Đề tài triết học " QUAN NIỆM CỦA HÊGHEN VỀ XÃ HỘI CÔNG DÂN " - Pdf 21


Đề tài triết học
QUAN NIỆM CỦA HÊGHEN VỀ XÃ
HỘI CÔNG DÂN

QUAN NIỆM CỦA HÊGHEN VỀ XÃ HỘI CÔNG DÂN NGUYỄN ĐÌNH TƯỜNG(*)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một cách khái quát quan niệm của
G.V.Ph.Hêghen về xã hội công dân (xã hội dân sự), về các mối quan hệ kinh tế
của xã hội công dân cũng như cơ cấu đẳng cấp và biện chứng của xã hội công
dân. Theo tác giả, Hêghen đã đứng trên cơ sở của chủ nghĩa duy tâm khách
quan, thần bí để xem xét mối quan hệ giữa xã hội công dân và nhà nước, coi
nhà nước là cái có trước, là cơ sở và động lực của xã hội công dân. Vì vậy, có
thể nói, quan niệm của Hêghen về xã hội công dân nói riêng và triết học của

nhà nước.
Khái niệm xã hội công dân
Hêghen đã xác định xã hội công dân như là sự tổng hợp những điều kiện vật
chất của đời sống xã hội, là hệ thống những nhu cầu dựa trên chế độ tư hữu, là
những quan hệ tài sản, pháp luật và đẳng cấp. Về điều này, C.Mác cho rằng,
theo cách của người Anh và người Pháp thế kỷ XVIII, Hêghen đã gộp toàn bộ
những điều kiện sinh hoạt vật chất lại và gọi chung là xã hội công dân. Hêghen
nói, “xã hội công dân là mối liên hệ giữa các thành viên với tư cách là cái riêng
độc lập trong tính chung hình thức, là mối liên hệ thông qua nhu cầu của các
thành viên đó, thông qua các thiết chế pháp luật là phương tiện bảo vệ cá nhân và
sở hữu”(1). Đồng thời, ông coi xã hội công dân là lĩnh vực những điều kiện sinh
hoạt vật chất, là sản phẩm có tính chất tự nhiên, trong đó các cá nhân ràng buộc
với nhau thông qua những lợi ích vật chất ích kỷ.
Với quan niệm như vậy, Hêghen rút ra hai đặc điểm cơ bản của xã hội công dân:
Thứ nhất, trong xã hội công dân từng cá nhân cụ thể là mục đích của chính
mình, nghĩa là hoạt động của nó nhằm vào việc đáp ứng những nhu cầu riêng tư.
Thứ hai, từng cá nhân cụ thể chỉ có thể đáp ứng được mục đích của mình thông
qua quan hệ với những cá nhân khác.
Như vậy, trong xã hội công dân, những người khác chỉ là phương tiện để từng
cá nhân cụ thể đạt được mục đích riêng của mình. Hêghen cho rằng, “Trong xã
hội công dân, mỗi người đều là mục đích đối với mình, mọi người khác thực chất
là hư vô đối với nó. Nhưng nó không thể đạt được tổng số các mục đích của mình
nếu thiếu quan hệ với người khác. Do vậy, những người này thực chất chỉ là
phương tiện cho mục đích riêng. Nhưng mục đích riêng cũng đem lại cho nó hình
thức của cái chung và tự đáp ứng thông qua quan hệ với những mục đích khác,
nhờ đó mà nó cũng đồng thời đáp ứng những lợi ích của người khác”(2).
Như vậy, xã hội công dân là lĩnh vực để thực hiện những mục đích riêng của các
cá nhân, còn những người khác chỉ có ý nghĩa như là phương tiện để cá nhân đạt
được mục đích đó. Theo đó, mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng được thiết
lập và xuyên suốt toàn bộ đời sống của xã hội công dân. Trong hoạt động của

tự do. Xã hội đó không phải là cái gì khác, mà chính là xã hội tư sản. Ở đây,
Hêghen đã nhận thấy một cách sâu sắc sự xuất hiện của xã hội công dân trong
thời đại chủ nghĩa tư bản, ở những nước tư bản.
Khi khẳng định tính hợp pháp của những mối quan hệ kinh tế được xây dựng
trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất của xã hội công dân, Hêghen đã đối
lập lại với triết học xã hội của Platôn và với những nhà tư tưởng phản động của
chế độ phong kiến. Ông đã phê phán tư tưởng chống lại sở hữu tư nhân, chủ
nghĩa bình quân cũng như khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của J.Rútxô. Ngoài
ra, quan niệm của Hêghen về xã hội công dân cũng chống lại học thuyết của
Phíchtơ về “Nhà nước thương mại đóng kín”.
Những mối quan hệ kinh tế của xã hội công dân
Trong học thuyết về xã hội công dân, Hêghen đã đề cập đến những vấn đề có
liên quan đến lĩnh vực đời sống kinh tế, cũng như những vấn đề thuộc về pháp
luật. Đặc biệt, ông đã đi sâu nghiên cứu những điều kiện sinh hoạt vật chất,
trước hết là những mối quan hệ kinh tế của xã hội công dân. Khi trình bày quan
niệm về xã hội công dân, Hêghen đã nghiên cứu luận điểm có tính chất đặt nền
tảng không phải theo lối suy diễn trừu tượng, mà trực tiếp từ kinh tế chính trị
học.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh tế chính trị học, Hêghen đã rút ra kết luận rằng,
trong xã hội công dân mỗi người đều là mục đích đối với mình, còn những
người khác thực chất chỉ là phương tiện cho mục đích riêng. Nhưng nhờ có mối
quan hệ với những người khác mà việc thực hiện mục đích riêng mang một hình
thức chung, vừa thoả mãn nhu cầu của cá nhân, vừa thoả mãn quyền lợi của
những người khác.
Mặc dù xác định xã hội công dân là sự tổng hợp những điều kiện vật chất của
đời sống xã hội và coi hệ thống những mối quan hệ kinh tế - xã hội là xã hội
công dân, song với lập trường duy tâm, Hêghen đã giải thích sự tổng hợp những
mối quan hệ kinh tế như là hệ thống những mối quan hệ đạo đức giữa các cá
nhân và xã hội. Tương tự như vậy, kinh tế chính trị học được ông hiểu như là
khoa học về những quy luật kinh tế của xã hội công dân, mà ở một mức độ nào

Khai sáng. Cùng với nền triết học này, nó đã chống lại mọi chính sách ngu dân
và chế độ gia trưởng.
Như đã nêu trên, tính chất của những nhu cầu và sự thoả mãn chúng là yếu tố
đầu tiên trong tam đoạn thức về “hệ thống nhu cầu”, còn tính chất “lao động”
được coi là yếu tố thứ hai của hệ thống này. Cũng cần phải nhấn mạnh là,
Hêghen đã xem xét sự phát triển của văn hoá gắn liền một cách chặt chẽ với
hoạt động lao động và sự tiến bộ của nó. Ông đã từng chỉ ra rằng, thông qua lao
động, mỗi con người trong nhu cầu của mình có mối quan hệ chủ yếu với những
sản phẩm của những con người khác. Chính lao động đã phân loại một cách trực
tiếp vật liệu tự nhiên để đáp ứng những nhu cầu đa dạng này. Hêghen cho rằng,
nếu “văn hoá lý luận” được phát triển trên cơ sở sự phong phú của những đối
tượng được con người quan tâm, thì “văn hoá thực tiễn” xuất hiện ngay trong
quá trình lao động. Văn hoá này được thể hiện qua những kỹ năng nghề nghiệp
và trình độ tay nghề cao, cũng như qua thói quen và nhu cầu lao động. Đồng
thời, ông đã chỉ ra vai trò quan trọng của sự phân công lao động đối với việc
nâng cao năng suất lao động và tăng cường sự khéo léo của người lao động. Ở
đây, Hêghen đã nhận thấy “việc phân công lao động sẽ làm cho lao động có tính
chất cơ học hơn”(5), nhờ đó mà nó chuẩn bị điều kiện để thay thế lao động cơ
học bằng máy móc.
Yếu tố cuối cùng trong tam đoạn thức của “hệ thống nhu cầu” của là tài sản.
Theo Hêghen, tài sản công cộng được tạo ra bằng sự lao động tổng hợp, bằng sự
sáng tạo và những khả năng thực tiễn của mỗi người. Ngoài ra, ông còn xem xét
vấn đề phân phối tài sản công cộng giữa những thành viên của xã hội công dân
và sự phân chia chúng theo đẳng cấp. Điểm chủ yếu của những điều khoản về
tài sản là cơ sở lý tính cao nhất của sự bất bình đẳng giữa các thành viên của xã
hội công dân. Theo Hêghen, tính khách quan của pháp luật trong ý niệm không
những không gạt bỏ sự bất bình đẳng của con người trong xã hội công dân, mà
còn làm cho sự bất bình đẳng này được thiết lập một cách tự nhiên, được nảy
sinh ra từ tinh thần. Còn đối với Rútxô và những người kế tục ông thì yêu cầu
của sự bình đẳng trong lĩnh vực tài sản là điều hợp lý, hiển nhiên. Tuy nhiên,

nghiệp và lĩnh vực thương mại. Ở đây, Hêghen đã chú ý đến đẳng cấp công
nghiệp như là giai cấp tư sản với vai trò lãnh đạo trong hoạt động kinh tế cũng
như trong tính tích cực chính trị - xã hội của nó; đồng thời chỉ ra sự tiến bộ đã
đạt được trong việc đảm bảo về mặt pháp luật đối với tự do cá nhân và chế độ tư
hữu. Cùng với việc đặt ra những nhiệm vụ nhất định cho sự tiến bộ hơn nữa
trong lĩnh vực này, ông thừa nhận đẳng cấp công nghiệp là trụ cột của xã hội
công dân, thấy được ưu thế của xã hội công dân là chế độ tư hữu và tự do cá
nhân trong xã hội đó được pháp luật đảm bảo. Đồng thời, các thành viên của xã
hội công dân có quyền tìm kiếm toà án cho mình mà không phải lo sợ toà án
không công bằng như trong thời kỳ chuyên chế phong kiến. Gạt bỏ một cách
kiên quyết sự biểu hiện thô bạo bằng bạo lực trong việc xét xử, sự đàn áp tự do
và chuyên chế, Hêghen đã tuyên bố sự công bằng là một điều vĩ đại trong xã hội
công dân. Hơn nữa, ông còn đưa ra cơ sở triết học cho sự công bằng của các
công dân trước pháp luật, cho việc công bố mọi đạo luật, cho việc thực hiện
chúng phù hợp với những yêu cầu của tự do, của việc công khai thủ tục tố tụng,
cho việc thi hành án một cách nghiêm túc, phù hợp với những hoạt động của
cảnh sát và nhiệm vụ ủng hộ pháp luật. Theo Hêghen, cần phải loại bỏ những
biểu hiện xấu xa do sự chuyên quyền và bất hợp pháp của cá nhân ra khỏi
những hoạt động này. Có thể nói rằng, ngoài những hạn chế do lập trường tư
sản của Hêghen về phương diện pháp luật của xã hội công dân, thì những quan
điểm trên của ông là có tính chất tiến bộ và ở trong một phạm vi nhất định,
chúng đã thể hiện những nguyên tắc dân chủ xã hội.
Biện chứng của xã hội công dân
Hêghen đã từng đi sâu vào việc xem xét phương diện kinh tế của những mối
quan hệ tư bản chủ nghĩa, nhưng ông không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn
vốn có của chúng. Ngược lại, Hêghen nhận thấy rằng, “chừng nào xã hội công
dân tác động một cách thuận lợi” thì trong xã hội đó công nghiệp sẽ phát triển
và của cải xã hội tăng nhanh; đồng thời, trong điều kiện đó, một bộ phận đáng
kể quần chúng lao động lại nghèo đi. Từ đó, ông đưa ra kết luận: “Trong điều
kiện của cải dư thừa, thì xã hội công dân lại không đủ của cải, nghĩa là không có

đó ở bên ngoài xã hội công dân. Hơn nữa, ông còn ủng hộ chính sách xâm lược
các nước khác làm thuộc địa của giai cấp tư sản. (Xem tiếp >>> )
QUAN NIỆM CỦA HÊGHEN VỀ XÃ HỘI CÔNG DÂN (Tiếp theo)
NGUYỄN ĐÌNH TƯỜNG(*)

Như chúng ta đều biết, các nhà tư tưởng và triết học trước C.Mác đã đưa ra và
phân tích cơ sở, điều kiện tồn tại và bản chất của xã hội công dân. Nhưng
cũng phải khẳng định rằng, sự phân biệt xã hội công dân với nhà nước đã
được Hêghen thực hiện đầy đủ và sâu sắc nhất trong Triết học pháp quyền
của ông. Có thể nói, trong lịch sử triết học trước Mác, Hêghen là nhà triết học
đầu tiên nghiên cứu đầy đủ nhất mối quan hệ biện chứng giữa xã hội công
dân và nhà nước. Theo ông, cơ sở của sự phân biệt xã hội công dân với nhà
nước là quan niệm về xã hội và nhà nước như là các hiện tượng khác nhau có
những đặc điểm riêng. Trong quá trình nghiên cứu vấn đề này, Hêghen đã
chịu ảnh hưởng và có sự kế thừa những tư tưởng của các bậc tiền bối, đặc biệt
là Platôn, Arixtốt, Rútxô, Phíchtơ…
Hêghen cho rằng, gia đình, xã hội công dân và nhà nước là những giai đoạn
trong sự phát triển của “thực thể đạo đức”. Ở đây, ông đã coi nhà nước là mục
đích tự thân, là cái hợp lý tự nó và cho nó, trong đó nhà nước tự do đạt tới
pháp luật tối cao phù hợp với nó. Ngược lại với quan niệm của triết học Khai
sáng Pháp coi nhà nước phải phục vụ lợi ích của cá nhân, Hêghen cho rằng
nhà nước có ý nghĩa tuyệt đối bậc nhất đối với lợi ích của từng cá nhân cụ
thể, nó là sự thực hiện tự do đích thực trong thế giới. Theo Hêghen, nhà nước
thể hiện sự thống nhất của cái cá biệt và cái chung. Ở đây, cái chung hay ý chí
chung thể hiện ở pháp luật và các thiết chế của nhà nước, còn cái cá biệt hay
ý chí riêng là hình thức biểu hiện của ý chí chung. Ngoài ra, ông không chỉ
tuyên bố nhà nước là sự thực hiện tự do, mà còn là sự chu du của Thượng đế

đạo đức so với gia đình và xã hội công dân, Hêghen đã đặt nhà nước đứng
trên nấc thang phát triển cao hơn so với xã hội công dân và xã hội công dân
hoàn toàn phụ thuộc vào nhà nước. Hơn nữa, ông đã phân biệt nhà nước hiện
thực với nhà nước lý tưởng và cho rằng nhà nước hiện thực có thể xấu xa, còn
nhà nước lý tưởng là tốt đẹp, bởi nó là “Thượng đế hiện thực”.
Với cách tiếp cận như vậy, Hêghen đã đứng trên cơ sở của chủ nghĩa duy tâm
khách quan, thần bí để xem xét mối quan hệ giữa xã hội công dân với nhà
nước. Từ đó, ông khẳng định rằng nhà nước là cơ sở đích thực của xã hội
công dân, còn sự phát triển của xã hội công dân diễn ra sau sự phát triển của
nhà nước; rằng, nhà nước trong hiện thực nói chung là cái thứ nhất mà chỉ
trong phạm vi ấy thì gia đình mới phát triển thành xã hội công dân(11). Khi
đề cập đến tư tưởng của Hêghen về mối quan hệ giữa xã hội công dân và nhà
nước, C.Mác viết: “Gia đình và xã hội công dân được Hêghen coi là những
lĩnh vực của khái niệm nhà nước, là tính hữu hạn của nhà nước. Đó là cái nhà
nước đang phân chia bản thân thành những lĩnh vực ấy, lấy những lĩnh vực ấy
làm tiền đề và nhà nước làm việc đó chính là “để từ ý tưởng của hai lĩnh vực
ấy trở thành tinh thần hiện thực vô hạn của mình”(12). Ở đây, mối quan hệ
hiện thực giữa xã hội công dân và nhà nước đã bị đảo ngược. Đồng thời,
C.Mác cũng phê phán quan niệm của Hêghen coi nhà nước như là cơ sở và
động lực của xã hội công dân hoặc coi nhà nước đứng trên chế độ tư hữu.
Theo C.Mác, chế độ nhà nước trên thực tế là chế độ nhà nước của sở hữu tư
nhân, còn biện chứng của quan hệ giữa xã hội công dân và nhà nước thể hiện
ở chỗ, xã hội công dân đã sinh ra nhà nước, nhà nước là kết quả phát triển
lịch sử của gia đình và của xã hội công dân. Nhà nước nói chung không thể tồn
tại nếu thiếu sự tồn tại của gia đình và xã hội công dân. Chính sự phân tích một
cách biện chứng duy vật mối quan hệ hiện thực của xã hội công dân và nhà
nước như trên có ý nghĩa quyết định đối với C.Mác trong việc xây dựng học
thuyết duy vật lịch sử về nhà nước sau này.
Có thể khẳng định rằng, quan niệm của Hêghen về xã hội công dân đòi hỏi
chúng ta phải có sự đánh giá một cách lịch sử cụ thể. Quan niệm về xã hội

(10) Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp. Triết học pháp quyền của Hêghen.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002. tr.146.
(11) G.V.Ph.Hêghen. Sđd., t.VII., tr. 262.
(12) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995,
tr. 312 - 313.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status