Đề tài triết học
HỒ CHÍ MINH VỚI
VẤN ĐỀ DÂN SINH
HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ DÂN SINH
NGUYỄN ĐÌNH HOÀ (*)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một tư tưởng khoa học và đầy tính nhân
văn của Hồ Chí Minh - tư tưởng về dân sinh. Trong quan niệm của Người, chủ
nghĩa xã hội gắn chặt với vấn đề dân sinh, luôn coi trọng và thực hiện ngày
càng tốt hơn vấn đề dân sinh. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nêu rõ phương
thức, biện pháp để giải quyết một cách hiệu quả vấn đề dân sinh. Đó là thực
hành tiết kiệm, phát triển sản xuất, gắn phát triển kinh tế với chăm lo cải thiện
và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Những luận điểm sâu sắc
của Người về dân sinh là sự thể hiện tập trung và thiết thực tư tưởng “lấy dân
làm gốc”.
Những cá nhân kiệt xuất được người đời tôn vinh như những vĩ nhân chính là
bởi ở họ luôn có những khát vọng cao cả và cống hiến hết mình vì hạnh phúc
của con người, của nhân loại. C.Mác từng coi đấu tranh cho con người là niềm
hạnh phúc lớn nhất của ông. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt cả cuộc đời
hoạt động cách mạng của mình, Người "chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột
bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành (chúng tôi nhấn
mạnh - N.Đ.H)"(1). Luận điểm này đã phản ánh một cách cô đọng, súc tích quan
thuộc địa - Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nếu Cách mạng tháng Mười Nga
lần đầu tiên chọc thủng hệ thống tư bản chủ nghĩa ở khâu yếu nhất của nó, tạo
nên một sự kiện chính trị làm rung chuyển thế giới, thì Cách mạng tháng Tám đi
tiên phong trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử
dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Như chúng ta đã biết, giải phóng con người, chăm lo cho con người có cuộc
sống ngày càng đầy đủ hơn, hạnh phúc hơn luôn là sự trăn trở, đồng thời là
mong muốn lớn nhất của Hồ Chí Minh. Song, với nhãn quan cách mạng và khoa
học, Người hiểu rằng, muốn giải phóng con người, giải phóng giai cấp và giải
phóng xã hội thì trước hết dân tộc phải giành được độc lập. Nhưng, độc lập sẽ
không có ý nghĩa nếu những nhu cầu của các cá nhân, gia đình và cộng đồng
không được đáp ứng. Người khẳng định rằng, độc lập dân tộc phải gắn với tự do,
dân chủ, ấm no, hạnh phúc của nhân dân; "nếu nước độc lập mà dân không được
hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì". Rằng, nếu "chúng
ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói chết rét, thì tự do độc lập
cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân
được ăn no, mặc đủ"(2).
Vì vậy, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, với cương vị người đứng đầu
Nhà nước dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu Đảng và Chính
phủ phải cố gắng giải quyết thật tốt vấn đề dân sinh, trong đó tập trung thực hiện
ngay những nhiệm vụ then chốt, đó là:
1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân có học hành.
Trên thực tế, ngay sau khi được thành lập, chính quyền cách mạng non trẻ đã
phải đối diện với một loạt khó khăn to lớn, với "thù trong giặc ngoài", trong đó
nạn đói được coi là một thứ giặc nội xâm nguy hiểm đã cướp đi sinh mạng của
hàng triệu con người. Trong điều kiện như vậy, cùng với những biện pháp tích cực
chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi;
nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi;
nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người
luôn được trân trọng, coi là thứ của cải, là vốn quý giá nhất của xã hội. Thực tế
cho thấy, song song với nhiệm vụ tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế,
mở rộng sản xuất, Người đã đặc biệt quan tâm đến việc đáp ứng, thoả mãn
những nhu cầu bức thiết của nhân dân, coi đó là một trong những công tác chủ
đạo, căn bản và cần kíp của nhà nước dân chủ nhân dân. Dân dĩ thực vi thiên,
nghĩa là dân lấy ăn làm trời. Vì vậy, làm thế nào cho dân có ăn, có mặc, được
sung sướng và hạnh phúc luôn là nỗi trăn trở lớn nhất của Hồ Chí Minh, đồng
thời là nhiệm vụ cốt lõi của cách mạng Việt Nam.
Việt Nam là một nước nông nghiệp và đại bộ phận dân cư là nông dân. Trước
Cách mạng tháng Tám, người dân Việt Nam phải oằn lưng sống trong tình cảnh
“một cổ hai tròng” - sự áp bức, bóc lột nặng nề của thực dân và phong kiến. Họ
hoàn toàn không có tư liệu sản xuất, không có một "tấc đất cắm dùi". Chủ nghĩa
Mác - Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính vì không có hoặc bị tước đoạt hết tư liệu
sản xuất mà người lao động phải bán sức lao động của mình, trở thành kẻ làm
thuê để mưu sinh, phải chịu sự bóc lột về kinh tế, áp bức về tinh thần và đè nén
về thể xác của giai cấp thống trị. Vì vậy, biện pháp quan trọng hàng đầu và
mang tính nền tảng để giải quyết vấn đề dân sinh ở Việt Nam chính là mang lại
ruộng đất cho nông dân. Như chúng ta đã biết, bên cạnh độc lập dân tộc, một
trong những thành quả to lớn và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khác mà cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem lại cho người dân là người cày có
ruộng. Thông qua cải cách ruộng đất, những người nông dân Việt Nam vốn bao
đời nghèo đói nay được cách mạng trao cho quyền làm chủ ruộng đất - tư liệu
sản xuất căn bản và quan trọng nhất để mưu sinh, để có cơm ăn áo mặc và sống
một đời hạnh phúc.
Về kế sách lâu dài, Hồ Chí Minh chủ trương phải thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí, tích cực tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế. Như chúng ta đã biết, trên
nền tảng hoà bình và độc lập, cần phải thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển.
tăng trưởng kinh tế với thực hiện các mục tiêu xã hội (con người) được coi như
một sự lựa chọn phát triển ưu tiên và khôn ngoan nhất của các quốc gia. Xét ở
một khía cạnh nào đó, theo chúng tôi, tư tưởng phát triển bền vững đã ít nhiều
xuất hiện ở Hồ Chí Minh từ những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Thật vậy, sự kết
hợp mục tiêu phát triển kinh tế với chăm lo đời sống cho con người luôn được
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng. Khi bước vào công cuộc công nghiệp hoá và
xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người chỉ đạo: "Ta phải tính cách nào, nếu cần có
thể giảm bớt một phần xây dựng để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng
được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Nhà máy cũng
cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn cả là con người, là sự phấn khởi của quần
chúng. Làm tất cả cho con người. Làm cho quần chúng hiểu đúng chủ nghĩa xã
hội hơn"(7). Xem xét luận điểm đó của Hồ Chí Minh từ quan điểm phát triển
hiện đại - phát triển xã hội một cách bền vững và hài hòa, chúng ta thấy rõ,
Người không chủ trương phát triển kinh tế bằng mọi giá, dù kinh tế là nền tảng
để giải quyết các vấn đề khác của đời sống xã hội. Trái lại, khi xác định "dân là
gốc nước" và đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội, Hồ Chí
Minh quan niệm phải xử lý thật tốt mối quan hệ giữa chính sách phát triển kinh
tế với chính sách phát triển xã hội, trong đó điều cốt lõi nhất là cùng với sự phát
triển kinh tế, cần phải chăm lo một cách thoả đáng và thường xuyên các nhu cầu
thiết yếu và cơ bản, bảo đảm cho người dân các lợi ích vật chất và tinh thần phù
hợp với điều kiện kinh tế của đất nước. Thêm nữa, khi hướng vào giải quyết vấn
đề dân sinh, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy ở con người tư cách động lực phát triển
của xã hội. Theo đó, chăm lo cho con người cũng chính là thực hiện kế sâu bền
gốc, tạo nền tảng cho sự phát triển vững chắc của xã hội.
Không chỉ có vậy, Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra mối quan hệ chặt chẽ, hài hòa
giữa xã hội và tự nhiên; hiểu rõ ý nghĩa và vai trò quan trọng không thể thay thế
của môi trường sinh thái đối với sản xuất, đối với sự tồn tại và phát triển của con
người. Chẳng hạn, Người chỉ ra rằng, nếu tài nguyên rừng bị cạn kiệt do hoạt
động khai thác mang tính tước đoạt, bóc lột tự nhiên của con người sẽ dẫn đến
những tác hại không thể lường hết: không còn gỗ để xây dựng nhà ở, mất nguồn
về vật chất và tinh thần cho đất nước, con người. Có thể thấy rằng, những tư
tưởng về bảo vệ môi trường sống của Hồ Chí Minh chứa đựng ý nghĩa to lớn,
đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi mà những nguy cơ ô nhiễm môi trường,
mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên đang trực tiếp đe doạ cuộc sống của
con người hiện tại và các thế hệ tương lai.
Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia cùng bà con nông dân tát nước chống
hạn cứu lúa không chỉ thể hiện tác phong gần dân, bám sát thực tiễn đời sống và
sản xuất, mà còn biểu hiện mối quan tâm sâu sắc và thường trực của Người đối
với cuộc sống của nhân dân. Bởi, triết lý của Hồ Chí Minh là triết lý hành động,
nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn. Mặc dù bận nhiều công việc quan
trọng của Đảng và Chính phủ, song mỗi khi có dịp đến thăm các địa phương, các
đơn vị bộ đội, các nhà máy, công trường,… bao giờ Người cũng dành thời gian
hỏi han tình hình đời sống, kiểm tra nơi ăn chốn ở của đồng bào, của chiến sĩ và
công nhân, nhắc nhở cán bộ lãnh đạo phải thường xuyên quan tâm chăm sóc đời
sống của con người, nhắc nhở mọi người phải giữ gìn vệ sinh trong sinh hoạt, bảo
đảm an toàn trong lao động sản xuất…
Với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, lợi ích vật chất dù rất quan
trọng, song không phải là duy nhất; ngoài đời sống vật chất, con người còn có
đời sống tinh thần và những nhu cầu tinh thần đa dạng. Vì vậy, chăm lo cho con
người không chỉ là chú ý giải quyết những vấn đề ăn, mặc, ở, mà còn phải chăm
lo đến đời sống tinh thần của họ. Nếu con người chỉ ăn no, mặc ấm mà không có
đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh thì cũng không thể phát triển toàn diện.
Vì thế, Người căn dặn Đảng và Nhà nước cần phải thường xuyên quan tâm đến
vấn đề dân sinh, phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm
không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Bởi lẽ, mục đích của chủ nghĩa xã hội
không có gì khác hơn là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.
Chú trọng giải quyết vấn đề dân sinh, hay nói cách khác là quan tâm đến mặt xã
hội trong tiến trình phát triển là một sự sáng tạo, thể hiện sự nhạy cảm chính trị
của Hồ Chí Minh. Trong điều kiện trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống còn vô
dung căn bản nhất của thời đại ngày nay, đồng thời cũng là một nội dung chủ
đạo của sự phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.
(*) Tiến sĩ, Trưởng phòng Biên tập - Trị sự, Tạp chí Triết học, Viện Triết học,
Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.161
(2) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.56, 152.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.395.
(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.17, 97, 271, 317, 587
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t8, tr 226.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 5, tr. 65
(7) Hồ Chí Minh. Biên niên tiểu sử, t.8. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996,
tr.272.
(8) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 11, tr.134.
(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 11, tr.357.
(10) Xem: Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2007. Nguồn: