Tài liệu TIẾP TỤC MỘT CÁCH KIÊN ĐỊNH VÀ SÁNG TẠO CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (Tiếp theo kỳ trước) - Pdf 10

TIẾP TỤC MỘT CÁCH KIÊN ĐỊNH VÀ SÁNG TẠO CON ĐƯỜNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (Tiếp theo kỳ trước)
Nguồn: fpe.hnue.edu.vn
Hội nhập toàn cầu, vào WTO tự nó không là mục đích mà chỉ là phương
tiện, điều kiện, con đường kết hợp sức mạnh dân tộc, với sức mạnh thời đại;
nhất là cốt để tranh thủ lực lượng sản xuất và công nghệ hiện đại, những thành
tựu mới của kinh tế tri thức nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội - nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
III - TIẾP TỤC ĐI CON ĐƯỜNG THỜI ĐẠI. KIÊN ĐỊNH, ĐỔI MỚI,
SÁNG TẠO.
Ý kiến phủ định thời đại chúng ta vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới là một bước lùi về lập trường chính
trị cơ bản, xuất phát. Thực tế nếu vậy thì đất nước ta, Đảng ta từ nay đi con đường
nào đây?
1 - "Chuyển đổi" sang con đường tư bản chủ nghĩa chăng? Đã có những ý
kiến như thế, nhưng tuyệt đối không thể chấp nhận. Đúng là sau thảm họa "sụp
đổ" ở Liên Xô, Đông Âu, chủ nghĩa tư bản căn bản chiếm lĩnh phần lớn trận địa
thế giới. Nhưng vận mệnh và tiền đồ chủ nghĩa tư bản sẽ như thế nào?
Chủ nghĩa tư bản đã có lịch sử hơn 500 năm. Nó đã có những cống hiến cực
kỳ to lớn cho loài người. Nó đã tạo ra những lực lượng sản xuất không những đồ
sộ mà còn tinh xảo, tinh vi, những máy móc "thông minh", những vật liệu, năng
lượng kỳ diệu v.v Với đại công nghiệp, nó đã tạo ra thị trường thế giới thay cho
tình trạng biệt lập trước đó của các địa phương và dân tộc vốn tự cung tự cấp. Do
xâm chiếm thuộc địa, bóp nặn thị trường thế giới, chủ nghĩa tư bản đã làm cho sản
xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới. Chính chủ nghĩa tư
bản đã có công làm cho lịch sử biến thành lịch sử thế giới. Nhưng đó là thế giới
gì?
Trước Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đó toàn thị là thế giới tư bản
bao gồm các "chính quốc" và cả hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Từ sau
Tháng Mười năm 1917 đến 1991, thế giới phân chia thành hai hệ thống đối lập.
Sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, chủ nghĩa tư bản chiếm lĩnh đa phần thế giới,

trước đây dù có khuyết tật nặng nề thế nào đi nữa, nhưng thảm họa nhãn tiền ngày
nay là không còn Liên Xô, Mỹ đang làm mưa làm gió trên thế giới.
2 - Vậy là thế giới đổi thay nhưng thời đại không thay đổi, Đảng ta, nhân dân
ta, đất nước ta, nhất quyết tiếp tục đi con đường thời đại - con đường xã hội chủ
nghĩa.
Cần nhận rõ thời đại mặc dù không thay đổi nhưng thời đại lịch sử lớn được
chia ra những thời kỳ hay gọi là thời đại nhỏ. Chẳng hạn, về thời đại tư sản, V.I.
Lê-nin lấy ví dụ Pháp và nói đến mấy thời kỳ: thời kỳ từ cách mạng 1789 đến
chiến tranh Pháp - Phổ 1870 - 1871; thời kỳ thứ hai từ 1871 đến chiến tranh thế
giới thứ nhất 1914 - 1918; thời kỳ thứ ba từ thế chiến thứ nhất trở về sau
Về thời đại lớn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì sao? Cho
đến nay có thể chia thành ba thời kỳ kể từ cột mốc Cách mạng Tháng Mười năm
1917.
Thời kỳ thứ nhất (từ 1917 đến 1945) là thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa
thắng lợi đầu tiên ở một nước; chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và từng
bước củng cố; phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ; chiến thắng của
loài người tiến bộ đối với chủ nghĩa phát xít.
Thời kỳ thứ hai (1945 - 1991) là thời kỳ chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống
thế giới; phong trào giải phóng dân tộc phát triển thành cao trào; ba dòng thác
cách mạng cùng dâng cao; đồng thời cũng dần dần xuất hiện và tích tụ những khó
khăn và sai lầm, thậm chí sai lầm nghiêm trọng khiến chủ nghĩa xã hội lâm vào
khủng hoảng kéo dài, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Đông Âu rồi Liên Xô.
Thời kỳ thứ ba (từ 1991 về sau) là thời kỳ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại
và phong trào cộng sản quốc tế khắc phục khủng hoảng, thoái trào để từng bước
phục hồi, cải cách, đổi mới và phát triển.
Nắm vững thời đại, do vậy, không thể dừng lại ở bản chất thời đại nói chung
mà trong mỗi thời điểm lịch sử cần nhận ra thật rõ cách mạng đang đứng ở đâu, ở
thời kỳ nào, với những đặc điểm gì? Mặt khác, không thể chỉ thấy hiện thực mà
không thấy triển vọng, không thể chỉ thấy trước mắt mà không thấy xu thế cơ bản,
lâu dài, không thể chỉ thấy cái riêng mà không thấy cái chung. Cương lĩnh xây

lượng sản xuất mà cả sở hữu "chủ nghĩa tư bản tập đoàn" của các nhà tư bản kếch
sù.
Rõ ràng cái vỏ tư nhân tư bản chủ nghĩa đã quá chật so với nội dung sức sản
xuất cực kỳ đồ sộ mà nó chứa đựng; thậm chí quá chật cả với hình thức sở hữu tư
bản độc quyền cá nhân.
Từ tính chất xã hội hóa cao của sản xuất và lực lượng sản xuất, cũng xuất
hiện trong các nước tư bản phát triển ngày càng nhiều nhân tố mầm mống những
quan hệ xã hội tương lai, chẳng hạn các công ty cổ phần trong đó có sự tham gia
của những người lao động vào sở hữu và quản lý. Hình thức công ty cổ phần có
loại thuộc những "nhà tư bản tập thể" (Ăng-ghen) hoặc "trực tiếp mang hình thái
tư bản xã hội đối lập với tư bản tư nhân"
(1)
; có loại "nửa nọ nửa kia", một nửa
thuộc các chủ tư sản vừa và nhỏ, một nửa cổ đông là những người lao động.
"Những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa cũng như những nhà máy hợp tác đều
phải được coi là những hình thái quá độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
sang phương thức sản xuất tập thể"
(2)
. Lại có những doanh nghiệp tự quản thuộc sở
hữu của những người lao động. Ví dụ: ở Mỹ có hơn 11 triệu người lao động đang
là đồng sở hữu những doanh nghiệp này; ở Thái Lan và nhiều nước tư bản, hợp tác
xã của những người lao động rất phổ biến trong nông nghiệp, thương nghiệp, vận
tải, v.v Bộ Nông nghiệp Thái Lan có tên là Bộ Nông nghiệp, Phát triển nông thôn
và hợp tác xã. Vậy là, tình hình đúng như hình ảnh mà V.I. Lê-nin từng hình dung:
ngày nay thì chủ nghĩa xã hội nhìn sang chúng ta từ tất cả các khung cửa của chủ
nghĩa tư bản hiện đại; chủ nghĩa xã hội đang hiện ra trực tiếp, trên
thực tiễn, trong
mỗi biện pháp quan trọng tạo thành một bước tiến trên cơ sở chủ nghĩa tư bản hiện
đại ấy.
Cần đánh giá thế nào về chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa? Có người cho rằng

khiến "lịch sử càng biến thành lịch sử thế giới" (C. Mác) mà đỉnh cao sẽ là xã hội
cộng sản văn minh. Thế nhưng, toàn cầu hóa hiện nay đang do chủ nghĩa tư bản
chủ đạo là một quá trình đầy rẫy những mâu thuẫn như đã nói. Trong những mâu
thuẫn đó thì nổi lên trước hết là mâu thuẫn giữa lợi ích cơ bản thuộc chủ nghĩa tư
bản độc quyền với chủ quyền và lợi ích các quốc gia dân tộc. Không thấy mâu
thuẫn này khi hội nhập, dễ đi đến hòa tan, đưa nền kinh tế quốc gia, thậm chí cả số
phận dân tộc trôi nổi trên thị trường toàn cầu đầy rủi ro, bất trắc. Biện chứng
khách quan ở đây là toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa chẳng những không xóa đi và
không thể xóa đi, trái lại làm nổi hơn lên chủ quyền và lợi ích quốc gia, bản sắc
văn hóa dân tộc.
Toàn cầu hóa hiện nay còn mang sâu sắc mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp tư
bản độc quyền xuyên quốc gia với giai cấp công nhân và toàn thể những người lao
động bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới, ngay tại các nước tư bản phát triển. Nếu
không thấy mâu thuẫn này mà chỉ nói, chỉ nhấn mạnh lợi ích dân tộc (dẫu rằng
hiện nay nổi bật hàng đầu là lợi ích quốc gia, dân tộc) thì dễ sa vào lập trường dân
tộc chủ nghĩa tư sản, đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sô-vanh, mức
thấp là ích kỷ, thực dụng, vụ lợi trên những toan tính chính trị và chiến lược đối
ngoại và thực ra những lập trường như vậy cũng không hiểu thấu được lợi ích
chân chính của dân tộc mình. Cứ chủ nghĩa dân tộc đi vào cạnh tranh sinh tồn
khốc liệt mạnh được, yếu thua thì sẽ đẩy thế giới đi vào tranh chấp nhau triền
miên, không dứt; nếu cạnh tranh kinh tế không thể dàn xếp ổn thỏa trong điều kiện
nào đó, nhất là khi dính đến cả lợi ích chính trị, thì có thể dẫn đến những va chạm,
bùng nổ, xung đột hoặc chiến tranh cục bộ, thậm chí không loại trừ chiến tranh thế
giới có giới hạn, mặc dù hiểm họa này hiện nay ít có khả năng xẩy ra.
Tóm lại, về lý thuyết mà nói, chủ nghĩa tư bản giai đoạn toàn cầu hóa tuy
chừng mực nào đó có thêm sức sống, nhưng dứt khoát không thể kéo dài mãi vận
mệnh của nó như có người nghĩ; trái lại, càng tích lũy thêm nhiều mâu thuẫn trên
phạm vi toàn cầu cho tới khi mâu thuẫn tới đỉnh điểm, phép biện chứng "vật cực
tắc phản" tất sẽ đưa chủ nghĩa tư bản đến chỗ tan rã. Có thể đến ngày nào đó, giả
thuyết của Mác về khả năng thắng lợi đồng thời của chủ nghĩa xã hội trong hàng

ta? Cương lĩnh năm 1991 của Đảng đã vạch rõ những điểm căn cốt nhất trong bức
tranh tổng thể, rồi đây sẽ được nghiên cứu, bổ sung, phát triển, làm phong phú
thêm. Trong bài: "Xây dựng Đảng ta thật sự vững mạnh" (báo Nhân Dân ngày 23-
2-2006), tôi có thử đề xuất mấy ý kiến về mô hình kinh tế nói riêng như sau:
"Đó là nền kinh tế nhiều thành phần cùng phát triển trong đó kinh tế Nhà
nước là chủ đạo; một nền kinh tế thị trường có kế hoạch; có sử dụng chủ nghĩa
tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức thích hợp; đồng thời thông qua chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, ra sức tranh thủ những thành quả của cách
mạng khoa học, công nghệ hiện đại và kinh tế tri thức, nhằm đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần
của nhân dân".
Một nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo,
không nghi ngờ gì nữa, đó là đặc trưng chủ yếu có tính quy luật của kết cấu kinh tế
thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản hay từ một nước kém phát triển tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Thế nhưng có đồng chí không muốn nói "Kinh tế nhiều thành phần"
mà chỉ nói "đa sở hữu, nhiều hình thức sản xuất, kinh doanh". Thật ra không có gì
mâu thuần giữa mấy khái niệm đó, vấn đề chỉ là tùy trường hợp đề cập; có điều
nếu vì dị ứng với khái niệm "thành phần" mà tránh nói thì e quên mất ở đây là
thực tiễn, là khoa học. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không thể
không phân tích rõ điểm xuất phát của nền kinh tế trên quan điểm kinh tế - chính
trị, giai cấp - xã hội. Nếu không rõ đi từ đâu thì làm sao vạch được chính xác con
đường đi tới đích! Nếu chỉ trên quan điểm một nền kinh tế hỗn hợp đơn thuần,
không phân biệt tính chất xã hội, giai cấp, thì đường lối kinh tế nhiều lắm chỉ còn
là tăng trưởng và tăng trưởng thuần túy về sản xuất, về GDP? Vậy định hướng xã
hội chủ nghĩa chỗ nào?
Về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cũng có ý kiến không đồng tình. ở
đây lại càng phải hỏi định hướng xã hội chủ nghĩa thế nào nếu không có vai trò
chủ đạo của kinh tế Nhà nước? Phải chăng cái lý thuyết tự do mới triệt để nhất coi
"thị trường là tất cả, nhà nước là con số không" đã phải rút xuống thành "nhà nước

dẫn đến những ngộ nhận, chẳng hạn hiểu là "chủ nghĩa xã hội thị trường" v.v Đó
là chưa nói từ khái niệm về mô hình kinh tế tổng quát giải thích thế nào về định
hướng xã hội chủ nghĩa, về nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa ở đâu (trong
bản thân công thức ấy) còn là vấn đề. Vì lẽ đó tác giả bài này mạnh dạn đề xuất
một công thức mới (đã dẫn ra như trên) mong làm rõ hơn nội dung công thức quá
rút gọn "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Trong mô hình kinh tế mới, sau đặc trưng đầu tiên là "kinh tế nhiều thành
phần cùng phát triển, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo", chúng tôi nhấn mạnh
đó là
"nền kinh tế thị trường có kế hoạch". Kinh tế thị trường không phải tự do
(theo kiểu tư sản) mà có kế hoạch. Nghĩa là, có sự quản lý của nhà nước chứ
không phải thả nổi cho "bàn tay vô hình" điều khiển tất cả nền kinh tế theo nguyên
tắc thị trường kể từ phân phối tài nguyên, các nguồn lực, cho đến xuất, nhập khẩu
v.v Hiện nay người nông dân Nam Bộ và Tây Nguyên thường kêu than một tình
cảnh thật oái oăm trong sản xuất là khi "được mùa thì mất giá", khi "được giá lại
mất mùa", và để chạy theo với thị trường thì năm nay trồng cây này, năm sau chặt,
trồng cây khác, đến khổ.
Cơ chế cũ kế hoạch hóa tập trung, bài xích thị trường là sai. Đã có lúc điều
chỉnh theo hướng kết hợp kế hoạch với thị trường, lấy kế hoạch làm chính. Nay thì
nên đổi mới thế nào trong quan hệ giữa kế hoạch với thị trường, điều này xem ra
rất cần phải nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và lý luận để làm sáng rõ. Có điều,
không nên vì sai lầm trước đây mà thành kiến với kế hoạch hóa; ngay nhà nước tư
bản cũng không phải không có kế hoạch kinh tế. Đương nhiên, họ làm kế hoạch vì
lợi ích các tập đoàn tư bản. Còn kế hoạch nhà nước dưới chế độ ta nhằm dân giàu,
nước mạnh, lợi ích nhân dân. Sẽ không đúng nếu cho rằng hễ nói kế hoạch là
phạm chủ quan duy ý chí. Vấn đề là phải kế hoạch hóa trên cơ sở phản ánh đúng
quy luật kinh tế khách quan trong đó có quy luật của thị trường.
Mô hình kinh tế nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tất yếu bao hàm trong
nó một yếu tố có tính chiến lược bao trùm là
sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước.

thủ công nghiệp, giao thông vận tải, trong thương nghiệp, tín dụng, nông nghiệp,
dịch vụ v.v. mà V.I. Lê-nin gọi đó là chủ nghĩa tư bản nhà nước hợp tác xã. Sử
dụng tư bản nước ngoài dưới các hình thức FDI, liên doanh, liên kết, đặc biệt tập
trung trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Thông qua các hình thức này giúp
thu hút vốn, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, học tập kinh nghiệm quản lý -
những nhu cầu hết sức cần thiết đối với ta. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế thế giới, tham gia WTO - hoàn cảnh này khắc hẳn thời V.I. Lê-nin,
không gian mở ra hết sức rộng cho việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, cho
phép nước ta "dùng" cả tư bản thế giới vào việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho chủ nghĩa xã hội. Song, cũng cần nhớ rằng không nên nhận thức vấn đề này
quá đơn giản, quá lạc quan, một chiều vì bên cạnh thời cơ thuận lợi, thách thức
cũng hết sức lớn bởi trong sâu xa đây là cả một cuộc đấu tranh gay go: chúng ta
tranh thủ, sử dụng được chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội hay ngược
lại chính chủ nghĩa tư bản nó chuyển hóa được chúng ta? Điều cần thiết hiện nay
là chính thức thừa nhận chủ nghĩa tư bản nhà nước như một thành phần quan trọng
trong kết cấu kinh tế để sử dụng, phát triển, quản lý, kiểm soát và điều tiết nó một
cách có ý thức vì mục đích chủ nghĩa xã hội, không để nó tự phát đi con đường tư
bản chủ nghĩa.
Để tránh những khía cạnh tế nhị nào đó có thể có về tâm lý, nước ta không
nhất thiết phải tuyên bố và tuyên truyền rộng rãi về chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Nhưng trong nhận thức lý luận chính trị và tư tưởng đường lối, chính sách, đặc
biệt trong Đảng, trong cán bộ lãnh đạo và quản lý, phải được trang bị vững chắc tư
tưởng V.I. Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm Đảng ta về chủ nghĩa tư
bản nhà nước dưới chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo thuộc về
giai cấp công nhân. Mặt khác, cũng có thể nghĩ đến khả năng: một khi đường lối
chính sách rõ ràng, minh bạch và được giải thích kỹ càng thì ngay các nhà tư sản
yêu nước cũng có thể yên tâm, phấn khởi đóng góp vào sự nghiệp chung của dân
tộc, đi vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước. Nhà nước ta giúp họ làm giàu
theo con đường đó.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cái thiếu lớn nhất của nước ta là lực lượng sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status