Luận văn tốt nghiệp
Tổ chức công tác kế toán lao động, tiền
lương tại công ty Khai thác công trình
thuỷ lợi Mỹ Đức - Hà Tây
lao động mà nó được biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm phân phối cho
người lao động để bù đắp hao phí lao động cần thiết đã bỏ ra trong quá trình
sản xuất.
Qua quá trình thực tập tại công ty Khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ
Đức - Hà Tây. Được sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo, phòng kế toán
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
2
trong công ty, dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo ở trường. Em đã hoàn
thành chuyên đề này với 3 nội dung chính sau:
Phần I: Khái quát về tình hình hoạt động của doanh nghiệp (Công ty
khai thác công trình thuỷ lợi)
Phần II: Tình hình tổ chức quản lý công tác kế toán "Tiền lương và
các khoản trích theo lương"
Phần III: Phương hướng - nhận xét - đánh giá và kết luận.
Do khả năng còn nhiều hạn chế vì thế chuyên đề này sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô
giáo trong bộ môn chuyên ngành kế toán trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật
công nghiệp I - Hà Nội và sự đóng góp ý kiến của ban lãnh đạo, phòng kế
toán của Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức - Hà Tây.
Em xin chân thành cảm ơn!
Ngày 26 tháng 11 năm 2003
Sinhviên
Lê Thị Hồng Hà
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
3
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
4
163.000 người. Có tới 90% sống bằng nghề nông nghiệp, ngoài ra còn có
ngành nghề thủ công như dệt, trồng dâu nuôi tằm.
- Quá trình phát triển của công ty
+ Quá trình hoạt động và phát triển của công ty
Từ năm 1974 trở về trước huyện Mỹ Đức gồm có 2 hồ chứa nước, đó
là hồ Tuy Lai và hồ Quan Sơn (xây dựng từ năm 1959 với khả năng tưới
600ha và hai trạm bơm dầu Đức Môn và Kim Bôi) khả năng tưới 500 ha và
tiêu chủ yếu nước là tự tiêu ra sông đáy bằng các cống Đoan nữ (An Mỹ),
cống gánh (Phù Lưu Tế), cống đồng dầy (Đốc Tín) không có trạm bơm tiêu.
Việc quản lý công trình và điều hành do phòng thuỷ lợi đảm nhiệm.
Từ năm 1974 trở lại đây, được nhà nước đầu tư vốn mở rộng Hồ Quan
Sơn và Hồ Tuy Lai đồng thời xây dựng hồ mới Vĩnh An với tổng diện tích
cả 3 hồ theo thiết kế là: 11.410 m
3
nước. Năng lực tưới cho diện tích
1880ha. Một số trạm bơm đầu trở thành trạm bơm điện. Và xây dựng trạm
bơm Tân Độ, trạm bơm Bạch Tuyết, trạm bơm Hoà Lạc…
Từ năm 1978 đến nay thực hiện phương châm "nhà nước và nhân dân
cùng làm" công ty đã xây dựng được thêm nhiều trạm bơm vừa và nhỏ.
- Thực hiện nghị quyết và quá trình phát triển của nhà nước, công ty
khai thác công trình thuỷ lợi đã đạt được những thành tích đáng kể như sau:
+ Năm 1992: cá nhân và tập thể đạt danh hiệu cấp ngành:
Giám đốc: Tạ Đình Đầm
Tập thể: tổ văn phòng công ty
+ Năm 1993: UBND tỉnh tặng bằng khen thi đua sản xuất Bộ Thuỷ lợi
tặng bằng khen.
3. Tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức
a. Về lao động và thu nhập
* Về lao động
Để đáp ứng nhu cầu của công ty đồng thời hoàn thành tốt các chỉ tiêu
kế hoạch của đơn vị, công ty đã có một số lượng lao động là 135 công nhân
(43 là nữ). Trong đó có:
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
6
+ Kỹ sư : 8 người
+ Cao đẳng : 5 người
+ Trung cấp : 5 người
+ Công nhân : 110 người
+ Nhân viên : 2 người
+ Đại học : 5 người.
Là công ty nhà nước hoạt động công ích, để đứng vững trong nền kinh
tế thị trường hiện nay. Công ty rất cố gắng tìm tòi, học hỏi cũng như vận
dụng những kinh nghiệm của mình để phát triển công ty và đạt kết quả tốt
đã được tỉnh tặng bằng, giấy khen nhiều năm đạt danh hiệu thi đua xuất sắc
(kể từ 1991 đến nay).
* Về thu nhập lao động
Năm
Chỉ tiêu
1998 1999 2000 2001 2002
T
ổng quỹ
lương
- Tiền lương bình quân thể hiện quy mô của công ty được mở rộng.
Tiền lương bình quân tăng, từ 471.700đ (1998) lên tới 604.500đ (2002).
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
7
Mặc dù công ty luôn bị lỗ nhưng thường xuyên được nhà nước cấp bổ xung
để đảm bảo mức lương tối thiểu cho người lao động với hệ số là 1,1.
Đến nay công ty đã hoàn thành quy mô khai thác tài nguyên nước để
phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và môi trường.
Trong những năm thực hiện cơ chế mới, đời sống cán bộ công nhân
viên ngày một ổn định và nâng lên, người lao động ngày càng gắn bó với
công ty. Mức thu nhập bình quân của năm 2000 là 481.821
đồng/tháng/người; năm 2001 là 629.500 đồng/tháng/người; năm 2002 là
604.500 đồng/tháng/người.
Tổng thu nhập của công ty tăng, giảm không ổn định: năm 1998-1999
là tăng từ 2.610.237.900 đồng (1998) lên 2.638.256.200 đồng (1999), đến
năm 2001-2002 lại giảm xuống từ 2.332.783.980 đồng (2000) xuống
2.235.253.480 đ (2001).
Như vậy nguyên nhân sự tăng giảm không ổn định này là do năm
1998 bị lũ lụt, đến năm 1999 bị hạn hán kéo dài và năm 2000, 2001 lại bị
mất mùa.
- Thu nhập bình quân lúc tăng, lúc giảm, không ổn định là do mức giá
quy định của nhà nước có sự thay đổi. Năm 1998 quy định giá thu thủy lợi
phí là 1.600đ/kg thóc, năm 2001 là 1400đ/1kg thóc, năm 2002 là 1800đ/1kg
thóc.
b. Về cơ cấu ban giám đốc, phòng ban và các bộ phận sản xuất kinh
doanh của Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức - Hà Tây.
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức là đơn vị hạch toán kinh
tế độc lập theo nguyên tắc tự chủ về tài chính được nhà nước cấp vốn và cho
thường xuyên theo quyết định. Đồng thời giám sát mọi hoạt động kinh tế
phát sinh trong công ty, tình hình thanh toán nợ với khách hàng, tình hình
tiêu thụ, chi phí quản lý nguồn vốn, giúp giám đốc điều hành kiểm tra kiểm
soát hoạt động kinh tế của công ty, thanh toán tài chín, bảo quản lưu trữ
chứng từ.
+ Đội sửa chữa công trình: gồm 6 người, có nhiệm vụ sửa chữa nhỏ
các công trình như các công trình tưới, tiêu nội đồng.
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
9
Sửa chữa thay thế máy móc thiết bị hỏng và sửa chữa nhà làm việc
khu công ty hỏng, toàn bộ máy móc tổ chức quản lý của Công ty khai thác
công trình thuỷ lợi.
Các bộ phận sản xuất kinh doanh gồm 20 bộ phận
+ Trạm bơm Phú Yên
+ Trạm bơm Hùng Tiến
+ Trạm bơm Hội Xá
+ Trạm bơm Đốc Tín
+ Trạm bơm Bạch Tuyết
+ Trạm bơm Kim Bôi
+ Trạm bơm An Phú
+ Trạm bơm Hoà Lạc
+ Trạm bơm La Làng
+ Trạm bơm Cống Đắm
+ Trạm bơm Bãi Giữa
+ Trạm bơm Phù Lưu Tế
+ Trạm bơm Xuy Xá
+ Trạm bơm Tân Độ
+ Trạm bơm An Mỹ
CÔNG TY
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu tổng hợp đánh
giá hiệu quả quản lý lao động, tiền lương trong công ty, cũng như nhiều
doanh nghiệp khác từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường công ty đã gặp
không ít những khó khăn, thử thách, nhưng nhờ công ty có một đội ngũ cán
bộ công nhân viên nỗ lực và đã lần lượt vượt qua.
Hiện nay Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức đã đủ sức tưới
và tiêu cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của toàn huyện, đảm bảo đúng
thời vụ sản xuất cho bà con nông dân khi trời hạn hán hoặc những lúc bị lũ
lụt.
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
12
Chính vì vậy trong những năm gần đây doanh thu của công ty năm sau
cao hơn năm trước, sản xuất có hiệu quả. Nhìn vào một số chỉ tiêu của ba
năm liên tiếp trong bảng trên, bằng phương pháp so sánh ta thấy:
Một số kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời
gian gần đây
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
1 Tổng doanh thu 26.257.019.326
35.036.825.931
43.750.625.520
2 Tổng lợi tức trước thuế 10.427.126.093
13.256.728.590
16.560.241.938
3.303.513.348đ hay tăng 24,9%.
- Tổng lợi tức trước thuế năm 2001 so với năm 2000 tăng
2.829.602.497đ hay tăng 27,13%.
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
13
Nhận xét: Xét tổng quát năm sau so với năm trước thì tổng lợi tức
trước thuế tăng dần lên - nguyên nhân là do lợi nhuận từ hoạt động tài chính,
lợi nhuận hoạt động bất thường tăng dần do đó dẫn đến tổng lợi tức trước
thuế tăng.
* Số thuế phải nộp
- Số thuế phải nộp năm 2002 so với năm 2001 tăng 1.328.905.589đ
hay tăng 40,75%
- Số thuế phải nộp năm 2001 so với năm 2000 tăng 801.435.009đ hay
tăng 32,58%
Nhận xét: Năm sau so với năm trước tăng dần lên là do công ty xây
dựng thêm nhiều trạm bơm và mở rộng sản xuất kinh doanh.
* Lợi nhuận sau thuế
- Lợi nhuận sau thuế năm 2002 so với năm 2001 tăng 1.974.607.759đ
hay tăng 19,75%
- Lợi nhuận sau thuế năm 2001 so với năm 2000 tăng 2.028.168.488đ
hay tăng 25,45%
Nhận xét: Số thuế phải nộp nhìn chung năm sau cao hơn năm trước
nguyên nhân là do doanh thu tăng dẫn đến số thuế phải nộp năm sau cao hơn
năm trước ⇒ Lợi nhuận sau thuế cũng tăng.
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
14
CHƯƠNG II
15
* Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức tiền lương
có đặc điểm sau:
- Tiền lương gắn liền với người lao động và nền sản xuất của người
nông dân.
- Trong điều kiện hiện nay thì tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất
cấu thành nên giá thành của sản phẩm lao vụ dịch vụ, tiền lương được sử
dụng như một đòn bảy kinh tế quan trọng kích thích động viên người lao
động gắn bó với công việc phát huy sáng tạo trong sản xuất nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Tăng năng suất lao động thúc đẩy sản xuất phát
triển.
* Vai trò của lao động và tiền lương
- Về lao động
Bất kỳ doanh nghiệp nào dù ở lĩnh vực sản xuất thương mại hay dịch
vụ đều cần phải có một lượng lao động nhất định, bởi đây là những con
người quyết định đến số lượng, chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản
xuất ra cũng như quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Lao động không thể thiếu được khi chúng ta có đầy đủ máy móc, thiết
bị, có đủ nguyên vật liệu thì việc sản xuất làm ra những sản phẩm đó chính
là những người lao động.
Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức là một đơn vị
hoạt động công ích, người lao động đóng vai trò hết sức quan trọng, đối với
công ty là những người công nhân trực tiếp vận hành hệ thống máy móc để
tưới tiêu nước chống úng, chống hạn cho cây trồng, vì vậy mà người lao
động là những người không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Về tiền lương:
Do tiền lương là khoản thù lao trả cho người lao động để họ tái sản
xuất sức lao động để tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của
+ Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi thì tiền lương trực tiếp
trả cho người lao động được tính theo thời gian làm việc và mức lương tối
thiểu, hệ số cấp bậc của từng người.
Cụ thể lương trực tiếp của 1 công nhân vận hành máy móc như sau:
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
17
Tiền lương trực tiếp =
290.000 x 3
28;22
= 951.200 đ
* Tiền lương sản phẩm: là việc tính lương trả cho người lao động căn
cứ vào số lượng, chất lượng lao động mà họ làm ra hoặc sản phẩm sản xuất
hoàn thành hoặc có thể tính theo doanh thu thực hiện được trong kỳ.
+ Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi: Việc tính lương theo
sản phẩm (cá nhân) là không thực hiện vì đây là doanh nghiệp hoạt động
công ích.
* Phương pháp trả lương:
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi trả lương một lần vào cuối mỗi
tháng.
Bảng lương chức vụ quản lý doanh nghiệp
ĐVT: 1000đ
Hạng dn Hệ số - mức lương
Chức doanh Đặc biệt I II III IV
1. Giám đốc
- Hệ số
- Mức lương
6,72-7,60
1209,6 -
777,6 - 828,03,66 - 3,94
658,8 - 709,23,04 - 3,32
547,2 - 597,6Phân tích sự biến động của tổng quỹ lương ở các năm từ 1998 đến
2002 là không ổn định là do hai nhân tố:
+ Tiền lương bình quân
+ Số lượng người làm việc
Về tiền lương bình quân (các nhân tố ảnh hưởng)
+ Quan hệ giữa các trình độ lành nghề của người lao động với công
việc họ đảm nhận: hiệu quả công việc và thay đổi về chính sách tiền thưởng.
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
18
Kết luận chương II: Tóm lại vấn đề quản lý lao động và tiền lương tại
các doanh nghiệp nói chung và tại công ty nói riêng còn nhiều vấn đề cần
giải quyết. Như vấn đề giải quyết tiền lương, tiền thưởng cho các công nhân.
Tiền lương với mức lương tối thiểu như hiện nay phần nào đã đáp ứng được
nhu cầu cần thiết của công nhân, làm cho công nhân làm việc có phần tích
cực hơn từ đó tạo ra được nhiều lợi thế so sánh cho công ty cũng như làm
tăng doanh thu cho hoạt động của công ty.
Về vấn đề bố trí công việc, giờ làm cho công nhân cũng đã hợp lý từ
đó làm cho hoạt động của công ty cũng đã đi đúng kế hoạch đặt ra không có
động tiền lương đó là: phân công lao động chưa chặt chẽ, tiền lương được
trả cho CNV chưa hợp lý dẫn đến năng suất lao động chưa cao.
Thực tế cho thấy doanh thu năm 2002 đạt trên 40 tỷ đồng nhưng lợi
nhuận thu về chỉ gần 100 triệu đồng, một con số rất thấp chứng tỏ chi phí
cho quản lý lao động tiền lương là không thấp.
2. Với nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng như hiện nay công ty
muốn tồn tại và phát triển nhất thiết phải có biện pháp khắc phục kịp thơì
trong việc quản lý lao động tiền lương chưa hiệu quả.
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
20
II. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO QUẢN LÝ LAO ĐỘNG, TIỀN
LƯƠNG TẠI CÔNG TY
- Trong những năm gần đây ta thấy kết quả kinh doanh của công ty có
sự chuyển biến tích cực. Doanh thu và lợi nhuận của năm sau luôn cao hơn
năm trước, hàng năm đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Bên
cạnh những thành quả đạt được công ty cần quản lý lao động và tiền lương
phải tốt hơn nữa nhằm nâng cao năng suất lao động → nâng cao kết quả sản
xuất kinh doanh. Từ thực tế phân tích ở phần 2 (chương 2) em xin mạnh dạn
đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lao động tiền lương
ở công ty như sau:
* Về lao động
- Nâng cấp đổi mới máy móc thiết bị để người lao động đưa nước từ
sông ngòi vào đồng ruộng và quay ngược lại từ đồng ruộng ra sông ngòi một
cách nhanh nhất và có hiệu quả, nhất thiết doanh nghiệp phải có một đội ngũ
công nhân lành nghề, nhiệt tình trong công việc.
- Công ty nên phân cấp quản lý lao động đến từng bộ phận, từng tổ đội
sản xuất nhằm nâng cao tình thần trách nhiệm của mỗi người lao động.
- Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, khen thưởng và kỷ luật đối với mỗi
công nhân xuất sắc hoặc sai phạm, điều đó khuyến khích nưgời lao động
cán bộ ngành chuyên sản xuất khuyến khích thành lập hiệp hội nghề nghiệp
để hỗ trợ nhau trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tránh cạnh tranh không lành
mạnh giải quyết các vấn đề về môi trường, đổi mới công nghệ và thiết bị,
bồi dưỡng đào tạo thợ trẻ.
* Giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn hoá của người lao động là:
- Nâng cao trình độ của những người lao động bằng cách đẩy mạnh
công tác đào toạ - học hỏi công nghệ khoa học kỹ thuật.
- Tổ chức phân bổ lại số lao động trong công ty cho phù hợp với trình
độ và chuyên môn, phải cân đối lại số lao động có chuyên môn kỹ thuật giữa
cơ cấu đào tạo đại học, cao đẳng, THCN và công nhân kỹ thuật để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực bằng nhiều biện pháp cần nhanh chóng nâng tỷ lệ
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
22
lao động qua đào tạo lên, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo hiện nay
là 18-20% sau 5 năm nâng lên 30%.
II. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG TỒN TẠI CẦN KHẮC PHỤC
TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG
1. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý lao động tiền
lương.
- Nhờ có công tác quản lý lao động một cách hợp lý mà công ty đã
hoàn thành xuất sắc những kế hoạch, chỉ tiêu đã đặt ra.
+ Xây dựng được nhiều trạm bơm vừa và nhỏ.
+ Đưa nước tưới, tiêu kịp thời vụ.
+ Thu hút nhiều công nhân làm việc nhiệt tình, tăng năng xuất lao
động.
+ Việc tính và trả lương ở công ty đã thực hiện đúng nguyên tắc phân
bố theo lao động. Đây là bước quan trọng để tạo ra sự cân bằng trong xã hội
nói chung và ở công ty thuỷ lợi nói riêng.
+ Việc thanh toán lương ở công ty tiến hành kịp thời đã tạo ra đòn bẩy
hiệu quả cao đảm bảo công bằng xã hội là một vấn đề rất phức tạp và khó
khăn. Đối với phòng hành chính sự nghiệp của công ty KTCTTL đang áp
dụng hình thức trả lương căn cứ vào hệ thống ngành, bậc được xây dựng
trên cơ sở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và thâm niên công tác của CB,
CC với mức lương tối thiểu được nhà nước quy định và điều chỉnh khi có
những biến nhiều về giá cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu (theo nghị định
số 25/cp ngày 25/5/1993 của chính phủ về quy định tạm thời chế độ tiền
lương mới của công chức viên chức hành chính sự nghiệp)
Vấn đề đặt ra là mức trả lương như hiện nay của công ty cao hay thấp
và cách trả lương đã hợp lý chưa.
Trong thực tế công ty có tình trạng trả lương cho cùng 1 đối tượng
hưởng lương như nhau, người làm không hết việc người khác lại nhàn rỗi.
Do trình độ hạn chế, lãnh đạo công ty không biết giao cho làm việc gì khiến
người đó tìm việc ngoài để kiếm thêm thu nhập.
Báo cáo quản lý Lao động và Tiền lương
Lê Thị Hồng Hà - KT 44A
24
- Với các đối tượng này thì tiền lương họ hưởng dù ở mức tối thiểu
cũng là quá cao so với lao động mà họ cống hiến cho công ty, còn những cá
nhân toàn tâm với công việc của công ty cũng không nhận được mức thù lao
cao hơn, đây là điều bất hợp lý trong cách trả lương của công ty.
* Định hướng của doanh nghiệp trong thời gian tới.
- Nguồn lao động.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong 10 năm tới là đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính vì vậy mà công ty
KTCTTL- Mỹ Đức đang xây dựng một đội ngũ lao động có trình độ chuyên
môn hoá cao. Vì nhận biết được tầm quan trọng của đội ngũ lao động là lực
lượng cơ bản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp có hiệu quả.
Dự tính đến năm 2005 số công nhân của công ty sẽ tăng gấp đôi so với