện nay. Trong
cuốn sách của V.V.Xôcôlốp, chúng ta có thể cảm nhận được một phức hợp các
âm thanh rõ hơn là cuộc đối thoại của các nhân vật, song tôi có cảm giác là bức
tranh này thích hợp hơn nhiều, bởi các thiên tài của chúng ta không thiên về
cuộc đối thoại hiện có. Điều đáng lưu ý là, V.V.Xôcôlốp đã tái hiện lại cán cân
lịch sử một cách thích hợp với mỗi nền triết học. Chẳng hạn, ông chú trọng
phức tạp, mà còn bởi việc ông đã đào tạo ra một số thế hệ các nhà chuyên
môn, những người từng theo học trường phái tư duy về lịch sử triết học của
ông. Phương pháp này của V.V.Xôcôlốp đã được kiểm nghiệm và được khẳng
định một cách chắc chắn.
A.A.Xemuskin: Công trình của V.V.Xôcôlốp - “Nhập môn lịch sử triết học”,
theo tôi, là một sự kiện đáng quan tâm và tuyệt vời trong kho tàng tài liệu khoa
học nhân văn ở nước ta, đặc biệt là trong triết học. Định hướng có mục đích và
có suy tính của tác giả về sự luận chứng phương pháp luận cho sự thống nhất
các phương diện lý luận và lịch sử của tri thức triết học là điểm khác biệt của
cuốn sách này. Sự xuất hiện của cuốn sách đã minh chứng cho tính thời sự ở
trình độ cao của nó, bởi khi đọc nó, chúng ta thấy khó có thể dứt ra khỏi ấn
tượng là, việc xuất bản cuốn sách này là giải pháp cho sự cần thiết phải trình
bày theo lối thư tịch học trong các công trình thuộc dạng này mà vốn đã được
đặt ra từ lâu. Ý nghĩa cuốn sách của V.V.Xôcôlốp không bị hạn chế bởi sự
giáo điều hoá của thể loại sách giáo khoa – giáo dục. Tính khai sáng của nó
không gây ra bất kỳ một sự nghi vấn nào, còn nét độc đáo về chất lượng thì
không thể nói hết được. Cái mới và những phát kiến mang tính sáng tạo của
tác giả là ở việc xem xét lại và biến cách tiếp cận lịch sử – triết học thành việc
suy ngẫm và tái cấu trúc mang tính hệ thống lịch sử triết học như một quá trình
chỉnh thể, hữu cơ - một quá trình mà ở đó, không có gì khác ngoài thực chất
lịch sử vốn có trong tính chỉnh thể về phương diện lý luận của triết học. Tác
giả đã đề cập đến chính sự thống nhất về bản chất đó của triết học và lịch sử
của nó, khi luận giải lịch sử triết học như là sự “nhập môn triết học”. Từ quan
điểm đó mà triết học hiện đại được tiếp thu và kiến giải không phải như một
cái gì đó đã được định hình và hoàn thiện so với định hướng vốn có của quá
trình lịch sử triết học với những khuyết tật vốn có của nó, với những hạn chế
và thậm chí, cả cảm giác tuyệt vọng về giá trị lý luận của nó. (Ở đây, xin được
nói thêm là, triết học hiện đại đã chứng kiến sự “khốn cùng của triết học” trong
bối cảnh nguỵ biện lịch sử (historiosophism) về sự “tận cùng của lịch sử”). Cái
nhìn thống nhất của triết học và lịch sử của nó là hoàn toàn trùng hợp với mục
hoá và văn minh của chúng đã tạo cơ sở cho V.V.Xôcôlốp xem xét lịch sử tư
tưởng triết học như một quá trình chỉnh thể, hữu cơ. Ngoài ra, chính tâm thế nhìn
nhận quan điểm và phương pháp luận đó, theo tôi, đã tạo ra triển vọng và khích lệ
đối với việc đổi mới tiềm năng triết học của chúng ta cả về lịch sử cũng như
khuynh hướng lý luận của nó.
(Còn nữa)
Người dịch: PGS.TS. TRẦN NGUYÊN VIỆT
Người hiệu đính: PGS.TS. ĐẶNG HỮU TOÀN
(Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam) (*)
Ôguýt Côngtơ (1798 – 1857) – nhà triết học Pháp, người sáng lập chủ nghĩa
thực chứng (chú thích của ND).
(**)
Gnoxit và Manihei – hai tôn giáo xuất hiện ở vùng Cận Đông vào thế kỷ III
(Chú thích của ND).