Tiểu luận
Đề tài: " VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI "
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN THỨC (*)
Bài viết góp phần làm rõ thêm những nội dung cơ bản của khái niệm
trách nhiệm xã hội và vai trò của nhà nước trong việc tổ chức và
thực thi trách nhiệm xã hội. Theo tác giả, vai trò đó của Nhà nước
thể hiện tập trung ở những điểm: 1) Xây dựng môi trường pháp lý
thuận lợi cho các hoạt động của đời sống xã hội; 2) Xây dựng và
đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội; 3) Quản lý và điều hành
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 4) Đảm bảo
người là tự do trong những hành động của mình hay không. Trong
chủ nghĩa Mác, vấn đề trách nhiệm mang tính lịch sử - cụ thể và
được giải quyết trên cơ sở phân tích mức độ tự do hiện thực của con
người trong những điều kiện lịch sử nhất định. Việc xây dựng một
xã hội không có bóc lột, không có những giai cấp thù địch, việc áp
dụng nguyên lý tự giác một cách có kế hoạch vào đời sống xã hội,
việc làm cho quần chúng nhân dân quen với việc tự quản lý xã hội
và sáng tạo lịch sử sẽ tăng cường mạnh mẽ mức độ tự do của cá
nhân và đồng thời, tăng cường trách nhiệm xã hội và đạo đức của
mỗi người. Trong pháp luật xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm công dân,
trách nhiệm hành chính và hình sự của kẻ vi phạm pháp luật được
xác định không phải bằng con đường vạch ra cấu tạo của tội phạm
một cách thuần tuý hình thức, mà phải tính đến tình hình giáo dục,
đời sống và hoạt động của người đó, mức độ nhận thức tội lỗi và khả
năng sửa chữa trong tương lai. Điều đó làm cho trách nhiệm pháp lý
xích gần lại với trách nhiệm đạo đức. Trong đạo đức cộng sản chủ
nghĩa, trách nhiệm của cá nhân không chỉ bao hàm những hành vi đã
làm, mà cả sự nhận thức của cá nhân về lợi ích của xã hội nói chung,
nghĩa là xét đến cùng, nhận thức được các quy luật phát triển của
lịch sử.
Như vậy, có thể nói, trách nhiệm xã hội bao gồm ba nội dung cơ bản
là:
- Thứ nhất, quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác
khoan dung với nhau trong xã hội.
- Thứ hai, sự gắn bó (đoàn kết, cố kết) giữa cá nhân với cộng đồng
và xã hội.
- Thứ ba, trách nhiệm phải đóng góp vào sự bảo vệ và phát triển bền
vững của cộng đồng và xã hội. Sự đóng gớp này được thể hiện ở ba
mức độ: tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ.
Nhà nước là một yếu tố cấu thành xã hội, đồng thời cũng là chủ thể
thành viên trong xã hội yên tâm, tích cực tham gia vào mọi hoạt
động của đời sống xã hội; mặt khác, phải bảo vệ những lợi ích chính
đáng của các cá nhân, tổ chức xã hội hướng tới công bằng và tiến bộ
xã hội.
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật phải đảm bảo và thoả mãn
được các yêu cầu: đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, nhất quán, thông
thoáng, nghiêm túc, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Đối với Việt Nam, để xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng
bộ và ổn định, theo chúng tôi, cần dựa trên những nguyên tắc sau:
- Một là, pháp luật phải cụ thể hoá những chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ sự tồn tại và phát triển
của xã hội.
- Hai là, pháp luật phải phù hợp với thực tế cuộc sống, bắt đầu từ
cuộc sống và có sự tham gia đóng góp ý kiến rộng rãi của các thành
viên trong cộng đồng xã hội.
- Ba là, song song với việc xây dựng luật pháp, phải có hệ thống
những giải pháp hợp lý, khả thi trong việc tuyên truyền, giáo dục
nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân để pháp luật thực sự đi
vào cuộc sống.
2) Xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội.
Chính sách xã hội luôn gắn liền với chế độ xã hội. Các xã hội khác
nhau đều có những chính sách xã hội phù hợp với bản chất xã hội của
mình; do đó, chính sách xã hội luôn có tính lịch sử - cụ thể và được giải
quyết trên cơ sở những đặc thù của từng xã hội cụ thể, trong từng giai
đoạn lịch sử cụ thể.
Ở Việt Nam, thực hiện các chính sách xã hội là sự cụ thể hoá các
chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết
các vấn đề xã hội, là việc thực hiện các lợi ích và trách nhiệm của
cộng đồng xã hội nhằm tác động trực tiếp vào con người, hướng tới
mục đích đảm bảo, thoả mãn ngày một tốt hơn các nhu cầu về vật
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên
việc kết hợp một cách hợp lý giữa sự quản lý của Nhà nước và sự
điều tiết của cơ chế thị trường. Sự kết hợp này không chỉ đơn thuần
là xác định những lĩnh vực nào Nhà nước cần làm và những lĩnh vực
nào Nhà nước không nên làm, mà còn là sự kết hợp, kiểm kê, kiểm
soát, điều chỉnh và định hướng thường xuyên sự phát triển của nền
kinh tế theo hướng tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội.
Về thực chất, định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển kinh tế
là sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phát triển và hoàn thiện
nền kinh tế. Để thực hiện tốt vai trò này, Nhà nước tác động đến sự
phát triển của nền kinh tế không chỉ thuần tuý bằng sức mạnh kinh tế
của mình, mà còn với tư cách chủ thể quản lý và điều hành mọi mặt
hoạt động của đời sống xã hội, bằng tất cả lực lượng, sức mạnh tổng
hợp về kinh tế, chính trị, xã hội.
4) Đảm bảo cung cấp các dịch vụ công cho xã hội.
Phục vụ xã hội và đảm bảo xã hội là hai chức năng xã hội cơ bản của
nhà nước. Với vai trò là chủ thể quản lý và điều hành xã hội, Nhà
nước ta có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ công cho xã hội thông
qua hai phương thức sau:
- Trực tiếp cung ứng các dịch vụ công thông qua hoạt động của các
doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích hoặc các đơn vị sự
nghiệp.
- Uỷ nhiệm dịch vụ công cho các tổ chức xã hội thực hiện.
Ngoài những loại dịch vụ mà Nhà nước cần phải trực tiếp nắm giữ vì
lợi ích của toàn xã hội và để giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia,
những loại dịch vụ công còn lại được Nhà nước chuyển giao cho các
tổ chức xã hội không thuộc khu vực nhà nước thực hiện dưới sự
kiểm soát bằng công cụ pháp luật và các đòn bẩy kinh tế và có thể
mua lại các dịch vụ công của các tổ chức xã hội để giữ quyền phân
phối, đảm bảo dịch vụ công cho xã hội ngày càng đa dạng và ổn
(*) Tiến sĩ, Trưởng phòng Quản lý khoa học và Đào tạo, Viện Triết
học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.22. Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1995, tr.290 – 291.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.253.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.82.