Lời mở đầu
Ngày nay, các thông tin về tài chính doanh nghiệp đang ngày càng trở nên
cần thiết và hữu ích cho các đối tượng không chỉ bên trong doanh nghiệp mà
còn cả bên ngoài doanh nghiệp để ra các quyết định tối ưu. Trong một nền
kinh tế mà nguồn vốn chủ yếu huy động qua thị trường vốn thì vai trò của các
nhà đầu tư được đặc biệt quan tâm. Việc cung cấp các thông tin tài chính minh
bạch cho các nhà đầu tư góp phần giảm thiểu rủi ro do “ thông tin không cân
xứng” và công cụ truyền đạt của doanh nghiệp đến các nhà đầu tư về tình hình
tài chính của mình là các báo cáo tài chính. Việc lập báo cáo theo đúng chuẩn
mực và các quy định mới chỉ đảm bảo được tính tuân thủ nhưng chưa phát huy
được vai trò của kế toán như là một “ngôn ngữ của thế giới kinh doanh”. Để
đáp ứng được các yêu cầu này người làm kế toán phải nắm các quy định hiện
hành về kế toán tài chính để không chỉ tuân thủ đúng mà còn phải biết vận
dụng các quy định này một cách linh hoạt nhằm bảo đảm báo cáo tài chính
cung cấp những thông tin hữu ích nhất cho các nhà đầu tư. Trong quá trình lập
báo cáo tài chính, các công ty thường sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán có
ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh trong kỳ.
Ước tính kế toán là một quá trình xét đoán dựa trên những thông tin tin cậy
nhất và mới nhất tại thời điểm đó. “Việc sử dụng các ước tính là một phần
quan trọng của việc lập báo cáo tài chính và không làm mất đi độ tin cậy của
báo cáo tài chính”_ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18. Việc trích lập dự
phòng phải thu để đảm bảo nguyên tắc thận trọng trong kế toán vẫn còn nhiều
mới mẻ đối với các doanh nghiệp và việc áp dụng chế độ kế toán trích dự
phòng này vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Nhận thức được tầm quan
trọng của việc trích lập dự phòng phải thu em chọn đề tài “Bàn về chế độ hạch
toán dự phòng phải thu khó đòi” để hiểu rõ hơn vấn đề cũng là để đề xuất một
số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định về trích lập dự phòng.
1
Đề án được chia làm 3 phần:
Phần I: Hạch toán dự phòng phải thu theo chế độ kế toán Việt Nam hiện
hành
giảm giá, chiết khấu, các dịch vụ chăm sóc khách hàng sau khi bán hàng hay
thực hiện cho thanh toán muộn. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp đang thực
hiện mục tiêu tăng doanh thu để tăng thị phần hay các doanh nghiệp mới thành
lập hoặc mới xâm nhập thị trường thì chính sách bán chịu hoặc thu tiền sau khi
giao hàng càng được ưu tiên thực hiện. Doanh thu bán chịu trong doanh nghiệp
phát sinh sẽ làm tăng khoản nợ phải thu, điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp
cho phép khách hàng thanh toán tiền trong trương lai đối với hàng hoá dịch vụ
đã được giao.
Khi doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu sẽ làm phát sinh chi phí và
lợi ích. Lợi ích chủ yếu là tăng doanh thu, tăng thị phần, tăng uy tín và cuối cùng
là tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nhưng cũng làm cho doanh nghiệp bị chiếm
dụng vốn, tốc độ thu hồi vốn chậm, hiệu quả sử dụng vốn không cao. Ngoài ra,
doanh nghiệp còn bị mất một khoản chi phí nếu phát sinh khoản nợ phải thu khó
đòi - Số tiền mà một vài khách hàng nợ không thể hoặc không sẵn lòng chi trả.
Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp có nên hay không thực hiện chính sách bán chịu
và thực hiện như thế nào? Quyết định của nhà quản trị được dựa trên cơ sở cân
3
đối giữa lợi ích và chi phí khi thực hiện chính sách bán chịu. Nói cách khác,
doanh nghiệp nên thực hiện chính sách bán chịu chỉ khi nào thu nhập tăng thêm
từ doanh thu bán chịu tăng nhanh hơn chi phí bán chịu.
Kế toán doanh nghiệp thường xác định những khoản chi phí chủ yếu cho việc
bán chịu khoản nợ phải thu khó đòi như là một khoản chi phí khi doanh nghiệp
lập dự phòng phải thu khó đòi. Văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn doanh
nghiệp lập dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi có hiệu lực hiện nay là chuẩn
mực số 18 và thông tư 13. Theo đó:
Một khoản dự phòng: Là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc
thời gian.
Dự phòng nợ phải thu khó đòi: Là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các
khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể
không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán.
kinh doanh và đầu tư.
2. Quy định chung về trích lập dự phòng phải thu khó đòi
Dự phòng nợ phải thu khó đòi được lập và hoàn nhập vào thời điểm cuối kỳ
kế toán năm. Trường hợp doanh nghiệp được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng
năm tài chính khác với năm dương lịch (bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc 31/12
hàng năm) thì thời điểm lập dự phòng là ngày cuối cùng của năm tài chính.
5
Riêng đối với các doanh nghiệp niêm yết phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ
thì được trích lập và hoàn nhập dự phòng cả thời điểm lập báo cáo tài chính giữa
niên độ. Doanh nghiệp phải lập Hội đồng thẩm định để xác định mức trích lập dự
phòng.
2.1. Đối tượng và điều kiện lập dự phòng
Đối tượng lập dự phòng là các khoản nợ phải thu đảm bảo các điều kiện sau:
- Khoản nợ phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về số
tiền còn nợ, bao gồm: Hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng,
cam kết nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác. Các khoản không đủ căn cứ
xác định là nợ phải thu phải xử lý như một khoản tổn thất.
Điều kiện này đảm bảo rằng các khoản nợ là thực sự phát sinh, có căn cứ rõ
ràng, tránh trường hợp doanh nghiệp lợi dụng việc lập dự phòng để khai tăng chi
phí. Ngoài ra, cũng là căn cứ pháp lí để tính mức trích lập dự phòng theo quy
định.
- Một khoản nợ phải thu không phải lúc nào cũng được lập dự phòng mà phải
có đủ các điều kiện để trích lập dự phòng, hoặc:
+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế
ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác.
+ Hoặc nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế
(các công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng ...) đã lâm vào
tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn,
đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã
chết.
khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi. Thông
tư 13 quy định mức trích lập cụ thể như sau:
- Đối với nợ phải thu quá hạn thanh toán, mức trích lập dự phòng:
+ 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm.
+ 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.
+ 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.
- Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm
vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn,
đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án ...
thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được để trích lập dự phòng.
Sau khi lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp tổng
hợp toàn bộ khoản dự phòng các khoản nợ vào bảng kê chi tiết để làm căn cứ
hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp. Dựa vào bảng kê chi tiết kế toán
xác định mức dự phòng phải trích lập. Nếu:
- Số dự phòng phải trích lập bằng số dư dự phòng nợ phải thu khó, thì doanh
nghiệp không phải trích lập;
- Nếu số dự phòng phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu
khó đòi, thì doanh nghiệp phải trích bổ sung vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
8
- Nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu
khó đòi, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần chênh lệch vào thu nhập khác.
Giá trị tổn thất thực tế của khoản nợ không có khả năng thu hồi (là những
khoản nợ quá hạn từ 3 năm trở lên) doanh nghiệp sử dụng nguồn dự phòng nợ
phải thu khó đòi, quỹ dự phòng tài chính (nếu có) để bù đắp, phần chênh lệch
thiếu hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp. Mức tổn thất thực tế của
các khoản nợ không có khả năng thu hồi là khoản chênh lệch giữa nợ phải thu
ghi trên sổ kế toán và số tiền đã thu hồi được (do người gây ra thiệt hại đền bù,
do phát mại tài sản của đơn vị nợ hoặc người nợ, do được chia tài sản theo quyết
định của toà án hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác).
Các khoản nợ phải thu sau khi đã có quyết định xử lý, doanh nghiệp phải theo
lập, mọi khoản dự phòng phải thu khó đòi của đơn vị phải được kế toán chi tiết
theo từng đối tượng khách hàng, không được bù trừ khoản dự phòng của khách
hàng này với khách hàng khác.
Kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi phải ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy
đủ và chính xác, rõ ràng các khoản nợ phải thu theo từng đối tượng, thời hạn của
từng đối tượng làm căn cứ để trích lập dự phòng nợ phải thu. Khi đã lập dự
phòng, hoặc xoá sổ khoản phải thu kế toán vẫn phải theo dõi chi tiết đến từng đối
10
tượng công nợ, vẫn phải có các biện pháp đòi nợ do các khoản nợ không thu hồi
được gây thất thoát tài sản của doanh nghiệp.
3.2. Tài khoản sử dụng
Để theo dõi tình hình trích lập và hoàn nhập dự phòng nợ phải thu khó đòi, kế
toán sử dụng tài khoản 139 “Dự phòng phải thu khó đòi” _ Đây là tài khoản điều
chỉnh của tài khoản 131 “Phải thu khách hàng”. Tài khoản điều chỉnh là tài
khoản được sử dụng để tính toán lại chỉ tiêu đã được phản ánh ở các tài khoản cơ
bản nhằm cung cấp số liệu xác thực về tình hình tài sản tại thời điểm tính toán.
Kết cấu của tài khoản 139 như sau:
TK 139
- Phản ánh số dự phòng nợ phải
thu khó đòi đã sử dụng trong kì.
- Hoàn nhập dự phòng phải thu
khó đòi không dùng đến
Trích lập dự phòng phải thu khó
đòi cho kì kế toán tới
Dự phòng phải thu khó đòi hiện còn
3.3. Phương pháp hạch toán
- Cuối niên độ kế toán, căn cứ vào mức lập dự phòng nợ phải thu khó đòi
được phép trích theo quy định, ghi:
Nợ TK 642 – Chi phí quản lí doanh nghiệp
Có TK 139 (chi tiết từng khoản) – Dự phòng phải thu khó đòi