HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.
3.1. Sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu trong quá trình hội
nhập.
Sở dĩ chúng ta phải hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu trước khi tham gia hội nhập kinh
tế quốc tế bởi vì chính sách thuế nhập khẩu của nước ta còn tồn tại nhiều bất cập.
Thứ nhất, vấn đề đảm bảo nguồn thu cho NSNN từ thuế nhập khẩu trong tương lai. Bởi vì, khi
tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA, Việt Nam phải thực hiện việc cắt giảm thuế nhập khẩu xuống còn
từ 0%-5% theo quy định của Hiệp định CEPT. Thêm vào đó là việc Việt Nam sẽ phải cắt giảm nhiều dòng thuế nhập
khẩu trong nỗ lực trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO, tất yếu sẽ dẫn đến sự hạn hẹp nguồn
thu từ thuế nhập khẩu- vốn dĩ là loại thuế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu NSNN từ thuế.
Thứ hai, phương pháp sử dụng giá tối thiểu mà Việt Nam vẫn đang áp dụng đối với một số mặt hàng là không còn
phù hợp khi thực hiện hoàn toàn việc xác định trị giá Hải quan theo GATT- WTO.
Thứ ba, vấn đề được đặt ra cho việc hoàn thiện Luật thuế nhập khẩu là làm thế nào để bảo hộ các ngành sản xuất
trong nước trước sự thâm nhập ào ạt của hàng hoá nhập khẩu, ngành sản xuất nào cần được bảo hộ, bảo hộ ở mức
nào, thời gian bảo hộ là bao lâu và ngành sản xuất nào không cần bảo hộ.
Hiện nay, chích sách thuế nhập khẩu của Việt Nam còn thiếu một số công cụ bảo hộ như hạn ngạch thuế
quan, thuế tuyệt đối… trong khi các công cụ bảo hộ này hoàn toàn có thể thay thế cho biện pháp áp dụng Bảng gia
tối thiểu để tính thuế nhập khẩu. Như vây, công cụ mà chúng hiện ta sử dụng không còn phù hợp với thong lệ quốc
tế. Khi tham gia và hoàn thành AFTA hay triển vọng là gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO trong tương lai
gần, hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam chỉ phải chịu mức thuế suất thuế nhập từ 0%-5%, với ưu thế về giá rẻ, chất
lượng tốt, mẫu mã đẹp sẽ tực tiếp đe doạ đến các ngành sản xuất trong nước, đặc biệt là các ngành công nghiệp còn
non trẻ.
Thứ tư, Luật thuế nhập còn có những điểm hạn chế về số lượng cũng như mức thuế đánh vào các dòng hàng nhập
khẩu.
Thứ năm, yêu cầu về việc đơn giản hoá, minh bạch hoá hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thuế nhập khẩu trở
thành vấn đề cấp thiết đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nhằm giảm thiểu các chi phí hành
thu, đồng thời nâng cao hiệu suất quản lý thuế.
Thứ sáu, Luật thuế nhập khẩu cần được bổ sung các loại thuế mới đang được áp dụng phổ biến trên thế giới hiện
nay, chẳng hạn như thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, hạn nghạch thuế quan…
Th by, v chớnh sỏch min, gim thu nhp khu i vi mt s i tng c bit nh an ninh, quc phũng, giỏo
Thứ ba, điều chỉnh tăng hợp lý thuế suất đối với các mặt hàng trước đây chịu mức thuế suất quá thấp.
Thứ tư, thực hiện việc cắt giảm thuế nhập khẩu một cách hợp lý, đặc biệt là việc cắt giảm theo lộ trình đã cam kết.
3.2.2. Hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu đảm bảo bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước
Cần thực hiện bảo hộ sản xuất trong nước theo hướng có chọn lọc, có hiệu
quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Để có thể bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước, chúng ta cần tiến hành:
Thứ nhất, tiến hành xây dựng lại Biểu thuế nhập khẩu.
Sửa đổi Biểu thuế nhập khẩu theo hướng bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện, cần công bố lịch trình dài hạn để các
doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án kinh doanh cho riêng mình.
Thứ hai, xây dựng hệ thống các điều kiện bảo hộ hợp lý.
Thứ ba, sửa đổi danh mục thuế chi tiết và cụ thể hơn.
Thứ tư, tăng cường sử dụng những biện pháp bảo hộ khác.
3.2.3.Tăng cường hơn nữa công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Thứ nhất, cải thiện đời sống cho nhân dân các vùng biên giới.
Thứ hai, làm tốt công tác tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng.
Thứ ba, tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Thứ tư, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan Nhà nước.
Thứ năm, hoàn chỉnh hệ thống chính sách pháp luật.
3.2.4. Hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu phải tiến tới phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế
Để đảm bảo sự tương thích của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với thông lệ chung, tận dụng cơ
hội, hạn chế các bất lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, đàm phán gia nhập WTO nói riêng, chúng ta phải
sửa đổi, bổ sung pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với các cam kết và tập quán thương mại quốc tế.
Thứ nhất, xây dựng mức thuế suất hợp lý vừa đảm bảo thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế, vừa
phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước.
a. Thực hiện tăng thuế suất bình quân của Biểu thuế nhập khẩu.
Thực hiện tăng thuế suất bình quân của Biểu thuế nhập khẩu bằng cách tăng dần thuế nhập khẩu của các
mặt hàng có mức thuế nhập khẩu dưới 5% lên mức cao hơn, thực hiện thu trên diện rộng nhằm bao quát hết nguồn
thu, đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất sự giảm thu NSNN do cắt giảm thuế nhập khẩu để thực hiện các cam kết
quốc tế.
b. Bổ sung hình tức thuế tuyệt đối và hạn ngạch thuế quan.
dưới Luật bao gồm: các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị và hướng dẫn thực hiện. Đó là những “núi” công việc không
hề nhỏ mà chúng ta phải làm. Tất cả được coi như là một cuộc đua đòi hỏi chúng ta phải tăng tốc, bởi vì quỹ thời
gian từ nay đến lúc gia nhập WTO không còn nhiều.
3.3. Giải pháp thực hiện
3.3.1. Nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, cần xác định hệ số bảo hộ hiệu quả cho từng ngành kinh tế theo
các cấp độ bảo hộ khác nhau, làm cơ sở để đưa ra mức thuế suất bảo hộ hợp
lý.
Chúng ta cũng biết rằng mọi sự xoá bỏ hay duy trì bảo hộ thị trường trong
nước đều có những mặt trái của nó. Nếu bảo hộ quá lâu theo kiểu khép kín nền
kinh tế, các nhà sản xuất sẽ ỷ lại và trì trệ. Ngược lại, nếu xoá bỏ ngay thì có thể
dẫn đến triệt tiêu sản xuất trong nước và giao thị trường trong nước cho hàng
hoá nước ngoài. Do đó, sự bảo hộ thị trường trong nước trong xu thế tự do hoá
thương mại ở Việt Nam buộc phải có một số nguyên tắc cơ bản:
- Chỉ bảo hộ những mặt hàng mà sản xuất trong nước đáp ứng nhu cầu tăng
trưởng kinh tế, có tiềm năng phát triển trong tương lai, tạo được nguồn thu ngân
sách và giải quyết lao động;
- Việc bảo hộ đó được thống nhất cho mọi thành phần kinh tế, kể cả các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
- Chính sách bảo hộ được quy định trong từng trường hợp, từng thời kỳ và
không bảo hộ vĩnh viễn cho bất kỳ hàng hóa nào;
- Bảo hộ thị trường trong nước nhưng phải phù hợp với tiến trình tự do hoá
thương mại và các hiệp định quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết.
Để thực hiện mục tiêu trên, chúng ta cần phân loại các ngành kinh tế theo
các mức độ bảo hộ cao, thấp khác nhau trên cơ sở tính toán hệ số bảo hộ hiệu quả
cho từng ngành có tính đến những cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu và tập quán
thương mại quốc tế.
Để hiệu quả, chúng ta chọn khoảng từ 5 đến 10 ngành kinh tế thật sự có thế
mạnh, cần đầu tư phát triển trong tương lai và xây dựng mức độ bảo hộ cao nhất
đối với các ngành này. Mức thuế bảo hộ và thời gian bảo hộ cần được lựa chọn