Tiểu luận môn Kinh tế vi mô " mô hình độc quyền nhóm ngành viễn thông " potx - Pdf 21

Tiểu luận môn Kinh tế vi mô "
mô hình độc quyền nhóm ngành
viễn thông "
Page | 1
MỤC LỤC
Page | 2
Mở đầu:
Thế giới đang bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của công nghệ thông tin
và hội nhập toàn cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài qui luật phát triển chung
của Thế Giới, công nghệ thông tin và công nghệ toàn cầu cung không ngừng tiến
bộ và phát triển. Trong vài năm trở lại đây mạng máy tính toàn cầu Internet và
mạng điện thoại di động đã xâm nhập và phát triển rộng rãi trong lĩnh vực thông
tin ở Việt Nam.Đặc biệt, mạng điện thoại di động tuy mới xâm nhập vào thị trường
Việt Nam trong 10 năm trở lại đây nhưng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
cuộc sống hằng ngày của người dân.
Từ khi mới xâm nhập thị trường Việt Nam thị trường dịch vụ điện thoại di động
chỉ có Công ty VNPT nắm giữ thị trường thông qua hai mạng điện thoại là
VinaPhone và mạng MobiFone.Tháng 10 năm 2004Công ty Viễn Thông Quân Đội
kinh doanh dịch vụ điện thoại di động với tên gọi Viettel.Với các chiến lược kinh
doanh hiệu quả, các công ty viễn thông di động này đã rất thành công khi hoạt
động tại Việt Nam và tạo nên thế độc quyền nhóm cùng nhau chi phối thị trường.
Vậy thế nào là độc quyền nhóm?
Mô hình độc quyền nhóm khá phổ biến trên thế giới, nhất là ở lĩnh vục cung cấp
dịch vụ viễn thông di động.Trong mô hình này, có một vài nhà cung cấp chủ yếu
trên thị trường nhưng chiếm lĩnh phần lớn thị trường,doanh nghiệp độc quyền
nhóm thường có quy mô tương đối so với qui mô chung của thị trường.Điều này
cho phép nó có một quyền lực thị trường hay khả năng chi phối giá đáng kể.Sản
phẩm và giá cả của các hãng độc quyền nhóm tương đối đồng đều và có đường cầu
khá dốc vì họ có quyền đặt giá chứ không phải người chấp nhận giá.
Do thị trường độc quyền nhóm chỉ có một số ít người bán, nên đặc trưng của độc
quyền nhóm là sự căng thẳng giữa hợp tác và lợi ích cá nhân. Các nhà độc quyền

900/1800 với thương hiệu MobiFone, đánh dấu cho sự khởi đầu của ngành thông
n di động Việt Nam. Lĩnh vực hoạt động của MobiFone là tổ chức thiết kế xây
dựng, phát triển mạng lưới và triển khai cung cấp dịch vụ mới về thông n di
động.
VinaPhone:
Năm 1996, mạng di động VinaPhone thuộc Tập đoàn VNPT ra đời với một sứ
mệnh to lớn là xã hội hóa, phổ cập hóa các dịch vụ thông tin di động. Thực hiện sứ
mệnh này, năm 1999 VinaPhone là mạng tiên phong phủ sóng trên 100% các tỉnh,
thành phố, sau đó 7 năm, tháng 6 năm 2006, VinaPhone lại một lần nữa là mạng di
động đầu tiên thực hiện phủ sóng 100% số huyện trên địa bàn cả nước kể cả các
huyện miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Nỗ lực đầu tư, mở rộng vùng phủ
sóng của VinaPhone không chỉ đem lại ý nghĩa lớn trong việc góp phần đảm bảo
an ninh quốc phòng của đất nước, mà còn giúp cho người dân trên khắp mọi miền
đất nước, đặc biệt là bà con ở các vùng xa xôi hẻo lánh được tiếp cận với các dịch
vụ thông tin liên lạc di động tiện ích và thiết thực.
Page | 5
Viettel:
Năm 1989, Công ty Ðiện tử thiết bị thông tin, tiền thân của Tổng Công ty Viễn
thông Quân đội (Viettel) được thành lập.Năm 1995 đổi tên thành Công ty Ðiện tử
Viễn thông Quân đội (tên giao dịch là Viettel).Năm 2004 khai trương dịch vụ điện
thoại di động vào ngày 15/10/2004 với đầu số 098.Năm 2008- Nằm trong 100
thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới và hiện là công ty viễn thông di động lớn
nhất Việt Nam, phủ sóng trên toàn bộ lãnh thổ .
2.Thực trạng ngành viễn thông di động Việt Nam:
Bộ Thông tin và Truyền thông cho hay, Sách trắng là bức tranh toàn cảnh và sát
thực nhất về hiện trạng phát triển của ngành công nghệ thông tin – truyền thông
Việt Nam. Năm 2010 là năm thứ ba liên tiếp, Bộ tiến hành thu thập số liệu và tổng
hợp thông tin để xây dựng Sách trắng trong lĩnh vực này.Theo số liệu công bố
trong Sách trắng, tính đến cuối tháng 12/2010, cả nước đã có hơn 14,37 triệu số
thuê bao điện thoại cố định; 111,5 triệu thuê bao điện thoại di động.

“cuộc cách mạng” trong lĩnh vực viễn thông di động tại Việt Nam.

Khi đã là mạng di động có vùng phủ sóng rộng nhất, viettel lại hướng đến sự thay
đổi về chính sách giá cước. Vào năm 2004, giá cước di động ở nước ta đã có xu
hướng giảm xuống, tuy nhiên vẫn ở mức cao so với thu nhập bình quân của người
dân. Hơn nữa, các mạng di động vẫn duy trì cách tính cước theo block 1 phút + 1
phút, chưa thực sự quan tâm đến lợi ích thiết thực của khách hàng. Từ nghĩ khác
đến làm khác, viettel liên tục đưa ra những chương trình khuyến mại hấp dẫn, giảm
dần giá cước và tính cước dịch vụ theo block 6 giây + 1 giây. Với cách làm “khác
người” này cộng thêm sự sáng tạo và đột phá cho ra đời nhiều gói sản phẩm nhằm
vào hành vi tiêu dùng của khách hàng như Economy, Tomato, Ciao, Cha và con,…
số lượng khách hàng của viettel tăng lên từng ngày, chỉ sau 4 năm hoạt động,
viettel đã tạo dựng cho riêng mình một “đại dương xanh” khổng lồ với 25 triệu
khách hàng.
Page | 8
VinaPhone:
Viettel đã chọn cách làm cho sản phẩm của mình hấp dẫn hơn bằng cách tung ra
các chương trình khuyến mại. Nó kéo theo hàng loạt chương trình khuyến mại của
các hãng khác. Riêng VinaPhone, trong nhiều trường hợp cách mạng này khác biệt
hoá sản phẩm chính là nhờ vào chất lượng dịch vụ ưu việt hơn hẳn các đối thủ
cạnh tranh.Năm 2008, VinaPhone là mạng được bình chọn là có nhiều dịch vụ giá
trị gia tăng nhất.Đây là vũ khí cạnh tranh của VinaPhone và được cho là một
hướng đi mới để nâng cao khả năng cạnh tranh của mạng này.Tiếp nối tinh thần đó
của năm 2008, nửa đầu của năm 2009 mạng này tiếp tục cho ra mắt nhiều dịch vụ
tiện ích mới hướng tới người dùng. Có thể kể đến ở đây như dịch vụ Say2sent cho
phép người dùng có thể gửi tin nhắn thoại với độ dài 30s với mức phí chỉ 500đ,
dịch vụ 2friend Online cho phép chuyển tiền giữa các thuê bao từ mạng Internet.
Những dịch vụ này đang thu hút một lượng lớn người dùng và sẽ tạo nên một
thương hiệu, vũ khí riêng cho VinaPhone trong thời gian tới.
MobiFone:

có được một lượng khách hàng cố định và trung thành khi 3 nhà mạng dẫn đầu
gồm Vinaphone, MobiFone và Viettel đã “thâu tóm” gần hết thị phần này.Hiện giá
cước của các mạng di động đã tương đương nhau và cũng cận với mức giá sàn.Vì
vậy, chủ yếu các nhà mạng sẽ tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ như đưa ra
nhiều gói cước khuyến mãi tập trung cho từng đối tượng khách hàng cụ thể; đa
dạng hóa dịch vụ nội dung gia tăng tiện ích cho người dùng.
Có một thực tế là những mạng đến sau như Beeline, S-Fone, Vietnamobile sẽ rất
khó khăn nếu muốn có thêm khách hàng. Bởi đặc điểm Việt Nam chưa có quy
định cho phép người dùng khi thay đổi mạng di động vẫn được giữ nguyên số di
động của mình nên khó để khách hàng chọn lựa các nhà mạng đến sau. Vì vậy dù
có nổ lực đến đâu đi nữa thì các nhà mạng nhỏ hơn vẫn không thể nào ảnh hưởng
lớn đến ba nhà mạng VinaPhone, Viettel, MobiFone.
• Cuộc đua của ba nhà mạng lớn – doanh thu 100,000 tỷ đồng:
Theo kế hoạch ban đầu, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT(VinaPhone và
MobiFone ) đặt mục tiêu doanh thu cho 2010 là 94,000 tỷ đồng, tăng 20% so với
năm 2009. Lãnh đạo tập đoàn cho biết, năm 2009 hãng đạt doanh thu 78,600 tỷ
đồng, tăng 30% và lợi nhuận đạt khoảng 13,500 tỷ đồng. Bước sang năm 2010, thị
trường sẽ cạnh tranh gay gắt hơn, do vậy, VNPT chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng
doanh thu 20% và lợi nhuận trên 10%.
Page | 10
Còn Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel trong kế hoạch ban đầu chỉ đặt ra mốc
96,000 tỷ đồng, tăng trưởng 60% so với năm trước. Năm 2009 Viettel đạt được
doanh thu 60,000 tỷ đồng, thấp hơn VNPT 18,600 tỷ đồng và đạt lợi nhuận 10,000
tỷ đồng.
Nếu Viettel đạt được mục tiêu 96.000 tỷ đồng cũng đồng nghĩa vị trí số một trong
làng viễn thông mà VNPT giữ suốt nhiều năm qua sẽ bị "lật đổ".
Ngay sau khi Viettel công bố chỉ tiêu về doanh thu, VNPT cho biết hãng quyết
định điều chỉnh mục tiêu tăng thêm 6,000 tỷ đồng. Hãng đang quyết tâm giữ vững
vị trí số một với mục tiêu lần đầu tiên có được doanh thu 100.000 tỷ đồng và đồng
thời phấn đấu tối thiểu đạt lợi nhuận 15,000 – 16,000 tỷ đồng, nộp ngân sách

ĐỘC QUYỀN NHÓM
1.Tác động của ba nhà mạng Viettel, VinaPhone, MobiFone:
• Đối với các công ty viễn thông di động khác:
Sự liên kết củaVNPT (VinaPhone và MobiFone) và Viettel đã tác động rất lớn đối
với các nhà mạng nhỏ hơn. Trước kia,việc quản lý giá cước viễn thông chỉ áp dụng
với các doanh nghiệp chiếm thị phần khống chế để ngăn các doanh nghiệp này cản
trở sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp mới. Đây là điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp mới và không chiếm thị phần khống chế như Beeline và
Vietnamobile có cơ hội cạnh tranh.Vì vậy, nếu áp giá sàn di động ở mức cao, đó sẽ
là thách thức thực sự cho các doanh nghiệp nhỏ. Ở họ sẽ không có khác biệt gì so
với ba nhà mạng lớn kiatrong việc khuyến mại vì vậy rất khó khuyến kích khách
hàng sử dụng dịch vụ của mình. Khách hàng giảm dẫn đến lợi nhuận giảm đem đến
nguy cơ phá sản cho các công ty viễn thông nhỏ như Beeline, Vietnammobile…
• Đối với người sử dụng:
Từ năm 2000 số người sử dụng mạng điện thoại di động tăng nhanh và tăng liên
tục, nguyên nhân là do các mạng xuất hiện trước như VinaPhone, MobiFone,
Viettel đã có nhiều chiến lược như bán rẻ sim số đẹp, tăng rất nhiều đợt khuyến
mãi cho khách hàng như: nghe điện thoại được tặng tiền, nhân đôi giá trị thẻ nạp,
gọi 10 phút miễn phí…những điều đó đã kích cầu rất mạnh. Nhiều người xem điện
thoại di động là một phần cơ thể và họ chỉ duy trì một số duy nhất dể tiện cho việc
liên lạc và làm ăn của mình. Vì thế khi nhiều nhà mạng mới xuất hiện họ không
Page | 12
đoái hoài tới, cộng với việc đặt giá sàn và giảm khuyến mãi như hiện nay làm hầu
hết mọi người vẫn không thay đổi mạng cũ.
Tác động của độc quyền nhóm đối với người sử dụng rất dễ nhận ra,các nhà mạng
lớn ngay từ khi thành lập đã tung ra nhiều đợt khuyến mãi để thu hút nhiều người,
nhưng sau khi dùng một thời gian, người sử dụng không được hưởng các ưu đãi đó
nữa. Họ không thể đổi mạng mới mà vẫn giữ nguyên số cũ được vì ở nước ta
không cho phép. Trong thời buổi phát triển như hiện nay, mạng viễn thông di động
đã trở thành sản phẩm thiết yếu đối với mọi người, vì vậy độc quyền nhóm trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status