II
Đề tài triết học
JEAN FRANÇOIS LYOTARD VỚI THỰC
TẠI LUẬN VÀ TRI THỨC LUẬN
những sự kiện và không một sự lý giải nào có thể nắm bắt chính xác được sự
kiện. Các sự kiện luôn vượt qua những lý giải; mỗi lý giải luôn để lại hay bỏ
qua điều gì đó từ sự kiện. Do vậy, sự đa dạng hoá các thể loại mô tả có thể làm
biến mất cấu trúc thống trị trong văn bản và mở ra nhiều phương thức đọc, lý
giải và áp dụng cạnh tranh nhau.
Trong Trò chơi công bằng (Just Gaming, xuất bản năm 1979), J.F.Lyotard đã
đề cập tới vấn đề đa nguyên luận (paganism), khi nhấn mạnh sự khác biệt, đa
dạng trong cách tiếp cận thực tại. Theo ông, nếu thực tại được cấu thành từ
những sự kiện đặc thù thì không một quy luật phổ quát nào có thể lý giải từng
sự kiện một cách đầy đủ, công bằng được. Bởi lẽ, trong mỗi thực tại luôn tồn tại
những khác biệt không thể quy giản theo trật tự của sự vật. Thực tại phong phú
hơn lý luận và do vậy, cần phải tiếp cận sự kiện trong tính toàn vẹn, nguyên
trạng của chúng, tránh quy giản chúng về cái phổ quát. Với quan niệm này,
J.F.Lyotard cho rằng, mọi diễn ngôn đều là những tự sự, trần thuật (narrative);
mọi lý thuyết, quy luật đều chỉ là tập hợp những câu chuyện. Từ đó, ông phủ
nhận các diễn ngôn tự tuyên xưng đặt trên nền tảng chân lý, đồng thời bác bỏ ý
niệm về siêu diễn ngôn (đại tự sự, siêu tự sự - metanarrative), bác bỏ những lý
thuyết phổ quát được xem là cơ sở cho sự phán quyết mọi tình huống (triết học
Cantơ, Hêghen và Mác). J.F.Lyotard cho rằng, đa nguyên luận là sự đáp trả phù
hợp nhất đối với khát vọng công bằng. Đó là sự từ bỏ những phán quyết phổ
quát đơn nhất bằng cách sử dụng những phán quyết cụ thể khác nhau, từ bỏ
những sơ đồ lý thuyết mang tính quy luật và có thể áp dụng cho mọi tình huống
bằng cách sử dụng các lý thuyết có thể áp dụng cho từng tình huống cụ thể.
Rằng, một sự công bằng trong những cách tiếp cận đa dạng luôn đòi hỏi một sự
tiếp cận đa dạng về những cái công bằng; và đa nguyên luận chính là nỗ lực
đưa ra các phán quyết về những vấn đề chân, thiện, mỹ mà không cần phải có
những chuẩn mực được định hướng trước.
Đa nguyên luận bác bỏ mọi chuẩn mực phán quyết phổ quát, nhưng con người
cần phải phán quyết vì đòi hỏi của sự công bằng; vậy thì phán quyết sẽ như thế
nào, nếu không có những chuẩn mực? J.F.Lyotard gợi lại hai phương án của
dựa trên những câu chuyện kể dưới hình thức nghi lễ, âm nhạc, điệu nhảy,…
Tri thức tự sự không cần đến sự hợp thức hoá bên ngoài. Sự hợp thức hoá của
nó luôn mang tính nội tại, được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác qua
những người kể khác nhau và trong quá trình đó, không hề xuất hiện một sự
hoài nghi nào về sự tồn tại của nó. Ông viết: “Chúng tôi đã nói rằng cái sau (tri
thức tự sự - ND.) không coi trọng lắm vấn đề hợp thức hoá của mình; nó khẳng
định chính mình thông qua dụng học của việc trao truyền lại của mình, cho nên
không phải viện đến lập luận hay tiến hành chứng minh”(1). Tuy nhiên, đối với
tri thức khoa học, vấn đề hợp thức hoá (legitimation) luôn xuất hiện. Một trong
những đặc trưng nổi bật nhất của tri thức khoa học là nó chỉ bao hàm những
phát ngôn sở thị (denotative utterances), trong khi tri thức tự sự bao hàm nhiều
loại phát ngôn (sở thị (denotative), chỉ thị (prescriptive), thực hiện
(performative)). Nếu như mọi tri thức tự sự đều tự hợp thức hoá thì tri thức
khoa học phải cần đến những chuẩn mực khoa học nhất định để được hợp thức
hoá, trong đó bằng chứng và sự đồng thuận của các chuyên gia là hai nhân tố
quyết định sự hợp thức hoá tri thức khoa học. J.F.Lyotard viết: “Cùng với khoa
học hiện đại, có hai thành tố mới xuất hiện trong hệ vấn đề hợp thức hoá. Trước
hết, để trả lời câu hỏi: làm thế nào chứng minh được bằng chứng? hay, chung
hơn: ai quyết định những điều kiện của chân lý? người ta từ bỏ việc tìm kiếm
siêu hình học về một bằng chứng đầu tiên hay về một quyền uy siêu việt, và
thừa nhận rằng các điều kiện của tính chân lý, tức là các luật chơi của khoa học,
là ở ngay bên trong trò chơi này và không thể nào được xác lập khác hơn là
trong tranh luận mà bản thân phải mang tính khoa học, và rằng không có bằng
chứng nào khác về tính đúng đắn của các quy tắc ngoài việc chúng được hình
thành trên cơ sở sự đồng thuận của các chuyên gia”(2). Nếu tri thức tự sự
thường bắt nguồn từ những vị anh hùng có công lao to lớn đối với cộng đồng,
thì tri thức khoa học bắt nguồn từ những thiên tài khoa học, những người khám
phá ra chân lý khoa học. Cơ sở phân biệt giữa tri thức tự sự và tri thức khoa học
là điểm cơ bản trong tri thức luận, J.F.Lyotard cho rằng, một trong những đặc
trưng của thời hậu hiện đại là sự lấn át của tri thức khoa học đối với tri thức tự
được đặt ra một cách khác. Đại tự sự mất đi tính đáng tin của nó, bất kể nó
được xếp vào phương cách nhất thể hoá nào: tự sự tư biện hoặc tự sự giải
phóng”(4). Coi cái hợp thức hoá khoa học ngày nay là tiêu chuẩn hiệu quả thực
hiện (performativity), J.F.Lyotard gọi đó là “tiêu chuẩn công nghệ”
(technological criterion) - tỷ lệ đầu vào/đầu ra hiệu quả nhất. Những biến đổi kỹ
thuật và công nghệ trong những thập niên vừa qua và sự phát triển của chủ
nghĩa tư bản đã làm cho việc sản xuất tri thức ngày càng chịu ảnh hưởng của
mô hình công nghệ. Do phải trải qua cuộc cách mạng công nghiệp, tri thức đã
xuất hiện trong các bài toán kinh tế và trở thành một yếu tố mới của lực lượng
sản xuất. Và, trong thời hậu hiện đại, tri thức ngày càng trở thành lực lượng sản
xuất chủ yếu đến mức, trong tương lai, sự tranh giành quyền làm chủ tri thức và
thông tin có thể dẫn tới chiến tranh.
Coi sự thay đổi vị trí tri thức theo tiêu chuẩn hiệu quả thực hiện là sự thương
mại hoá tri thức (mercantilization of knowledge), J.F.Lyotard cho rằng, ở thời
hậu hiện đại, tri thức đã trở thành hàng hoá (commodity); nó được sản xuất ra
nhằm để bán và được tiêu thụ như nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất
mới. Ông viết: “Tri thức đang và sẽ được sản xuất ra để đem bán, nó đang và sẽ
được tiêu dùng để có thêm giá trị trong một tiến trình sản xuất mới: trong cả hai
trường hợp đều là để được trao đổi. Nó thôi không còn là mục đích riêng đối
với chính mình, nó mất đi “giá trị sử dụng” của mình”(5).
Với xu hướng thương mại hoá ngày càng mạnh mẽ, tri thức trong thời hậu hiện
đại không chỉ mất đi giá trị chân lý, mà cả động cơ của sự sản xuất tri thức cũng
không còn là khát vọng tìm kiếm chân lý nữa. Quá trình tin học hoá
(computerization) và sự hợp thức hoá tri thức theo tiêu chuẩn hiệu quả thực
hiện đã dần xoá đi quan niệm coi sự hấp thụ tri thức là mục đích đào luyện trí
tuệ và tinh thần. Do vậy, trong tương lai không xa, giáo dục sẽ không còn được
thực hiện trọn gói một lần cho người học ở một độ tuổi nhất định như hiện nay,
mà thay vào đó, sẽ là một quá trình học tập liên tục để cập nhật thông tin, kỹ
thuật mới nhất nhằm phục vụ cho nghề nghiệp chuyên môn của mỗi người.
Trong xã hội hậu hiện đại, học tập sẽ trở thành một hoạt động kéo dài suốt đời,
Sự thay đổi vị trí của khoa học và công nghệ là một đặc trưng cơ bản của hoàn
cảnh hậu hiện đại. Sự sụp đổ của các siêu tự sự đã làm nảy sinh các “trò chơi
ngôn ngữ” đa dạng, vô ước, mà khoa học cũng chỉ là một trong những trò chơi
đó. Sự xuất hiện các “trò chơi ngôn ngữ” mới đã thể hiện rõ quan niệm của
J.F.Lyotard về thực tại bao gồm nhiều sự kiện đặc thù, kỳ dị, đòi hỏi nhiều cách
lý giải khác nhau. Với ông, sự phát triển của tư bản, khoa học và công nghệ
thông qua sự hợp thức hoá theo hiệu quả thực hiện chính là một mối đe doạ, là
“chủ nghĩa khủng bố” - sự đe doạ loại trừ việc tham gia một “trò chơi ngôn ngữ”.
Nguyên lý hợp thức hoá đã vận hành một cách có hiệu quả trong chủ nghĩa tư
bản và đang cố gắng trở thành cái chi phối mọi thứ. Khoa học và công nghệ là
những ứng viên sáng giá cho nỗ lực đó, bởi sự đóng góp của chúng vào sự phát
triển của tư bản là điều không thể bác bỏ. Tiêu chuẩn hiệu quả thực hiện có thể
là sự hợp thức hoá phù hợp đối với công nghệ, nhưng đối với khoa học thì
không. Khuynh hướng của khoa học hậu hiện đại là sự đề xuất những ý tưởng
lệch chuẩn, nghiên cứu những cái bất ổn định trong hệ thống, như thuyết fractal
của Benoit Mandelbrot, thuyết tai biến của René Thom… Với tính chất loại trừ
cao, tiêu chuẩn hiệu quả thực hiện không thể nắm bắt chính xác những kiểu tri
thức được hình thành ở các khoa học hậu hiện đại (postmodern sciences). Nếu
xem khoa học là một “trò chơi ngôn ngữ” thì tiêu chuẩn hiệu quả thực hiện
hoàn toàn không thích hợp. Nó chỉ khiến khoa học lệ thuộc vào tư bản. Sự xâm
nhập tiêu chuẩn hiệu quả thực hiện vào khoa học gắn liền với sự xuất hiện của
tất định luận (determinism) - cái cho phép tiên đoán và tính toán các giá trị đầu
vào/đầu ra. Với sự hợp thức hoá bằng nghịch luận, khoa học hậu hiện đại quan
tâm tới những cái không thể quyết định một lần là xong, tới các giới hạn của
điều khiển chính xác, những xung đột được đặc trưng bởi thông tin không đầy
đủ, những cái gãy khúc, tai biến,… nhằm xoá bỏ tiêu chuẩn hiệu quả thực hiện
dưới dạng tất định luận. Khoa học được coi là sự phát triển không mang tính
tiệm tiến về phía một tri thức hợp nhất, mà theo cách gián đoạn và nghịch lý,
thay thế hệ chuẩn cũ bằng những cái mới. Có thể khoa học đang phải trải qua
một sự dịch chuyển hệ chuẩn, từ tiêu chuẩn hiệu quả thực hiện sang tiêu chuẩn
lý tính, như cảm xúc, khát vọng cũng luôn xuất hiện để phá vỡ những sơ đồ tư
duy lý tính.
Những giới hạn của lý tính và phản ánh được J.F.Lyotard thể hiện trong “Diễn
ngôn, hình ảnh”, xuất bản năm 1967. Sự phê phán lý tính và sự phản ánh đã
làm dịch chuyển triết học hậu hiện đại của J.F.Lyotard từ sự tập trung vào
những động cơ hình ảnh và dục năng phá vỡ hệ thống sang sự phân tích tính vô
ước trong ngôn ngữ và những giới hạn của năng lực lý tính. J.F.Lyotard đã vay
mượn ý tưởng “trò chơi ngôn ngữ” của Wittgenstein để chỉ rõ vì sao lý tính và
sự phản ánh không thể trở thành toàn thể hoá. Theo ông, sự cáo chung của siêu
tự sự có nghĩa là, không một lý thuyết phổ quát nào có thể lý giải được mọi cái.
Hoàn cảnh hậu hiện đại được cấu thành từ những “trò chơi ngôn ngữ” phân
mảnh đã gắn kết với những hình thức vô ước của cuộc sống. Ngôn ngữ được
cấu tạo từ sự đa dạng các cơ chế biện minh vốn không thể phiên dịch qua lại
được. Một số là sở thị, số khác là chỉ thị… Chúng không có các tiêu chuẩn so
sánh bên ngoài, giữa chúng là sự khác biệt, một sự khác biệt không thể hoà giải
được. Do vậy, trong triết học của J.F.Lyotard, lý tính và sự phản ánh là những
giới hạn cố định, và do tính vô ước của “trò chơi ngôn ngữ”, lý tính không thể
hiểu được mọi cái qua một hệ thống phản ánh. Trong triết học hậu hiện đại, các
sự kiện được phân tích dưới dạng các phát ngôn và do vậy, chúng luôn vượt qua
sự phản ánh, bởi không một hệ thống phản ánh nào có thể lý giải cho mọi phát
ngôn.
Nhìn chung, mặc dù còn mang tính võ đoán và chưa thật sự thuyết phục khi
đồng nhất các học thuyết triết học phổ quát với các đại tự sự, quy mọi tri thức
về các phát ngôn ngôn ngữ, xoá nhoà ranh giới phân biệt có tính bản thể giữa
khoa học với truyện kể, song có thể nói, J.F.Lyotard đã đưa ra những kiến giải
mới về vấn đề tri thức và cách tiếp cận đối với thực tại trong hoàn cảnh xã hội
hậu hiện đại. Đó là cơ chế của sự hợp thức hoá tri thức, vạch rõ sự độc quyền
khoa học dưới sức mạnh của tư bản; đồng thời chỉ ra những mối hoạ trong
nghiên cứu trước sự chi phối của tiêu chuẩn hiệu quả thực hiện, gợi mở hướng
đi mới cho hoạt động nghiên cứu và giáo dục, đề xuất cách tiếp cập đa chiều