Đề tài triết học " TƯ TƯỞNG CỦA V.I. LÊNIN VỀ TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY " - Pdf 21


- - -    - - - Đề tài triết học TƯ TƯỞNG CỦA V.I. LÊNIN VỀ TĂNG
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ Ý NGHĨA
CỦA ĐÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
TƯ TƯỞNG CỦA V.I. LÊNIN VỀ TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ Ý
NGHĨA CỦA ĐÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY

HOÀNG THÚC LÂN (*)
Nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ là giành chính quyền về
tay nhân dân, mà còn là sử dụng chính quyền cách mạng để cải tạo xã hội cũ,
xây dựng xã hội mới tốt đẹp. Xuất phát từ bản chất của cuộc cách mạng xã hội

thể thành công được nếu tính kỷ luật tự giác của giai cấp vô sản không thắng
được tình trạng vô chính phủ tự phát của giai cấp tư sản”(2).
Tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ rất khó khăn,
lâu dài và gian khổ. Việc giành chính quyền có thể tiến hành trong một thời gian
ngắn, nhưng sau khi đã giành được chính quyền, chúng ta phải mất rất nhiều
thời gian mới có thể giải quyết được đòi hỏi nâng cao năng suất lao động.
V.I.Lênin khẳng định: “Chúng ta nhận thấy ngay rằng nếu vài ba ngày cũng đủ
để giành được chính quyền nhà nước trung ương, và trong vài tuần lễ cũng có
thể dẹp tan được sự phản kháng quân sự (và sự phá hoại ngầm) của bọn bóc lột”
nhưng “vô luận thế nào… cũng mất nhiều năm mới giải quyết được vững chắc
nhiệm vụ nâng cao năng suất lao động”(3).
Trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười,
V.I.Lênin đã đưa ra các giải pháp phù hợp, hữu hiệu nhất nhằm phát triển kinh
tế - xã hội, tăng năng suất lao động. Đó là các biện pháp: xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật của nền đại công nghiệp; phát triển ngành sản xuất nhiên liệu,
máy móc, công nghiệp hoá chất; nâng cao trình độ học vấn và văn hoá cho quần
chúng nhân dân; nâng cao kỷ luật lao động và cường độ lao động. Bên cạnh đó,
để tăng năng suất lao động, theo V.I.Lênin, cần áp dụng chế độ trả lương theo
sản phẩm, phải tính toán cân xứng các ngành sản xuất kinh doanh để trả lương.
Ông còn chỉ rõ rằng, giai cấp công nhân phải học cách làm việc của giai cấp tư
sản; tiếp thu, kế thừa những tiến bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản; áp dụng
những chế độ kiểm kê, kiểm soát hoàn thiện nhất, sử dụng những chuyên gia tư
sản giỏi và cuối cùng trả lương cao cho họ. Theo V.I.Lênin, có như vậy chủ
nghĩa xã hội mới có thể thực hiện được bước tiến vượt bậc về kinh tế, tạo ra
năng suất lao động cao hơn năng suất lao động của chủ nghĩa tư bản.
V.I.Lênin còn nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của việc tổ chức thi đua, đặc
biệt là thi đua trong lĩnh vực kinh tế; đánh giá đúng thực chất và hiệu quả lao
động, phê phán và làm rõ những công xã nào hoạt động vô nguyên tắc, vô chính
phủ, lười biếng, vô trật tự, đầu cơ; khẳng định vai trò của kiểm kê, kiểm soát của
nhân dân đối với phát triển kinh tế, tăng năng suất lao động trong nền sản xuất ở

quản lý và lãnh đạo.
Có thể nói, tư tưởng của V.I.Lênin về tăng năng suất lao động có ý nghĩa to lớn
cả về mặt lý luận lẫn về mặt thực tiễn đối với các quốc gia lựa chọn con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng này giúp cho các Đảng Cộng sản và Nhà nước
xã hội chủ nghĩa xác định rõ nhiệm vụ, đường lối, chiến lược đúng đắn trong
thời kỳ quá độ cũng như trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản.
Nước ta bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xuất phát còn
thấp, hậu quả của chiến tranh hết sức nặng nề, lực lượng sản xuất thấp kém,
công cụ lao động thô sơ. Do vậy, tư tưởng của V.I.Lênin về tăng năng suất lao
động và các giải pháp để tăng năng suất lao động có ý nghĩa chiến lược quan
trọng. Đặc biệt, qua hơn 20 năm đổi mới, bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý của
chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có tư tưởng về thực hiện các biện pháp để tăng
năng suất lao động nhằm đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, tạo dựng
những cơ sở vật chất ban đầu cho chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu ban đầu
của 20 năm đổi mới khẳng định thêm những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Trên tinh thần cơ bản của V.I.Lênin về tăng năng suất lao động, Đảng và Nhà
nước ta đã tập trung vào những giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế - xã
hội, tăng năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân. Các giải pháp cơ bản
đó là:
Thứ nhất, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ dân trí, trình
độ tay nghề đối với người lao động; đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất.
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Mỗi đất nước chỉ có thể vươn tới đỉnh cao
của sự phát triển khi tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Nghị quyết Trung
ương hai khoá VIII của Đảng đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, có ý nghĩa
quyết định tới việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người, trên cơ sở đó
nâng cao hiệu quả và năng suất lao động xã hội. Hiện nay, Đảng ta tiếp tục quan
tâm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung, đào tạo người lao động

điều kiện cần thiết để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế - xã hội.
Thứ ba, giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân - tập thể - xã hội,
thực hiện công bằng xã hội.
Để tạo động lực thúc đẩy nền sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động,
chúng ta phải giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích, coi trọng những lợi ích
chính đáng của người lao động, thực hiện công bằng xã hội. Chỉ khi Nhà nước
có cơ chế, chính sách phù hợp, đảm bảo lợi ích cho nhân dân lao động mới tạo
được động lực để phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của người lao động
nhằm sản xuất ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Lợi ích là đòn bẩy tạo nên
động cơ hành động của con người. Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn trước đổi
mới, việc duy trì kiểu phân phối mang tính bình quân đã không phát huy được
vai trò to lớn của nguồn lực con người, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội và
cản trở sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước. Kể từ đổi mới tới
nay, Đảng và Nhà nước ta đã gắn nguyên tắc phân phối với sự phát triển của lực
lượng sản xuất, thực hiện đa dạng hoá các hình thức phân phối, trong đó lấy
phân phối theo hiệu quả sản xuất kinh doanh là chủ yếu. Chính sự đa dạng hoá
các hình thức phân phối đã khắc phục tình trạng cào bằng trước kia và tạo ra cơ
chế phù hợp tác động trực tiếp tới lợi ích của người lao động. Với cơ chế phân
phối mới, các cá nhân, tổ chức kinh tế có điều kiện, cơ hội phát huy năng lực của
mình nhằm tăng năng suất lao động, cống hiến ngày càng nhiều hơn cho xã hội.
Sự đa dạng hoá các hình thức phân phối đã hình thành phong trào lao động tự
giác, tích cực sâu rộng trong tất cả các thành phần kinh tế ở nước ta, thúc đẩy sự
phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Đảng và Nhà nước ta tạo mọi điều kiện cho các cá nhân, các tổ chức kinh tế, các
thành phần kinh tế tự do sản xuất kinh doanh làm giàu cho xã hội trong khuôn
khổ pháp luật. Dựa vào tài năng của mình cũng như những sự trợ giúp cần thiết
của Nhà nước, tất cả mọi người lao động đều có thể tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh, làm giàu cho bản thân và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội.

có vai trò đặc biệt quan trọng. Sự lãnh đạo của Đảng giúp cho nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường của nước ta không đi
chệch định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện gắn phát triển kinh tế với thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nhà nước thực hiện nhiệm vụ tổ chức, điều
hành và quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Về phương diện
kinh tế, sự quản lý của Nhà nước, một mặt, góp phần ngăn chặn và khắc phục
những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường; mặt khác, góp phần tạo ra hành
lang pháp lý thuận lợi thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển theo hướng dân
chủ, bình đẳng. Sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa không mang tính
chuyên quyền, độc đoán, mà luôn tạo mọi điều kiện để nhân dân tham gia vào
quản lý nhà nước và quản lý xã hội, giám sát các chủ thể sản xuất, kinh doanh,
làm cho nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển…
Nhà nước thực hiện đúng chức năng định hướng phát triển kinh tế - xã hội; tạo
lập khung pháp lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật; tạo môi
trường cạnh tranh lành mạnh trong phát triển kinh tế; đấu tranh chống tham
nhũng, ngăn chặn những tiêu cực trong sản xuất kinh doanh góp phần đưa nền
kinh tế nước ta vận hành đúng quỹ đạo.
Trong thời gian vừa qua, nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, đời sống
nhân dân từng bước được cải thiện và có mặt được nâng cao. Tuy nhiên, trong
bối cảnh toàn cầu hoá, nhất là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu,
nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn: tăng trưởng chưa
đồng đều, thiếu bền vững, chỉ chú trọng tăng về số lượng mà chưa thực sự nâng
cao chất lượng. Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền
kinh tế còn thấp. Uy tín và chất lượng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam chưa
cao, lực lượng sản xuất phát triển không đều, trình độ tay nghề người lao động
còn thấp, thiếu đội ngũ công nhân lành nghề. Việc khai thác các nguồn lực trong
nước còn chưa tương xứng với khả năng và yêu cầu; trình độ quản lý nền kinh
tế, quản lý lao động còn hạn chế; hiện tượng hàng giả, trốn thuế, cạnh tranh
không lành mạnh cộng với một số biểu hiện quan liêu, tham nhũng, bất công
vẫn còn tồn tại, gây cản trở sản xuất. Mặt khác, cải cách hành chính còn chậm,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status