TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thu Giang
Lớp : Anh 6
Khoá : 43B - KT&KDQT
Giáo viên hướng dẫn : TS. Trịnh Thị Thu Hương
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
WTO
NHTM
Tổ chức Thương mại Thế giới
Ngân hàng thương mại
NHTMNN
Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTW
Ngân hàng Trung Ương
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
ATM
VN
M&A
VINASHIN
BIS
IMF
Máy rút tiền tự động
Việt Nam
Mua lại và sáp nhập
Tập đoàn đóng tàu Việt Nam
Ngân hàng thanh toán quốc tế
- ngân hàng 22
1. Mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng Citigroup 22
2. Mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng UOB 24
3. Mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Trung Quốc 26
4. Các bài học kinh nghiệm rút ra 27
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN TÀI
CHÍNH - NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 30
I. Khái quát về hệ thống ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế 30
1. Khái quát về hệ thống ngân hàng Việt Nam 30
2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến hệ thống ngân hàng Việt Nam 34
II. Sự cần thiết phải thành lập tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam 38
1. Thành lập tập đoàn tài chính - ngân hàng hiện nay là một tất yếu khách quan 38
2. Thành lập các tập đoàn tài chính - ngân hàng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh
của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam khi Việt Nam đã là thành viên của WTO 40
III. Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt
Nam 41
1. Mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng được lựa chọn ở Việt Nam 41
2. Các điều kiện xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam 43
2.1 Điều kiện từ bên ngoài 44
2.1.1. Điều kiện kinh tế xã hội 44
2.1.2. Môi trường pháp lí 45
2.1.3. Mức độ phát triển của thị trường dịch vụ tài chính 47
2.1.4. Cơ chế chính sách phát triển tập đoàn tài chính - ngân hàng 48
2.2. Điều kiện bên trong các ngân hàng 48
2.2.1. Mô hình tổ chức hoạt động 48
2.2.2. Tiềm lực tài chính 50
2.2.3. Khả năng cung ứng dịch vụ 55
2.2.4. Hệ thống thông tin và công nghệ ngân hàng 58
1
MỞ ĐẦU
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những
thành quả đáng tự hào mà công luận trong và ngoài nước đều phải ghi nhận.
Mức tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức cao, mọi mặt đời sống xã hội được
cải thiện rõ rệt. Từ một quốc gia trì trệ do hậu quả của bao cấp, Việt Nam đã
chuyển mình thành một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển cao trong
khu vực và thế giới.
Đó cũng là thời gian chúng ta chứng kiến sự đa dạng của hoạt động tài
chính ngân hàng và sự vươn lên cho phù hợp với các tiêu chuẩn chung của thế
giới. Mặc dù chưa phải là hoàn toàn, song sự ra đời và phát triển của các NHTM,
các định chế phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, công ty tài chính, công ty
chứng khoán… bước đầu tạo dựng những cơ sở cho thị trường tài chính hoạt
động. Hơn 1 năm sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức Thương mại Thế giới WTO, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã và đang
được kì vọng là sẽ tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong việc khai thông
những dòng chảy về vốn, đầu tư và các dịch vụ tài chính để phục vụ tăng trưởng
kinh tế ở mức cao và bền vững.
Tuy nhiên, xu hướng tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa cũng mang lại
những thuận lợi và khó khăn nhất định cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Vì trong nhiều năm qua, các ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam hoàn toàn
là các ngân hàng nhà nước, được nhà nước bao cấp cũng như bảo hộ hoạt động.
Song, với cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các ưu đãi này sẽ bị bãi bỏ. Để
cạnh tranh với các tập đoàn tài chính - ngân hàng quốc tế đã và sẽ vào Việt Nam,
các ngân hàng trong nước buộc phải xây dựng cho mình chiến lược kinh doanh
phù hợp với xu thế phát triển của các NHTM quốc tế, nếu không sẽ tụt hậu và
khó đứng vững trong cạnh tranh và phát triển ngay tại sân nhà.
Ngoài ra, để hội nhập quốc tế, các Tổng công ty nhà nước, những khách
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH
TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
I. Tổng quan về tập đoàn tài chính - ngân hàng
1. Khái niệm tập đoàn tài chính - ngân hàng
1.1. Khái niệm tập đoàn kinh tế
Tên gọi về tập đoàn nói chung, đã xuất hiện từ rất sớm khoảng nửa cuối thế kỉ
19, đầu thế kỉ 20 phổ biến như: “Cartel”, “Association”… và gần đây là “Cheabol”,
“Group”… , tất cả đều có chung một số nghĩa chính là liên minh, liên kết,
nhóm… Tất cả những liên minh như thế, khi nghiên cứu và dịch ra tiếng Việt,
chúng ta thông thường gọi chung một danh từ đó là “Tập đoàn”.
Vậy tập đoàn, hay còn gọi là tập đoàn kinh tế, cần được nhận dạng như thế nào?
Về cơ bản, chưa có định nghĩa chính thức và thống nhất về tập đoàn kinh tế,
song có thể hiểu rằng: Tập đoàn kinh tế là một hình thức tổ chức liên kết kinh tế.
Các tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những
ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một công ty
nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và
chiến lược phát triển [5].
Cần đặc biệt lưu ý đặc trưng có tính bản chất của tập đoàn kinh tế, đó phải là
một chỉnh thể, có các mối quan hệ liên kết được hình thành trên những nhu cầu thực
tế khách quan của các hoạt động kinh tế, là kết quả của quá trình phát triển của các
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thông qua các hình thức tích tụ hóa, chuyên
môn hóa và hợp tác ở trình độ cao nhằm mục đích tạo ra năng lực và hiệu quả hoạt
động cao hơn. Do vậy, nếu vô tình hay cố ý làm trái những điều mang tính quy luật
này để tạo ra các tập đoàn một cách hình thức bằng cách tập hợp hoặc gán ghép các
đơn vị thành viên trên cơ sở áp đặt bằng các mệnh lệnh hành chính thì nguy cơ thất
bại là rất cao.
4
Tập đoàn kinh tế thường là các tập đoàn xuyên vùng gồm nhiều hình thức sở
ở đó công ty mẹ là trung tâm nghiên cứu khoa học, công ty con là các đơn vị sản
xuất kinh doanh có nhiệm vụ ứng dụng kết quả nghiên cứu.
1.2. Khái niệm tập đoàn tài chính - ngân hàng
Tập đoàn tài chính - ngân hàng mang đầy đủ đặc thù của tập đoàn kinh tế nói
chung, có khác đây là các tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt và rất nhạy
cảm, đó là lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Do đó, tập đoàn tài chính - ngân hàng có
những nét riêng sau: (i) Đối tượng kinh doanh là các dịch vụ tài chính. (ii) Thực
hiện sự đa năng trong kinh doanh tiền tệ để giảm thiểu rủi ro, tăng khả năng tìm
kiếm lợi nhuận. (iii) Hình thức liên kết chủ yếu là liên kết tài chính trong tập đoàn,
không chỉ là liên kết hành chính.
Khái niệm về tập đoàn tài chính - ngân hàng ở các nước và khu vực khác nhau
cũng có những nét khác nhau, cụ thể:
Ở các nước thuộc liên minh châu Âu (EU), họ gọi tập đoàn tài chính - ngân hàng
là “financial conglomerate” và để được gọi như vậy phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Liên kết đó có ít nhất một công ty thực hiện các hoạt động về ngân hàng hoặc
chứng khoán và ít nhất một công ty thực hiện hoạt động về bảo hiểm.
Công ty thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm là hạt
nhân của tập đoàn, một cách cụ thể hơn, nghĩa là tỷ lệ tổng tài sản thuộc lĩnh vực tài
chính này trong bảng cân đối của tập đoàn phải lớn hơn 40%. Trong mỗi lĩnh vực
tài chính (ngân hàng/chứng khoán hay bảo hiểm), tỷ lệ trung bình về tài sản của nó
so với tổng tài sản trong tập đoàn phải lớn hơn 10% hoặc tổng tài sản của công ty
nhỏ nhất kinh doanh trong lĩnh vực tài chính phải lớn hơn 6 tỷ Euro [5].
Ở Mỹ, người ta gọi những tập đoàn tài chính - ngân hàng là “Financial
holding company”. Nó đơn thuần chỉ là một tổ chức mà trong đó một công ty được
nắm giữ những công ty khác cung cấp đa dạng những dịch vụ tài chính. Thực tế
6
không yêu cầu chỉ là mô hình công ty mẹ con mà còn là công ty thực hiện đồng thời
các hoạt động kinh doanh như ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.
Luật tài chính của Nhật quy định về tập đoàn tài chính - ngân hàng cũng tương
thu
Lợi
nhuận
Tổng tài
sản
GT thị
trƣờng
1
HSBC Holdings (Anh)
146,50
19,13
2.348,98
180,81
2
Bank of America (Mỹ)
119,19
14,98
1.715,75
176,53
3
JPMorgan Chase (Mỹ)
116,35
15,37
1.562,15
136,88
4
Royal Bank of Scotland (Anh)
108,45
14,62
3.807,51
77,46
10
Mitsubishi UFJ Financial ( Nhật)
49,49
7,50
1.591,56
98,14
(Nguồn: www.forbes.com)
2. Đặc trưng cơ bản của tập đoàn tài chính - ngân hàng
Qua nghiên cứu các tài liệu, có thể thấy được các đặc trưng của tập đoàn tài
chính - ngân hàng như sau:
2.1. Tổng tài sản và vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của các tập đoàn tài chính - ngân hàng khá
lớn, chiếm tỷ lệ lớn trong GDP.
Theo bảng xếp hạng của Forbes tính đến 08/02/2008, trong 2000 tập đoàn lớn
nhất thế giới thì có tới 315 tập đoàn tài chính - ngân hàng với tổng tài sản 58.300 tỷ
USD và lợi nhuận 398 tỷ USD. Trong số những tập đoàn này phải kể đến tập đoàn
ngân hàng Hồng Kông - Thượng Hải (HSBC). Ngân hàng của Anh năm nay đã
vượt qua đối thủ Mỹ Citigroup để trở thành tập đoàn tài chính - ngân hàng lớn nhất
thế giới xét về tài sản, đồng thời là một trong số 5 doanh nghiệp hoạt động tốt nhất
trong lĩnh vực ngân hàng toàn cầu.
Trong 5 năm qua, HSBC đạt mức tăng trưởng doanh thu hàng năm 26% và
tăng trưởng lợi nhuận ròng 31%. Theo giới phân tích, mức tăng trưởng này thường
8
chỉ có được ở một ngân hàng khu vực đang phát triển, thay vì một ngân hàng với
10.000 văn phòng tại 83 quốc gia trên thế giới, và khối tài sản trị giá hơn 2.300 tỷ
USD như HSBC.
Bảng 1.2: Tỷ lệ đóng góp tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của
các tập đoàn tài chính vào GDP tại một số nƣớc Châu Á
sao các tập đoàn do ngân hàng đứng đầu là phổ biến.
Trong một số trường hợp, các công ty sở hữu trung gian được thành lập để
quản lý các khu vực hoặc các vùng cụ thể. Mục đích của vấn đề này là giảm thiểu
chi phí quản lý đối với các vùng lãnh thổ liền kề và quản lý các dịch vụ tài chính
tương tự, hoặc giải quyết các vấn đề liên quan đến luật pháp, các chuẩn mực kế toán
và thuế. 9
Bảng 1.3: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của các loại hình
tập đoàn tài chính - ngân hàng
Loại hình
Ngân hàng đa năng
(universal banking)
Công ty mẹ con
(Parent-subsidiary
relationship)
Công ty sở hữu tài
chính (Financial
holding company)
Mô hình
ngân hàng và gián
tiếp điều hành công
ty bảo hiểm, chứng
khoán thông qua
quyền nắm giữ cổ
phần tại các công ty
này
Ban điều hành thực hiện
quyền nắm giữ cổ phần
trong tất cả các công ty
con
10
Mối quan
hệ về vốn
giữa các
công ty con
Không có qui định riêng về
vốn giữa các công ty con
Các công ty con
(ngân hàng, chứng
khoán, bảo hiểm)
nắm giữ vốn chủ sở
hữu
Các công ty con (ngân
hàng, chứng khoán, bảo
hiểm) nắm giữ vốn chủ
sở hữu
Việc cách
dịch vụ đặc biệt phản ánh lịch sử phát triển cũng như chiến lược quản lý của họ. Các
dịch vụ này xuất phát từ mục tiêu là tập trung vào khách hàng bao gồm các công ty
lớn (bán buôn) và các cá nhân (bán lẻ) hoặc là hoạt động cả trong nước và quốc tế.
Nhìn chung, xu hướng này nhấn mạnh tới các đại lý bán lẻ và hoạt động kinh doanh
quốc tế. Tuy nhiên, những dịch vụ này cũng có xu hướng biến đổi theo thời gian.
11
2.4. Sự thành lập tập đoàn tài chính - ngân hàng
Sự thành lập và mở rộng tập đoàn tài chính - ngân hàng được thực hiện bởi
các hoạt động sáp nhập và mua lại, cụ thể là châu Âu và Mỹ từ những năm 90. Ví
dụ: nghiên cứu của nhóm G10 đã chỉ ra rằng trong 13 quốc gia thuộc G10 cộng với
Tây Ban Nha và Úc thì có tới 1.376 trong số 7.304 là các giao dịch sáp nhập và mua
lại liên quan đến các tổ chức tài chính - ngân hàng là giao dịch liên ngành từ những
năm 1990-1999, chiếm 20% tổng các giao dịch.
2.5. Đặc điểm theo quốc gia
Tập đoàn tài chính - ngân hàng tại những nước khác nhau có những đặc điểm
riêng biệt mang đặc trưng của quốc gia đó. Ví dụ, tại Mỹ, các tập đoàn tài chính -
ngân hàng tham gia vào cả kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, tuy
nhiên trong lĩnh vực bảo hiểm thì phần lớn các tập đoàn tài chính -ngân hàng chỉ
bán các sản phẩm bảo hiểm mà không tham gia bảo lãnh bảo hiểm. Gần đây, một số
tập đoàn tài chính - ngân hàng đã bán các công ty bảo hiểm mà trước đây họ mua
lại. Tại Nhât, theo luật, các ngân hàng, công ty chứng khoán tham gia vào lĩnh vực
của nhau thông qua các công ty con, các tập đoàn tài chính - ngân hàng thường do
ngân hàng đứng đầu và không một tập đoàn nào có công ty bảo hiểm. Tại Châu Âu,
từ cuối những năm 1980, xu hướng hợp nhất giữa ngân hàng và bảo hiểm hình
thành một loạt tập đoàn ngân hàng bảo hiểm, đem lại lợi nhuận từ việc kinh doanh
“dịch vụ toàn diện”.
Tại Mỹ, danh mục các tổ chức kinh doanh dịch vụ tài chính phi ngân hàng mà
tập đoàn tài chính - ngân hàng được phép sở hữu và kiểm soát bao gồm:
1. Công ty tài chính
được chặt chẽ hơn cả về chiều rộng và chiều sâu.
13
Ba là, ngoài phần vốn có tính chi phối của công ty mẹ đối với các công ty con
thì quan hệ tài chính giữa công ty mẹ và công ty con chủ yếu là quan hệ hỗ trợ, tạo
điều kiện cho công ty con vay vốn từ nguồn vốn chung của tập đoàn và các công ty
con khác đều được hưởng lãi suất từ khoản vay này tương ứng với tỷ lệ vốn góp
trong tập đoàn. Nói chung, các tập đoàn luôn tồn tại một công ty tài chính chung
của tập đoàn để thực hiện chức năng điều phối tài chính và tăng cường vai trò của
công ty để chống lại khả năng bị tấn công thôn tính của tập đoàn.
Thứ tư, trong mô hình tập đoàn công ty mẹ con, công ty mẹ không chỉ đóng
vai trò tập trung mà còn có chức năng điều hòa nguồn vốn giữa các công ty con
nhằm đạt hiệu quả tối đa. Việc dịch chuyển vốn giữa công ty mẹ và công ty con và
ngược lại cũng được tính lãi suất theo qui định của tập đoàn. Tuy nhiên, các công ty
con lại hoàn toàn có quyền chủ động sử dụng vốn tự có của mình trong sản xuất
kinh doanh, tập đoàn không có quyền can thiệp vào phần lợi nhuận thu được từ
nguồn vốn này.
Thứ năm, việc tăng qui mô và sức mạnh của tập đoàn chủ yếu được thông
qua việc tích lũy của cả tập đoàn.
Cuối cùng, vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng tỏ rõ vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo quĩ đạo hoạt động cho các công ty con và định hướng
chung của cả tập đoàn.
II. Các mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng trên thế giới
1. Mô hình ngân hàng đa năng (Universal banking)
Ngân hàng đa năng, nghĩa là trong một ngân hàng bao gồm tất cả các hoạt
động kinh doanh tài chính của tập đoàn. Mô hình này rất phổ biến ở châu Âu như
Tập đoàn Bancassurance ở Pháp, tập đoàn Allianz ở Đức….Cấu trúc tổ chức của
ngân hàng đa năng được mô tả như sau:
14
doanh trong cả ba lĩnh vực (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán).
2. Mô hình công ty mẹ - con (Parent - subsidiary relationship)
Mô hình công ty mẹ - con là mô hình theo đó công ty mẹ là công ty nắm giữ
cổ phần chi phối các công ty con và đóng vai trò như là hạt nhân liên kết. Mô hình
này và mô hình công ty sở hữu tài chính là 2 mô hình phổ biến tại Mỹ, Nhật và các
nước phát triển, như: Citigroup (Hoa Kỳ), UOB (Singapore), BNP Paribas
(Pháp)…Mô hình công ty mẹ - con được tổ chức theo cấu trúc như hình vẽ:
Mô hình 1.2: Công ty mẹ - con (Parent - subsidiary relationship) (Nguồn: Tài liệu hội thảo khoa học về xây dựng mô hình tập đoàn tài chính -ngân
hàng ở Việt Nam tháng 8/2006 - Ngân hàng Nhà nước)
Đặc điểm của mô hình công ty mẹ - con:
Các cổ đông của ngân hàng quản lý trực tiếp ngân hàng nhưng không quản lý
trực tiếp hoạt động của công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm. Còn lãnh đạo các
ngân hàng thì quản lý trực tiếp hoạt động của công ty bảo hiểm và công ty chứng
khoán. Do đó, với mô hình này vốn của ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty
bảo hiểm được quản lý một cách độc lập nhưng vẫn có thể xảy ra rủi ro dây chuyền.
16
Ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm nắm giữ vốn chủ sở hữu. Vì
thế, việc khoanh rủi ro giữa các công ty con có thể ngăn ngừa lan truyền được ở
mức nhất định. Những tác động của an toàn mạng lên hoạt động của ngân hàng mẹ
có thể tác động tới các công ty con.
(Nguồn: Tài liệu hội thảo khoa học về xây dựng mô hình tập đoàn tài chính -ngân
hàng ở Việt Nam tháng 8/2006 - Ngân hàng Nhà nước)
Đặc điểm của công ty sở hữu tài chính:
Các cổ đông gián tiêp điều hành hoạt động của các công ty con (hoạt động
ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán… ) thông qua công ty mẹ. Ban điều hành của
công ty mẹ thực hiện việc điều hành toàn bộ các hoạt động của tập đoàn thông qua
nắm giữ cổ phần chi phối trong tất cả các công ty con. Ngân hàng, công ty chứng
khoán, công ty bảo hiểm….nắm giữ vốn chủ sở hữu.
18
Việc hạn chế rủi ro lan truyền giữa các công ty con trong mô hình này là hết
sức dễ dàng. Các công ty con đều có mức độ độc lập tương đối với nhau cũng như
với công ty mẹ và nói chung là ít chịu ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau.
III. Điều kiện và hình thức xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng
1. Điều kiện xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng
Về lý luận và thực tiễn, để hình thành tập đoàn tài chính - ngân hàng phải có
hai nhóm điều kiện: điều kiện từ môi trường bên ngoài và điều kiện nội tại trong
mỗi ngân hàng.
1.1. Điều kiện từ môi trường bên ngoài
Hình thành tập đoàn kinh tế nói chung và tập đoàn tài chính - ngân hàng nói
riêng là quá trình diễn ra theo qui luật kinh tế khách quan, mệnh lệnh hành chính
không tạo ra được. Thực tế đã chứng minh sự can thiệp của nhà nước chỉ là điều
Vốn chủ sở hữu và tiềm lực tài chính lớn mạnh đóng vai trò sống còn trong việc duy trì
các hoạt động của ngân hàng và đảm bảo cho ngân hàng khả năng phát triển lâu dài.
Đây là tiền đề quan trọng đầu tiên có tính chất quyết định đến việc mở ra đa dạng các
lĩnh vực kinh doanh khác nhau của tập đoàn tài chính - ngân hàng. Vốn tạo niềm tin
cho công chúng và là sự đảm bảo đổi với chủ nợ về sức mạnh tài chính của tập đoàn,
cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển các hình thức dịch vụ mới,
tạo điều kiện đầu tư cho những chương trình mới và trang thiết bị hiện đại….
2. Hình thức xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng
Hiện nay, có 7 hình thức để xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng:
1. Các ngân hàng hạng trung kết hợp với nhau
2. Các ngân hàng hạng lớn kết hợp với nhau
3. Ngân hàng hạng lớn kết hợp với một/vài ngân hàng hạng trung
4. Ngân hàng hạng lớn tự vươn lên thành tập đoàn (tăng vốn qua phát hành cổ
phiếu, thu nạp các tổ chức phi ngân hàng….)